Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

06 tháng 3 2010

Phản ứng cúa một số mạng Trung Quốc trước việc quốc tế hóa Biển Đông

Không ai lạ gì chủ nghĩa dân tộc cực đoan là phương thuốc mà nhà nước Trung Quốc luôn đem ra dùng để cứu chữa những vết thương trong nội tình nước họ. Nhưng giữa thời buổi toàn cầu hóa này mà lại trắng trợn hô hào làm cướp biển đối với một nước "anh em" cùng chung ý thức hệ, một nước mà mình từng nêu nguyên tắc chung sống ngọt xớt "16 chữ vàng", thì kể cũng lạ thay. Tuy vậy, bài viết trên trang mạng Hoàn cầu mà nhà nghiên cứu Dương Danh Dy tóm lược dưới đây cũng để lòi một cái đuôi, cho thấy tâm lý canh cánh sẵn có từ lâu của ông bạn láng giềng phương Bắc. Kể từ khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, "anh Hai" bao giờ cũng lo sợ Việt Nam ngả hẳn sang phía Mỹ. Cho nên, trong những lời hùng hổ đòi đánh chiếm ngay biển đảo của nước ta, cái đuôi "kiềng Mỹ" vẫn lộ ra như đuôi con hồ ly trong truyện truyền kỳ.


Bauxite Việt Nam
Vùng biển "lưỡi bò" Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền của họ. - Ảnh: tuoitre.com.vn


Cuối tháng 11 năm 2009, Học Viện Ngoại giao, và Hội Luật gia Việt Nam đồng tổ chức hội thảo khoa học: "Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển ở khu vực". Trong số 150 đại biểu tham dự cuộc hội thảo này, có 54 đại biểu đến từ 22 nước và vùng lãnh thổ. Đây là cuộc hội thảo quốc tế quan trọng lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam của những nhà nghiên cứu hàng đầu về Biển Đông ở trong và ngoài nước. Với tinh thần thẳng thắn, khách quan xây dựng và cầu thị, các học giả đã đưa ra nhiều nhận định, đánh giá, phương án giải quyết vấn đề …

Điều đáng chú ý là mặc dù có tới 6 đại biểu tham gia hội thảo với 4 bản tham luận, nhưng dường như Trung Quốc cố tình giảm nhẹ tầm quan trọng của cuộc hội thảo này, và trước một số lời "trực tiếp nhằm vào Trung Quốc" của một số đại biểu quốc tế tại hội thảo, các đạị biểu Trung Quốc hầu như không đáp lại và giữ một thái độ khá ôn hòa…

Thế nhưng sau khi cuộc hội thảo kết thúc, các phương tiện truyền thông Trung Quốc lập tức lên tiếng, nhưng họ hầu như không "bài bác chống đỡ, phê phán…" một số luận điểm trực tiếp nhằm vào họ như: "Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa", " đường lưỡi bò của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý", " Thực tiễn địa chính trị của khu vực cùng tồn tại trong cái ao của Trung Quốc" v v. của các đại biểu quốc tế đọc trong hội thảo mà chỉ nhằm vào mục tiêu: lên án Việt Nam là người "đầu têu ra" chuyện quốc tế hóa Biển Đông và tỏ quyết tâm chống lại đến cùng.

Không những thế, gần đây họ cón tỏ thái độ, có thể nói là "cực lỳ hiếu chiến và nguy hiểm ". Xin trân trọng giới thiệu:

"Mạng Hoàn cầu" ngày 7/2/2010 viết: cùng với việc áp dụng chính sách mới trong tranh chấp tại Biển Đông của Việt Nam, vấn đề Biển Đông đang đứng trước xu thế phức tạp hóa. Việt Nam đang "lặng lẽ" nhưng "ra sức" thúc đẩy "quốc tế hóa" vấn đề Biển Đông.

Sách lược "quốc tế hóa" mà Việt Nam áp dụng là liên hiệp với các nước nhỏ Đông Nam Á để nhằm giành được ưu thế trong đàm phán với Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải nhượng bộ.

Từ đầu năm đến nay, ngoài việc bổ nhiệm Chủ tịch quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thể hiện "chủ quyền", bắt ngư dân Trung Quốc, không ngừng gia tăng xây dựng sức mạnh quân đội ra, gần đây Việt Nam còn kiến nghị các nước thành viên Asean rằng Asean sẽ là một tập đoàn quốc gia tiến hành đàm phán với Trung Quốc nhằm chống lại đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc

Việc Việt Nam mời 54 học giả của 22 nước tham gia cuộc hội thảo về Biển Đông nói trên, hiển thị nguy cơ này đang leo thang, vấn đề Biển Đông đang phát triển theo xu thế "quốc tế hóa" mà Việt Nam hy vọng.

Trước tình hình đó, Trung Quốc không thể chỉ nhẫn nhịn và kháng nghị. Biện pháp tốt nhất để hóa giải nguy cơ tại Biển Đông là nhằm thẳng vào kẻ cầm đầu, thực thi chiến thuật "muốn bắt giặc phải bắt vua trước" kiên quyết đánh Việt Nam, bắt vua giặc Việt Nam trước, trấn áp các cường đạo nhỏ khác, rồi giải quyết triệt để nguy cơ Biển Đông.

Hiện nay, muốn đối phó với Việt Nam, muốn từ mặt quân sự đánh bại Việt Nam đòi lại chủ quyền ở Biển Đông không phải là chưa có đầy đủ điều kiện, không phải là không có hàng không mẫu hạm thì không đánh được, cũng không phải đánh Việt Nam là khống chế không nổi chiến tranh, càng không phải là sĩ quan, binh lính chúng ta không thể đánh nhau, mà điều then chốt là phải quả đoán đưa ra lựa chọn.

Trong điều kiện hiện nay phải dùng quyết tâm như năm xưa chống Mỹ viện Triều để đối phó với Việt Nam, chỉ cần có lòng anh hùng khí khái giống như chống Mỹ viện Triều, nhất định Trung Quốc sẽ đánh thắng cuộc xung đột cục bộ này.

Có điều Mỹ chính là kẻ xúi giục hậu trường của Việt Nam, giả sử cuộc chiến bùng nổ ở Biển Đông, Mỹ không thể bàng quan, nhưng Mỹ và Việt Nam chưa có hiệp nghị quân sự, sự ủng hộ của Mỹ khẳng định khó có thể chi phối cục diện chiến tranh.

Chẳng lẽ chúng ta đợi đến sau khi Mỹ và Việt nam ký hiệp định quân sự mới động vũ ư ?

2/3/2010

Dương Danh Dy

Bài tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập.

05 tháng 3 2010

Tại sao thế giới coi “Made in China” là nhãn hiệu của sự khinh bỉ?

BVN đăng lại dưới đây 2 bài viết có mối quan hệ liền mạch với nhau, nó là chỉ báo tâm lý sợ và ngán Trung Quốc của cộng đồng nhân loại hiện nay. Người ta ngán sợ Trung Quốc trong hình hài một con rồng đang ra sức dương vây múa vuốt với thế giới bằng sự hăm hở muốn leo lên vị trí siêu cường thì cũng có nhưng chưa trực tiếp lắm, mà ngán sợ vì những việc làm bất minh trong hầu hết các quy trình công nghệ của nó để dân chúng Trung Quốc và thế giới ăn quả lừa giá rẻ đến không ngờ nhưng sản phẩm thì lại tồi tệ hết chỗ nói, thậm chí một số loại hàng thực phẩm nào đấy còn có khả năng giết lần giết mòn dân số của chính Trung Quốc và thế giới, thì đó mới là nỗi ám ảnh thường xuyên đối với mọi người. Người ta bỗng nhận ra một thứ "thâm nho" kiểu Tàu truyền kiếp - ngọt hơn mía lùi để rồi cuối cùng là bồ hòn chứ không phải mía - mà hế tiếp xúc một lần là nhớ đời. Chính vì thế, ở các thị trường chợ cóc Việt Nam gần đây có hiện tượng nhiều hoa quả nhập từ Trung Quốc đã được các nhà buôn dán nhãn mác Việt Nam để người dân đỡ… nhìn vào mà giật thót. Việt Nam, xứ sở chưa có luật lệ nghiêm ngặt trong quản lý sản xuất công nghệ thực phẩm nên mặc ai nấy lừa, qua mắt ngành kiểm tra như bỡn, vậy mà vẫn còn chưa làm người mua kinh hoàng bằng hai chữ "hàng Tàu". 

Bauxite Việt Nam

VIT – Chỉ đến khi công chúng đồn nhau về sự ghê tởm của "Made in China" – như là nhãn hiệu của sự yếu kém, hỏng hóc thì người ta mới bắt đầu hiểu ra rằng ở đâu đó đang tồn tại một vấn đề nghiêm trọng – một vũng bùn nghê tởm đã khiến họ ngã vào – vũng bùn "Made in China". Người đời vẫn nói "một lần ngã là một lần bớt dại", vậy thì nhận diện cái vũng bùn ấy thế nào? Tại sao các nhà sản xuất Trung Quốc lại có hành động quá xấu xa như vậy? Có phải là các nhà nhập khẩu Phương Tây không hay biết gì về hiện trạng "Made in China" không?


Chúng ta nên bắt đầu tìm hiểu sự việc từ mối quan hệ giữa các nhà cung cấp Trung Quốc và các nhà nhập khẩu Phương Tây. Các nhà sản xuất của Trung Quốc là cứ "tiền trao cháo mới múc" – họ nhận tiền trước để sản xuất những mặt hàng mà các công ty nước ngoài yêu cầu. Đây chính là điểm mấu chốt để các nhà sản xuất của Trung Quốc có cơ hội "cắt xén".

Chỉ sau khi các lô hàng "Made in China" được đưa đến nơi thì các công ty Phương Tây mới vỡ lẽ vì hàng hóa có chất lượng kém. Việc kiện các nhà máy của Trung Quốc ra tòa là không đơn giản, vì các đối tác Phương Tây sẽ vấp phải một hệ thống pháp luật Trung Hoa phức tạp một cách có tính toán.

Sự thực, các nhà sản xuất Trung Quốc sẽ làm bất cứ điều gì mà họ cho là cần để bắt mối kinh doanh; nhưng ngay sau khi nhận được tiền, mối quan hệ này liên tục xuống dốc, từng tí, từng tí một. Đi cùng với sự coi thường bạn hàng là chất lượng sản phẩm sẽ giảm dần, giảm dần và mất hẳn theo thời gian một cách lặng lẽ.

Các nhà sản xuất Trung Quốc thừa biết rằng từng chi tiết cũng như tổng thể cả sản phẩm của "Made in China" chỉ có thể sản xuất tại Trung Quốc, và như vậy – một khi các đối tác Phương Tây đã đặt hàng – thì sẽ không thể có sự lựa chọn nào khác là phải tiếp tục đặt hàng. Các nhà sản xuất Trung Quốc cứ việc thoải mái mà gặm nhấm chất lượng sản phẩm hàng hóa. Hậu quả là sản phẩm bị lỗi, bị hỏng hóc, không đạt chất lượng là kết quả của một trò "đã chót thì chét" mà các công ty Phương Tây tại Trung Quốc phải chịu đòn.

Bản chất đầu tiên của sự việc "Made in China" là bắt nguồn từ văn hóa của dân tộc Trung Hoa ngàn đời nay. Người Trung Hoa tin rằng họ sẽ không bị trừng phạt nếu họ lừa người khác. Họ tự ý thay đổi thông số kỹ thuật sản phẩm mà không cần hỏi ý kiến đối tác – bởi họ cho rằng "thà xin lỗi còn hơn xin phép". Người Trung Hoa xem việc giảm chất lượng sản phẩm như là một yếu tố quyết định để thu lợi nhuận lớn hơn, chính vì vậy họ thường "lèm nhèm tối đa" khi thảo luận về vấn đề chất luợng.

Bản chất tiếp theo của vấn đề "Made in China" là ở thể chế chính trị. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tạo ra một vương quốc cho các loại mèo – "mèo trắng, mèo đen, miễn bắt được chuột". Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ "thưởng" cho nhà sản xuất nếu họ giúp mang ngoại tệ về cho đất nước này thông qua thương mại. Có đôla mang về sẽ chỉ có vị ngọt của củ "Cà Rốt" mà không bao giờ có vị đòn roi – cho dù các công ty Trung Quốc có tiến hành công việc kinh doanh của họ một cách phi đạo đức đến mức nào.

Người đời tâm niệm "gieo gió có ngày gặp bão", quả báo đã xảy ra ngay tại xứ mèo – hàng trăm ngàn trẻ em Trung Quốc bị bệnh vì sữa melamine "Made in China". Đúng là "chó dữ cắn chủ", và cho dù Chính phủ Trung Quốc có ra tay trừng trị hàng chục doanh nghiệp melamine nhưng điều này xem ra chưa đủ hiệu lực với đàn chó dữ của họ.

Phải chăng xã hội Trung Quốc đã đến thời điểm mà các biện pháp cực đoan "Thiên An Môn" vẫn không thể ngăn cản được các doanh nghiệp của họ phạm tội ác? Phải chăng đã đến lúc các doanh nghiệp trên thế giới "không nên có ý định ngã để rút kinh nghiệm, mà nên học khôn trên cái ngu của kẻ khác".

Trần Nguyễn Hữu Tuấn dịch

Paul Midler là tác giả của cuốn Poorly Made in China, một trong số 10 quyển sách về kinh tế bán chạy nhất trong năm 2009 By Paul Midler

Nguồn: thegioinguoiviet.net



Thật cẩn thận với gạo biến đổi gene Trung Quốc

Bee.net.vn – Theo thông tin mới nhất được đăng tải trên tạp chí Beijing review của Trung Quốc, gạo từ hai giống lúa biến đổi gene do nước này nghiên cứu và sản xuất đang đe dọa gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người dân cũng như có thể phá hủy sự cân bằng sinh thái ở trong nước.

Vào năm 2009, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đã ban hành giấy chứng nhận an toàn sinh học cho hai loại gạo từ hai giống lúa được biến đổi gene Huahui 1 và Bt Shanyou 63,
đều cùng được trồng thí nghiệm ở vựa lúa gạo Hồ Bắc của Trung Quốc và tháng 10/2009 đã có mặt trên thị trường. Đây là hai giống lúa được cho là có khả năng kháng bệnh rất cao. Dự tính tới năm 2011, Trung Quốc sẽ cho trồng rộng rãi trên toàn quốc.

Tuy nhiên, theo các nhà sinh học, sản phẩm gạo mới từ hai giống lúa này lại có mối đe dọa cao đối với sức khỏe con người trong khả năng truyền tải thông tin di truyền ở cấp độ gene cho các sinh vật khác. Các gene được biến đổi khi được phân tán sẽ ảnh hưởng tới cả động vật và thực vật.

Sản phẩm gạo mới từ hai giống lúa này lại có mối đe dọa cao đối với sức khỏe con người."

"Nếu những sản phẩm này có khả năng diệt côn trùng thì không loại trừ khả năng nó sẽ gây hại đối với sức khỏe của con người khi họ sử dụng chúng lâu dài" – Giáo sư Jiang Gaomin, nhà thực vật học của Viện Khoa học Trung Quốc cho hay.

Theo Fan Lifen, đại diện của Greenpeace tại Trung Quốc, các thí nghiệm của ông trên các động vật thí nghiệm cho thấy chúng có biểu hiện bị dị ứng và giảm khả năng miễn dịch khi ăn hai loại gạo biến đổi gene này. Và không loại trừ khả năng phản ứng này cũng sẽ xảy ra với con người.

Nhà lai tạo hàng đầu của Trung Quốc Yuan Lunpin cũng tham gia phản đối việc sản xuất hàng loạt các sản phẩm gạo từ giống lúa biến đổi gene Huahui 1 và Bt Shanyou 63.

"Những loại sản phẩm đã được biến đổi vẫn có khả năng phát tán trong tự nhiên khi chúng lai với giống khác. Và khi đó, việc mở rộng di truyền của chúng sẽ trở nên mất kiểm soát và có thể gây ô nhiễm di truyền ở quy mô lớn".

Đặc biệt, giống lúa biến đổi gene có khả năng tự điều chỉnh di truyền với các giống lúa khác thông qua thụ phấn và gây biến gổi gene tới loại gạo mới 18%. Vì vậy, các gene đã được đột biến của giống lúa Huahui 1 và Bt Shanyou 63 có thể phá hủy tất cả sự đa dạng của các giống lúa khác ở Trung Quốc, nơi có hơn 75.000 giống lương thực các loại và sản xuất lượng lúa gạo hàng năm chiếm tới 1/3 sản lượng của thế giới.

Thêm vào đó, gạo cũng được coi là loại lương thực chính, được sử dụng trong 3 bữa ăn hàng ngày của hơn 1 tỷ người dân Trung Quốc. Sự biến dạng của các loại cây trồng cũng có thể sẽ ảnh hưởng tới vật nuôi thông qua quá trình cho gia súc ăn phải các thực vật bị lai tạo với thực vật bị biến đổi gene.

Nó cũng sẽ ảnh hưởng tới ngành xuất khẩu lương thực và các ngành kinh tế khác của Trung Quốc bởi các nước phương Tây áp đặt các hạn chế rất nghiêm ngặt về việc nhập khẩu các sản phẩm biến đổi gene.

Trước đó, việc cấp phép cho sản xuất giống lúa biến đổi gene trong tự nhiên cũng đã gây nhiều tranh cãi ở Trung Quốc. Trong khi sự an toàn của hai giống lúa mới này vẫn chưa được kiểm định chặt chẽ và chưa có quy chế nghiêm ngặt để bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất thì nó đã được tung ra thị trường. Thêm vào đó, giấy phép sản xuất và kinh doanh hạt giống lại được cấp phép trước khi chúng được phép cho sản xuất thương mại hóa đã khiến nhiều học giả nước này bất bình.

Nguyễn Hường (theo Rian)

Nguồn: bee.net.vn

Nếu ai cũng sợ bị “chụp mũ”

BVN không dám tin ở hiệu quả của mọi lời góp ý, không phải vì người góp không chân thành, mà vì trải qua thực tế bao nhiêu kỳ đại hội từ trước đến nay, góp ý dường như chỉ là những "trò diễn" làm cho vui, để rồi đâu lại vào đấy. Vẫn là một ông Vũ Như Cẩn ngồi trên đầu thiên hạ.

Dù sao, đây là một tiếng nói trung thực và thẳng thắn, xin đăng lên để bạn đọc xa gần tham khảo.

Bauxite Việt Nam


Ông Dương Phú Hiệp. Ảnh: Thanh Nga

"Nếu ai cũng sợ bị "chụp mũ", nếu chỉ có một trung tâm độc quyền phát ra chân lý, nếu cấp dưới chưa có thói quen dám tranh luận với cấp trên, không dám suy nghĩ bằng cái đầu của mình vì còn sợ "mất đầu" thì tình trạng lạc hậu về nhận thức lý luận ở nước ta còn kéo dài" – ý kiến của GS.TS Dương Phú Hiệp, nguyên Phó Viện trưởng Viện Triết học, nguyên Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung ương.

Tranh luận sòng phẳng

Cá nhân ông từng là người tham gia soạn thảo một số văn kiện Đại hội Đảng, ông có ưu tư gì để công tác xây dựng, lấy ý kiến của người dân đạt hiệu quả ngày càng cao hơn?

- GS TS Dương Phú Hiệp: Bắt đầu từ Đại hội VI, các văn kiện đã được đưa ra để lấy ý kiến nhân dân, việc làm này là rất cần thiết và rất đáng hoan nghênh nhưng theo tôi nên có cách xử lý đổi mới vì nếu nó chỉ dừng lại ở tính hình thức, tính tuyên truyền thì không có nhiều ý nghĩa thực chất.

Người chuẩn bị văn kiện ĐH khi đã đưa ra hỏi ý kiến thì phải biết lắng nghe, thực sự cầu thị. Hỏi ý kiến ở đây là hỏi thật, nghe là nghe thật và phải tổ chức công việc tiếp nhận, phản hồi rõ ràng và cần một không khí tranh luận sòng phẳng.



Cứ theo tiêu chuẩn lớn nhất là "ích nước lợi dân". Vấn đề gì lớn tiếp thu thì nói rõ ra, cái này chúng tôi xin tiếp nhận để đưa vào, hoặc cái này thì tiếp thu nhưng xin để nhiệm kỳ sau hoặc nếu không tiếp nhận thì vì sao.

Ban soạn thảo phải phân công người đọc và nên có trả lời đăng rộng rãi trên báo chí chứ không phải từng người. Điều đó sẽ chứng tỏ rằng Đảng có trách nhiệm với những người đóng góp ý kiến, từ đó củng cố thêm lòng tin của người ta, lần sau người ta hăng hái đóng góp tốt hơn.

Nếu nhiều ý kiến được gửi lên mà không có sự phản hồi thì đó là một sự mất lịch sự, làm mất niềm tin của những người có thiện chí đóng góp.

Ngoài ra, ban soạn thảo cần nghiên cứu xác định được những vấn đề lớn của mỗi kỳ ĐH để đưa ra tranh luận, mỗi ĐH nên tập trung bàn một vài vấn đề lớn mà nếu gỡ được cái này là gỡ được nhiều cái khác.

Chúng ta không nên bàn quá nhiều, mất quá nhiều thời gian cho những vấn đề còn lý luận xa xôi. Thay vào đó, việc lựa chọn vấn đề của mỗi ĐH nên sát với thực tế hơn, phải xuất phát từ thực tế chứ không phải xuất phát từ lý luận, mà như vậy thì nhân dân cũng dễ góp ý.

Ví dụ như ĐH X, chúng ta tập trung tranh luận đảng viên có được làm kinh tế tư nhân không. Phải tranh luận cho ra nhẽ để đưa ra được quyết định cuối cùng. Như thế mới có hiệu quả và đem lại những lợi ích to lớn.

Cầu thị

Ý của ông là rất cần những người có trách nhiệm lắng nghe thực sự cầu thị, chân thành?

Sự thành thực rất quan trọng, như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu khi đương chức có lần xuống nói chuyện ở Viện Khoa học Xã hội, đã nói một câu rất chân thành: "Trong ĐH VIII có một câu là, nhận thức của chúng ta về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng rõ ra, nhưng riêng tôi vẫn chưa thấy rõ lắm".
Lối tư duy không tin nhân dân, không dám nói thẳng, nói thật những khó khăn thiếu sót và sai lầm của Đảng trước nhân dân đã trở thành cách suy nghĩ lỗi thời.
Câu nói đó phần nào cho thấy sự thành thực, thẳng thắn và cầu thị của ông. Vì vậy, chúng tôi cũng không ngần ngại gì trong việc đóng góp ý kiến của mình.

Nghĩa là khi mình muốn nghe góp ý thì phải chấp nhận có người nói dễ nghe, người nói khó nghe. Phát biểu trái với lãnh đạo, trái với nghị quyết chưa chắc đã sai. Ông là lãnh đạo, tôi nói trái với ông rồi ông bảo tôi sai, thế thì độc quyền chân lý à?

Sai hay đúng thì thực tiễn sẽ trả lời vì thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là điểm xuất phát, đồng thời cũng là điểm cuối cùng để kiểm nghiệm chân lý.

Ông từng là thành viên nhóm tư vấn của cố Tổng Bí thư Trường Chinh trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội VI, chắc ông cũng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ?

Hồi tôi ở trong nhóm tư vấn của cố TBT Trường Chinh thì anh em cũng đóng góp ý kiến một cách rất thẳng thắn. Ông Trường Chinh mặc dù là cán bộ cao cấp như thế nhưng rất biết lắng nghe các ý kiến từ các nhà khoa học, đặc biệt là các ý kiến trái chiều.

Một người chân thành muốn nghe thì mình cũng chân thành phát biểu mà không e ngại gì cả. Ai cũng có thể đúng, có thể sai nhưng đã tham khảo ý kiến người ta thì sai đúng gì cũng phải nghe đã, còn quyết định cuối cùng lại là chuyện khác.

Tôi nhớ một buổi chiều đồng chí Trường Chinh nói hôm nay tôi hỏi các đồng chí một câu thôi, các đồng chí trả lời không cần lập luận nhiều: Bao giờ kết thúc chặng đường đầu tiên và bao giờ kết thúc thời kỳ quá độ ở Việt Nam?

Mỗi người đưa những mốc thời gian khác nhau, đến lượt tôi thì tôi trả lời là không biết vì lý lẽ của tôi là phải xem đường lối của Đảng như thế nào đã, chứ nếu như hiện nay thì có thể dẫm chân tại chỗ hoặc có thể bị lùi lại thêm nữa.

Hồi bấy giờ có nhiều ý kiến khác nhau lắm. Ý kiến khó nhất là đánh giá đường lối của ĐH IV, ĐH V tiếp tục đường lối đó, bây giờ ĐH VI phải xử lý thế nào.

Đường lối đại hội của Đảng ta vẫn luôn luôn nói là đúng nhưng thực tế lại dẫn đất nước vào khủng hoảng là vì sao?

Một luồng ý kiến giải thích rằng đường lối đúng nhưng nhận thức chưa đúng. Người Việt Nam cũng thông minh, nói như vậy thì ở Việt Nam này ai nhận thức đúng? Người soạn thảo ra đường lối phải có trách nhiệm làm cho người khác hiểu đúng đường lối chứ!

Luồng ý kiến thứ hai thì bảo đường lối đúng nhưng chưa cụ thể hóa thành những chính sách đi vào cuộc sống. Thế thì các Hội nghị BCH Trung ương Đảng hàng năm họp mấy lần nếu không cụ thể hóa đường lối trong khóa ấy thì làm gì?

Luồng ý kiến thứ ba lại lý luận là đường lối đúng, chính sách đúng, cụ thể hóa đúng nhưng việc tổ chức thực hiện kém. Tôi bảo, nếu cái gì nó hay, đúng với tâm lý của quần chúng thì cứ vạch ra là người ta tự động theo. Giống như bài hát mà hay thì chinh phục người nghe nhanh lắm, chẳng cần phải dạy, chỉ cần nghe một vài lần người ta cũng thuộc, không hay thì anh cứ cò cưa mãi trên đài cũng chả vào gì cả.

Tranh luận với cấp trên

Từng giữ cương vị Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương, ông nghĩ sao về những đòi hỏi mới của công tác nghiên cứu lý luận ngày hôm nay?

Tôi nhớ lúc Hội đồng Lý luận Trung ương khi thảo luận dự thảo Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về công tác tư tưởng và công tác lý luận, tôi có bảo là hai cái này không nên nhập làm một.

Công tác tư tưởng hay tuyên huấn là phải tuyên truyền đúng như nghị quyết đã nói, không được nói trái, còn công tác lý luận thì có chức năng khác. Nó cho phép nói khác, nói trái chiều thì mới mong đi tìm cái mới, đi tìm chân lý được.

Chúng ta cần tạo ra bầu không khí dân chủ trong nghiên cứu khoa học, cho phép các nhà khoa học có quyền nói và viết những suy nghĩ của mình. Nếu không cho người ta nói trái với ý của mình thì chẳng bao giờ có tiến bộ trong lý luận, khoa học được cả.

Ở nước ta, do chưa có truyền thống dân chủ, chưa có thói quen tranh luận, nhất là tranh luận với cấp trên, thì việc mở rộng bầu không khí dân chủ trong xã hội, nhất là trong sinh hoạt đảng, trong nghiên cứu khoa học là một trong những điều kiện để khắc phục tình trạng lạc hậu về nhận thức lý luận.

Nếu quan liêu hóa công tác nghiên cứu lý luận, nếu ai cũng sợ bị "chụp mũ", nếu chỉ có độc thoại, không có đối thoại, nếu chỉ có một trung tâm độc quyền phát ra chân lý, nếu cấp dưới chưa có thói quen dám tranh luận với cấp trên, chỉ thụ động "gọi dạ, bảo vâng", không dám suy nghĩ bằng cái đầu của mình vì còn sợ "mất đầu" thì tình trạng lạc hậu về nhận thức lý luận còn kéo dài.
Chúng ta cần tạo ra bầu không khí dân chủ trong nghiên cứu khoa học, cho phép các nhà khoa học có quyền nói và viết những suy nghĩ của mình. Nếu không cho người ta nói trái với ý của mình thì chẳng bao giờ có tiến bộ trong lý luận, khoa học.
Trong Báo cáo Chính trị tại ĐH VI của Đảng, tư duy biện chứng duy vật đã được thể hiện trong việc đánh giá tình hình bằng cách "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật".

Còn lối tư duy không tin nhân dân, không dám nói thẳng, nói thật những khó khăn thiếu sót và sai lầm của Đảng trước nhân dân đã trở thành cách suy nghĩ lỗi thời.

Trong một thời kỳ dài đã từng tồn tại lối tư duy lạ lùng: chỉ nói đến những mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản, còn trong chủ nghĩa xã hội thì hình như không có mâu thuẫn. Tư duy mới là tư duy dám nói đến những mâu thuẫn hiện thực trong chủ nghĩa xã hội và tìm cách giải quyết đúng đắn các mâu thuẫn đó, không e ngại, che giấu mâu thuẫn.

Tuy nhiên, tôi thấy rằng trong những năm qua, chúng ta không những chậm phát hiện mâu thuẫn mà còn chậm giải quyết mâu thuẫn. Đổi mới tư duy chính là phải khắc phục tình trạng đó.

Nguồn: tuanvietnam.net

04 tháng 3 2010

Gần dân và hiểu dân

Một Đảng luôn luôn khẳng định là từ nhân dân mà ra, nhưng nay "xét về mặt gần dân và hiểu dân, sửa đổi lối làm việc quan liêu, mệnh lệnh thì còn rất xa và có nguy cơ còn xa hơn nữa". (Lê Đăng Doanh). Vì sao nên nỗi? Câu trả lời hẳn không phải là quy trách nhiệm cho một ai, là gán cho sự suy thoái đạo đức của một cá nhân nào, mà phải tìm xa hơn, sâu hơn – một "khuyết tật hệ thống". Do đó, lời giải chủ yếu không phải là hô hào tu dưỡng, mà là thay đổi cái cơ chế không cần gần dân, không cần hiểu dân mà vẫn ngang nhiên tại vị, thậm chí thăng quan tiến chức.
Bauxite Việt Nam
TP – Phong trào học tập đạo đức Bác Hồ đã đạt được một số tiến bộ nhất định nhưng xét về mặt gần dân và hiểu dân, sửa đổi lối làm việc quan liêu, mệnh lệnh thì còn rất xa và có nguy cơ còn xa hơn nữa.

Bác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7-1960. Ảnh: ditichhochiminhphuchutich.gov.vn.
Còn nhớ, khi về thăm cơ quan, trường học, bệnh viện, đơn vị quân đội, Bác Hồ thường đích thân đến thăm bếp và nhà vệ sinh để biết đời sống thực của dân.
Những nơi không vệ sinh, Bác gọi thủ trưởng cơ quan xuống tận nơi cùng Bác chứng kiến cảnh mất vệ sinh thì mới lộ ra không ít thủ trưởng cơ quan sau nhiều năm chưa bao giờ đến cái bếp và nhà vệ sinh cả.
Năm 1955, khi tôi còn học ở trường phổ thông trung học Việt-Đức, Bác Hồ rất không hài lòng về sự mất vệ sinh của trường tôi. Nhờ có sự gần dân, hiểu dân của Bác mà nước ta khi đó còn rất nghèo nhưng đã chú ý đến bếp ăn và nhà vệ sinh cho mọi người, trong đó có bản thân chúng tôi.
Đó là tấm gương rất cần học mà cho đến nay ít thấy các quan chức cấp cao, cấp thấp noi theo bằng hành động cụ thể của mình.

Năm 2009, có dịp về công tác tại một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi được giới thiệu một con đường mới khánh thành, hai làn đường rộng, có vườn hoa ngăn đôi nhưng có gắn biển hạn chế tốc độ tối đa cho xe ô tô là 40 km/giờ.
Tối hôm ấy, gặp chủ tịch tỉnh làm việc, chúng tôi thắc mắc tại sao đường rộng, mới như vậy, dân cư không đông đúc mà lại hạn chế tốc độ chỉ có 40 km/giờ.
Đồng chí chủ tịch tỉnh giật mình thú thật là cá nhân mình không hề biết có cái biển đó vì xe của đồng chí biển xanh, số xe cảnh sát giao thông đều biết, cứ đi thoải mái tốc độ cần thiết, không cần quan tâm đến biển hạn chế tốc độ nào cả.
Trước mặt chúng tôi, đồng chí chủ tịch gọi điện cho giám đốc Sở Giao thông Vận tải hỏi về tấm biển đó thì giám đốc thừa nhận tấm biển đó còn lại từ thời gian trước khi sửa đường, vẫn chưa thay, nay có ý kiến chủ tịch tỉnh sẽ nâng lên 60 km/giờ.
Vấn đề là đồng chí chủ tịch tỉnh sống ở đấy nhưng hoàn toàn không biết có cái biển đó. Suy rộng ra, không biết đồng chí đó có biết kẹt xe ở đâu, úng lụt chỗ nào, chợ họp ra sao, bệnh viện quá tải ra sao, v.v. vì chủ tịch bận, không có thì giờ cho những việc đó và xe chạy theo chế độ đặc biệt nên không tiếp cận được với thực tế.
Cuối năm 2009, trong một lần dự hội thảo ở Hạ Long, vì có việc được gọi về  Hà Nội gấp để họp một cuộc họp khác bất thường, tôi xin đi nhờ xe của một thủ trưởng có biển xanh 80B, trên xe có gắn còi hú để dẹp đường.
Kết quả là thay vì mất ba tiếng rưỡi đến bốn tiếng như bình thường chúng tôi vẫn phải đi, lần này chỉ mất có một tiếng 45 phút vì xe luôn chạy 80 km/giờ ở tất cả các quãng đường có hạn chế tốc độ. Mỗi khi còi hú, các xe tải, xe khách đều dạt sang một bên để nhường đường.
Thủ trưởng cho đi nhờ thú thực chưa bao giờ biết cảnh hạn chế tốc độ. Như vậy, biển hạn chế tốc độ chỉ dành cho dân và xe khác, còn xe thủ trưởng biển xanh 80B thì không cần biết?
Đành rằng thủ trưởng cần đi nhanh nhưng đến cái mức vì thế mà mất cả liên hệ với cuộc sống thực của dân thì cần phải xem lại.
Hằng ngày, tivi đưa tin các đồng chí lãnh đạo về thăm và làm việc với địa phương, xí nghiệp chỉ thấy chủ yếu "quan trên gặp quan dưới", ngồi trong hội trường có biển to hoan nghênh đồng chí A, đồng chí B về làm việc, ít thấy có cảnh đến thăm tận nhà dân, ngồi xuống đất ăn củ khoai lang như Bác Hồ đã làm ngày trước.
Trong thực tế, ít thấy có vị chủ tịch phường nào đi bộ đến thăm dân phố, lắng nghe ý kiến tại chỗ của dân để gần dân và hiểu dân hơn, chứ đừng nói gì đến các quan chức cấp cao hơn nữa như huyện, tỉnh hay quan chức đi xe 80B.
Trong khi đó người ta thấy quá nhiều quan chức mất thì giờ để đi động thổ, bấm nút khai trương tượng trưng, không còn thì giờ để xem tình hình ô nhiễm, vệ sinh, ăn ở của công nhân ra sao.
Năm mới, dự kiến cải cách, đổi mới nhiều, chỉ xin mong quay lại học tập tác phong gần dân, hiểu dân, thực sự dân chủ, cầu thị lắng nghe ý kiến của dân của Bác Hồ để đổi mới có hiệu lực hơn trong thực tế.
L. Đ. D.
Nguồn: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=186779&ChannelID=2

Học hay không học Trung Quốc

Chúng ta không có những nhà tư tưởng đổi mới, cái ấy thì đã hẳn. Bởi vì nước ta là một nước thực tiễn, xưa nay ta đâu có được lấy một triết gia. Và khoanh lại trong thời hội nhập thì điều này còn quan trọng hơn: chúng ta tuyệt không có những chính khách đầy bản lĩnh và tầm nhìn như một Hồ Chí Minh thuở trước, vững tin ở con đường đổi mới đưa lại lợi ích sống còn cho dân tộc. Cung cách đổi mới của các chính khách nước ta là cung cách của những con cáo, mới đi được vài bước đã nghi ngờ và đành vòng trở về điểm xuất phát để đánh hơi lại những "bãi thải" của chính nó. Vì thế mà ngày xưa mới có chữ "hồ nghi" tức là con cáo đa nghi. Thử tưởng tượng xem, nếu một cơ chế sản sinh ra không phải là tất cả nhưng cũng không ít những con cáo đa nghi, những kẻ dẫn đạo đất nước với đầy một bụng hồ nghi, mới đi vài bước đã phải vòng trở về ngửi những thứ mình thải ra thì dẫu cho đất nước có được những nhà tư tưởng đổi mới đi nữa, rốt cụộc số phận họ đâu có hơn gì một Trần Độ, một Trần Xuân Bách, một Kim Ngọc? Trách cứ chỗ yếu kém của nội tình chúng ta thì cũng phải hiểu cho đến ngọn nguồn vì đâu mà có chỗ yếu kém ấy.
Còn về vấn đề học tập Trung Quốc, tuy trên căn bản ý kiến của tác giả rất đáng ngẫm nghĩ, nhưng tựu trung cũng phải xét xem thực chất mô hình Trung Quốc đang theo đuổi là cái gì. Trong Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, Tân Tử Lăng có nói đến một chủ nghĩa xã hội dân chủ thật, song xem ra rất đáng mơ ước mà cũng có chỗ rất đáng ngờ. Vì một chủ nghĩa xã hội dân chủ sao lại đưa đến hủy hoại môi trường tàn tệ? Sao lại hy sinh lợi ích dân sinh của đại đa số khiến cho giàu nghèo phân hóa ngày càng dữ dội? Sao lại giải quyết yêu cầu tự do dân chủ của nhân dân và yêu cầu tự trị của các tộc người bằng những kịch bản như Thiên An Môn, Tân Cương, Duy Ngô Nhĩ? Và sao lại chủ trương quan hệ với thế giới bằng một chủ nghĩa bành trướng thâm hiểm, nhằm cướp bóc đất đai tài nguyên với đủ thứ quyền lực cứng hay mềm? Vậy đó là chủ nghĩa xã hội dân chủ hay chỉ là một lý thuyết mỹ miều cốt che đậy một thứ chủ nghĩa tư bản nguyên thủy mà cái mộng cuối cùng là một đế chế siêu cường bá chủ thế giới?
Những câu hỏi trên chỉ có thể được giải đáp cặn kẽ nếu có những nhà xã hội học đi sâu vào lòng xã hội Trung Quốc đương đại để tìm lời giải cặn kẽ cho mọi vấn đề ngổn ngang đang đặt ra trong lòng xã hội ấy.
Tiếc thay, đó là những điều kiện mà học giới nước ta không sao có được. Còn chính khách được mời sang Trung Quốc là để vui vầy trong các "tiệc hoa" thì những câu hỏi loại đó họ nào có đủ thì giờ và trình độ để quan tâm. Cho nên ý kiến của nhà báo Tống Văn Công tuy rất hấp dẫn, chung quy cũng chỉ dừng lại trong vòng giả thuyết mà thôi.

Bauxite Việt Nam

Những điều nên học và không nên học từ Trung Quốc được bàn luận dưới góc nhìn của một nhà báo kỳ cựu.
TuanVietNamNet: Cuộc tranh luận về việc Việt Nam nên học tập hay cần phải tìm mô hình phát triển khác Trung Quốc được giới học giả quốc tế và trong nước, thậm chí cả một số cựu lãnh đạo bàn thảo khá sôi nổi.
Trong khi nhiều người cho rằng Việt Nam phải khác Trung Quốc thì tác giả Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động giữ quan điểm Việt Nam cần học hỏi những điều hay và tránh những khiếm khuyết mà Trung Quốc đã mắc phải.
Chúng ta không có nhà tư tưởng Đổi mới
Ngày 18-9-2009, Nhân dân nhật báo Trung Quốc có bài "Có thể bắt chước mô hình Trung Quốc được không?". Bài báo cho rằng Việt Nam "bắt chước 100%" mô hình Trung Quốc và Việt Nam "cần thực sự nhớ ơn mô hình này".
Các nhà nghiên cứu của Việt Nam lên tiếng ngay. Ông Trần Đức Nguyên từng là Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng, người trực tiếp tham gia soạn thảo Cương lĩnh Đổi mới ở Đại hội VI Đảng Công sản VN (1986) nói: "Trong suốt quá trình chuẩn bị Đại hội, ngoài việc thảo luận những vấn đề thực tế Việt Nam, tôi chưa bao giờ nghe một ai nói về mô hình Trung Quốc".
Giáo sư Đặng Phong, tác giả bộ sách Tư duy kinh tế Việt Nam trả lời nhà báo Huy Đức cho rằng đổi mới ở Việt Nam "là một tiến trình bắt đầu từ bức xúc của dân chúng được che chở bởi các nhà lãnh đạo chiến tranh kỳ cựu và bắt đầu bằng phương pháp xé rào". Và "Ở Việt Nam không có ai là cha đẻ của Đổi mới. Ở miền Nam khi đó Võ Văn Kiệt có vai trò như một chiếc xe tăng đỡ đạn cho những người xé rào, nhưng ông không phải là người đưa ra tư tưởng Đổi mới".

Đổi mới ở Việt Nam không bắt đầu từ tư tưởng của một nhà cải cách nào đó mà bắt đầu từ cuộc sống - GS Đặng Phong

Ông khẳng định: "Đổi mới ở Việt Nam không bắt đầu từ tư tưởng của một nhà cải cách nào đó mà bắt đầu từ cuộc sống".
Ông nhấn mạnh vai trò của Võ Văn Kiệt chấp nhận cho một số một số cơ sở xé rào trong cuộc vận hành của cuộc sống ngày ấy:
"Không có ông thì không có Dệt Thành Công, Việt Thắng, Bột giặt Viso, Thuốc lá Sài Gòn, Công ty Lương thực của bà Ba Thi… Ông Kiệt còn là chỗ dựa cho những đổi mới về chính sách trong nông nghiệp, về giá… ở An Giang, Long An… với những tên tuổi như Nguyễn Văn Hơn, Chín Cần (Nguyễn Văn Chính)…"
Cuộc "bắt đầu từ bức xúc" đi tới "xé rào" ở nước ta đồng thời với cuộc cải cách của Trung Quốc (năm 1979). Điều đáng tiếc, đúng như ông Đặng Phong nói: Ta không có một nhà tư tưởng Đổi mới! Mãi tới đầu những năm 80, sau Đại hội VI, các nhà lý luận Việt Nam vẫn còn phê phán Đặng Tiểu Bình về triết lý "Mèo trắng mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột"!
Tôi may mắn được đi theo đoàn của ông Võ Văn Kiệt đến những cơ sở xé rào mà Giáo sư Đặng Phong đã kể. Khi đoàn ông Kiệt đến Xí nghiệp In Tổng hợp thì ông Hưng – Giám đốc xí nghiệp này đang viết bản kiểm điểm theo lệnh của Sở Văn hóa Thông tin về những việc làm vi phạm nghiêm trọng các quy định quản lý xí nghiệp xã hội chủ nghĩa. Ông Hưng cho biết Trưởng đoàn Thanh tra của Sở Văn hóa Thông tin nói, các  khuyết điểm vi phạm của ông Hưng ở mức kỷ luật  khai trừ Đảng và cách chức. Ông Kiệt nghe xong đăm chiêu mấy phút rồi nói rằng bất cứ ai làm Giám đốc trong tình huống này đều phải chọn, hoặc là đình sản xuất hoặc xé rào cứu xí nghiệp.
Ông Kiệt đề nghị Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin rút quyết định buộc ông Hưng làm bản kiểm điểm và giao cho ông Hưng xây dựng đề án cải tiến quản lý chi tiết cách cứu nguy xí nghiệp để làm "điểm" cho cả ngành in ở thành phố Hồ Chí Minh.
Sau đó không lâu Xí nghiệp in Tổng hợp ăn nên làm ra, ông Hưng nổi tiếng là nhà quản lý giỏi.
Khi đoàn đến Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn, tiếp ông Kiệt là những quan chức cao cấp của ngành thuốc lá, nhưng người trả lời trôi chảy các câu hỏi của ông Kiệt là anh cán bộ kỹ thuật trẻ Lê Đình Thụy. Anh Thụy ít nói về mình mà cho biết nhờ học hỏi anh Ba, một cán bộ chế độ cũ ở lại với Nhà máy đóng góp rất nhiều kinh nghiệm giải quyết các ách tắc về  nguyên liệu, tiền vốn, chất lượng sản phẩm…
Hôm đó sau khi rời nhà máy ông Kiệt hỏi chúng tôi có cảm nhận giống như ông là không phải các vị có chức vụ cao mà chỉ có anh cán bộ kỹ thuật nói giọng Huế (anh Thụy người Huế) mới là người tâm huyết đóng góp công sức, trí tuệ cho ngành thuốc lá đầy khó khăn?
Mấy năm sau, anh Thụy trở thành Tổng giám đốc Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam và nổi tiếng là nhà quản lý giỏi của ngành thuốc lá Việt Nam thời kỳ Đổi mới .
Năm 1980, ông Kiệt tổng kết việc che chắn cho các xí nghiệp xé rào bằng cụm từ "Ba Lợi Ích", tức là muốn khai thông ách tắc trong kinh doanh sản xuất thì phải đảm bảo cân bằng lợi ích của Nhà nước, lợi ích xí nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động. Tiếp thu tinh thần đó, năm 1981 tôi viết bài báo có tựa đề Ba lợi ích, đăng trên báo Lao động. Bài viết được trình bày trang trọng, đặc biệt được nhạc sĩ kiêm họa sĩ Văn Cao minh họa: Một nhà lý luận kinh điển mang kính cận dày cộp soi từng trang sách để bác bỏ khái niệm lạ lẫm: Ba lợi ích!
Số báo đăng bài Ba Lợi Ích phát hành không lâu thì anh Ba Trí (Trần Tâm Trí, Vụ phó Vụ Báo chí, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng) gọi điện thoại bảo tôi lên ngay để cho nghe một tin "mật và khẩn". Anh Ba Trí vừa đi họp ngoài Hà Nội về. Bên lề cuộc họp ông Đặng Xuân Kỳ Viện trưởng Viện Marx-Lenin gặp anh hỏi: Ở Sài Gòn anh có biết tác giả bài báo Ba Lợi Ích, đăng trên Lao động không? Cái anh này viết láo quá lắm, quan điểm rất lệch lạc. Anh Ba Trí đã nói đỡ cho tôi: "Tác giả là phó Tổng biên tập báo Lao động,có lẽ bài viết không phải thể hiện quan điểm riêng của tác giả mà là của cả Ban biên tập đấy".

Không có các nhà tư tưởng Đổi mới, Việt Nam chỉ có những chiếc xe tăng đỡ đạn cho những người xé rào.

Anh Ba Trí góp ý với tôi: "Từ nay viết bài nào gay cấn quá anh nên đặt bút danh mới chưa ai biết!". Sau đó ít lâu, tôi đi dự họp và được xếp vào tổ thảo luận gồm các cán bộ khối Dân vận trung ương, do đồng chí Vũ Quang làm tổ trưởng hướng dẫn. Đồng chí Vũ Quang mở đầu cuộc thảo luận ở tổ bằng những lời phê phán hùng hồn về chủ nghĩa tự do kinh tế tư bản Sài Gòn đang nảy nở, nếu không kịp thời ngăn chặn thì sẽ tác hại khôn lường cho đất nước!
Nhắc lại chuyện xưa tôi không hề có ý chê bai hai đồng chí Vũ Quang và Đặng Xuân Kỳ mà chỉ muốn nói về cái không may của chúng ta là không có một nhà tư tưởng Đổi mới khiến cho cái Mới ở nước ta phát triển rất nhọc nhằn.
Nếu vẽ lại biểu đồ 20 năm thì sẽ thấy con đường Đổi mới quá dích dắc và không ít khi bị quay ngược!
Trước kia Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng có tư duy tiến bộ hơn Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong khi các lãnh tụ Trung Quốc hô hào "chính trị là thống soái, tư tưởng dẫn đầu" thì mặc dù bị họ gây sức ép, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì "Cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt".
Ngày nay bào chữa cho sự trì trệ của mình thường là câu: "Con đường đổi mới chưa có tiền lệ. Chúng ta phải vừa làm vừa mò mẫm". Ngày nay có rất nhiều quốc gia tiên tiến đã tìm ra nhiều con đường ngắn nhất để trở thành giàu mạnh. Cùng tình trạng với ta có Trung Quốc, vậy thì cái gì họ đã có cách giải quyết tốt thì tại sao ta không xem xét vận dụng mà lại cứ mò mẫm?
Tôi rất muốn được nghe các nhà nghiên cứu nước ta so sánh Đổi mới của ta với Cải cách của Trung Quốc để rút ra  những điều cần bổ khuyết cho mình. Ta cần học Trung Quốc điều gì và không nên học điều gì? .
Tôi không phải là nhà nghiên cứu lý luận mà chỉ là một người quan tâm đến vận mệnh của đất nước và của Đảng, xin mạnh dạn nêu ra vài nhận xét về những điều nên học và không nên học Trung Quốc.
"Mèo trắng mèo đen", triết lý vượt qua ý thức hệ
Thực hiện đường lối cải cách mở cửa, Đảng Cộng sản Trung Quốc nói họ giương cao ngọn cờ vĩ đại xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc, kiên trì chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Mao Trạch Đông và lý luận Đặng Tiểu Bình. Lý luận Đặng Tiểu Bình chủ yếu là triết lý "Mèo trắng mèo đen, không quan trọng miễn là bắt được chuột". Tư tưởng này đã soi sáng cho đường lối chính sách của họ minh bạch, không sợ bị quy chụp về lập trường, quan điểm, không bị vướng mắc rào cản ý thức hệ.
Nhờ giải phóng tư tưởng, triệt để đổi mới tư duy, họ đã dễ dàng vượt qua những lĩnh vực mà nhiều năm sau chúng ta vẫn còn coi là những tín điều chưa thể vượt qua:
1 – Bỏ qua khái niệm "bóc lột", nội dung quan trọng của lý luận Marx về chiếm không lao động thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Điều này giải phóng tư duy cho cả xã hội không còn thấy cần thiết phải thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất để xóa bỏ bóc lột giai cấp. Mọi người có vốn, có kiến thức quản lý, được khuyến khích thành lập xí nghiệp tư nhân, vừa sản xuất nhiều hàng hóa cho xã hội, vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động. Đó là khởi đầu cho Trung Quốc phát triển nhanh chóng, để rồi 20 năm sau trở thành "công xưởng của thế giới".
Trung Quốc kỉ niệm 30 năm cải cách mở cửa. Ảnh: life.com

Bỏ qua khái niệm bóc lột, họ không bị "quan điểm lập trường giai cấp" ràng buộc, dễ dàng chọn người có thực tài trong Đảng gánh vác trọng trách. Họ công khai quy hoạch cán bộ kế cận cho các nhiệm kỳ sau rất tốt.
Họ còn mạnh dạn dùng nhân tài ngoài Đảng, cả trí thức Hoa kiều, làm mọi việc để phát triển kinh tế. Hiện nay Trung Quốc có hai Bộ trưởng là người ngoài Đảng cộng sản.
2 – Lý thuyết "mèo trắng, mèo đen" giúp Trung Quốc cởi mở với các học thuyết của nhiều tác giả phương Tây. Trong  kinh tế người ta cho ứng dụng các phương pháp của Ford, Taylor… một thời bị cho là bòn rút mồ hôi người lao động.  Sách kinh tế của Paul Samuelson, William Nordhaus, J.K. Galbraith, v.v. được khuyến khích nghiên cứu. Ông Đăng Tiểu Bình coi những cuốn Cú sốc tương lai, Làn sóng thứ ba… của nhà tương lai học Hoa Kỳ Alvin Toffler là sách gối đầu giường và khuyến khích các nhà lãnh đạo trẻ của  Đảng Cộng sản Trung Quốc đọc để có tầm nhìn xa rộng hơn.
Ông Đặng còn cho rằng: Nếu Đảng không giải quyết tốt vấn đề giáo dục sẽ làm hỏng việc lớn và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử! Nhờ đó mà nền giáo dục bị kìm hãm bởi giáo điều ý thức hệ, phục vụ chính trị một cách thô thiển đã được cải cách nhanh chóng. Giáo dục đại học của Trung Quốc đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến đáp ứng được cho sự nghiệp cải cách mở cửa.
3- Nhờ giải phóng khỏi sự ràng buộc ý thức hệ, văn nghệ sĩ Trung Quốc đã được tự do sáng tác về những đề tài cấm kỵ như Cách mạng thổ cải, Đại cách mạng văn hóa vô sản. Văn học nghệ thuật từ "sa mạc đại cách mạng văn hóa" đã bừng dậy. "Bất kể quan niệm mới, thủ pháp mới, trường phái mới, kiểu hành văn mới nào đều có thể thử nghiệm không có gì phải ngại. Đũng quần làm găng tay, cà vạt đem quấn chân đều có thể thử" (Ý kiến của nhà phê bình văn học Dương Vũ).
Nhiều tác phẩm mổ xẻ sâu sắc nỗi đau lớn của nhân dân trong đại cách mạng văn hóa vô sản được gọi là "Dòng văn học cơn sốt vết thương". Thực tế cho thấy dòng văn học này chẳng những không làm xấu hình ảnh Đảng Cộng sản mà còn làm cho nhân dân thêm vững tin rằng tình cảnh ghê rợn ấy sẽ không bao giờ có cơ hội  tái diễn.
Sau "cơn sốt vết thương" là những "cơn sốt suy ngẫm lại", "cơn sốt cải cách", "cơn sốt tìm về nguồn cội", và hiện nay đến "cơn sốt hiện đại" với nhiếu tác giả nổi tiếng. Vương Sóc được gọi là "giọng nói bất kính của một thế hệ hết ảo tưởng"; Dư Hoa, nhà văn "phát triển tinh thần Lỗ Tấn"; Vệ Tuệ được xem là một Françoise Sagan của xứ sở Nho giáo…
Chính phủ Trung Quốc đã cho đóng cửa cả nghìn tờ báo sống bằng bao cấp, không bán được.
Năm 1987 khi được đọc cuốn Tâm lý văn nghệ của Chu Quang Tiềm, Giáo sư mỹ học Đại học Bắc Kinh, nhà thơ Chế Lan Viên cũng là nhà lý luận sắc sảo của văn học Việt Nam đã phát biểu: "Nhiều kiến thức nhờ có sách này tôi mới được biết!". Bởi sách này viện dẫn những kiến giải về mỹ học của Hegel, Freud, Nietzsche… mà thời ấy các nhà nghiên cứu lý luận của Việt Nam chưa được tiếp cận.
4-  Triết lý "mèo trắng mèo đen" không chỉ được vận dụng trong các chính sách đối nội mà còn thể hiện ở đối ngoại:  Nước nào đó theo chế độ dân chủ hay chuyên chế là việc của họ, điều quan trọng đối với Trung Quốc là quan hệ với họ có thu được lợi ích gì hay không.
Thuyết "ba đại diện": Dân tộc và Hội nhập
Năm 2000, ông Giang Trạch Dân hoàn chỉnh học thuyết Ba đại diện có nội dung là: Đảng Cộng sản Trung Quốc đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện nền văn hóa tiên tiến và đại diện lợi ích của đông đảo nhân dân Trung Quốc. Năm 2002, Đại hội 16 Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa thuyết Ba đại diện vào Điều lệ Đảng. Năm 2004 Quốc hội Trung Quốc cụ thể hóa thuyết Ba đại diện thành những điều cơ bản của Hiến pháp sửa đổi, đặt nền móng cho giải pháp chính trị của nước Trung Hoa tiến tới dân chủ, tự do.
Theo Giang Trạch Dân, sau hơn 20 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cao nhất thế giới, nhưng Đảng Cộng sản đang đứng trước thử thách mới: Đối nội có nhiều vấn đề nảy sinh mà nổi cộm nhất là nạn tham nhũng đã trở thành "quốc họa". Đối ngoại, sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc phải tuân theo các quy tắc cạnh tranh quốc tế, các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa đều bị tác động. Do đó Đảng Cộng sản Trung Quốc cần có một lý luận mới để duy trì địa vị Đảng cầm quyền của dân tộc phù hợp với bối cảnh thế giới hiện đại.

Con rồng Trung Quốc đang vươn mình.

Thuyết Ba đại diện có những ý nghĩa sau đây:
1 – Trung Quốc vẫn còn nằm trong số nước đang phát triển, công nhân công nghiệp vẫn chiếm số đông. Tuy nhiên, thế giới đã bước vào thời kỳ hậu công nghiệp, lao động "cổ xanh" (giai cấp công nhân thời tư bản sơ khai mà Marx đã quan sát) chỉ còn từ 5 đến 10 % không còn là lực lượng sản xuất tiên tiến nữa mà phải nhường vai trò này cho  những người lao động có trình độ kỹ thuật cao. Nhân loại đang bước vào nền kinh tế tri thức với những "lao động bác học".
Thuyết Ba đại diện cung cấp lý luận bỏ qua quan điểm cũ "Đảng cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân, giai cấp có sứ mạng lịch sử đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, thiết lập nền chuyên chính vô sản". Đây là bước phát triển lý luận, giải quyết nhận thức mới về Đảng cầm quyền của nước Trung Hoa hiện đại hóa: Trí thức và doanh nhân có vai trò là lực lượng sản xuất tiên tiến, kinh tế tư nhân đóng vai chủ đạo và nền kinh tế được chi phối bởi cơ chế thị trường. Đảng Cộng sản Trung Quốc phải là Đảng đại diện lực lượng sản xuất tiên tiến.
2 – Trước thời kỳ cải cách mở cửa, "nền văn hóa mới" do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo theo tư tưởng Mao Trạch Đông (Bàn về chủ nghĩa dân chủ mới viết năm 1943), thể hiện đầy đủ nhất trong cuộc Đại cách mạng văn hóa vô sản. Đó là nền văn hóa lấy chính trị làm thống soái, hoàn toàn phụ thuộc vào chính trị, loại bỏ văn hóa truyền thống và  triệt để ngăn chặn ảnh hưởng của các nền văn hóa hiện đại có giá trị nhân văn và dân chủ của nhân loại tiến bộ. Cách mạng văn hóa vô sản lấy đấu tranh giai cấp liên tục làm lý tưởng sống, nội dung tạo dựng xã hội và sáng tạo văn học nghệ thuật. Kết quả là một xã hội đại loạn, một nền văn học minh họa thô thiển.
Nay Quốc hội Trung Quốc thông qua sửa đổi Hiến pháp có 3 điểm lớn là: Bảo vệ quyền sở hữu tư nhân; Tôn trọng và bảo vệ nhân quyền; và cụ thể hóa lý thuyết Ba đại diện của Đảng Cộng sản, trong đó có đại diện nền văn hóa tiên tiến.
Trả lời phỏng vấn của The Science Monitor tháng 4 năm 2004, ông Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch, Tổng giám đốc Invest Consult Group đã có lý khi cho rằng Giang Trạch Dân "dùng thuật ngữ nền văn hóa tiên tiến để tránh đụng chạm trực tiếp đến chính trị". Và "Đảng Cộng sản Trung Quốc thể hiện sự tiên tiến về chính trị do đó mới có hệ quả là thừa nhận quyền con người và hệ quả thứ hai là thừa nhận quyền sở hữu tư nhân các tài sản".
Đúng vậy, nền văn hóa tiên tiến phải là nền văn hóa giải phóng cá nhân, đầy ý thức công dân, tiếp nhận những giá trị tinh hoa của nhân loại, tất nhiên phải tương ứng với một thể chế chính trị tiên tiến, thực sự tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền.
3 – Đảng Cộng sản Trung Quốc "đại diện cho lợi ích của đông đảo nhân dân Trung Quốc" tức là bỏ qua khái niệm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mao và hướng tới chủ nghĩa dân tộc và quốc gia Trung Quốc. Mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội Trung Quốc từ nay có thể yên tâm rằng Đảng Cộng sản là trung tâm đoàn kết, là chỗ dựa về vật chất và tinh thần của họ.
Thuyết Ba đại diện là một tổng thể có giá trị kim chỉ nam hành động của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cung cấp phương pháp luận cho công tác xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu một Đảng lãnh đạo dân tộc ở thời kỳ hiện đại hóa đất nước, trong thế giới  hậu công nghiệp.
Ngày 10-10-2009, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương  Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11, đồng chí Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nói rất đúng rằng: "Công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng, ý nghĩa sống còn với Đảng và chế độ". Tham khảo thuyết Ba đại diện của  Đảng cộng sản Trung Quốc có lẽ sẽ gợi cho chúng ta nhiều điều để hoạch định "bản thiết kế" xây dựng Đảng thích hợp cho dân tộc ta trong nhiệm kỳ Đại hội 11 này?
Trung Quốc có định hướng cải cách chính trị
Năm 2007 cuốn sách Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội của Tân Tử Lăng đã gây vang dội trong dư luận nhân dân Trung Quốc bởi sự trình bày trung thực lịch sử và quan trọng hơn bởi tác giả đưa ra kiến nghị mới mẻ: "Trong cải cách hình thái ý thức phải lấy quan điểm phát triển khoa học, lấy con người làm gốc của Hồ Cẩm Đào làm tổng cương, lấy chủ nghĩa xã hội dân chủ của Marx – Engel lúc cuối đời, chủ nghĩa dân chủ mới của Mao Trạch Đông, cũng như lý luận  của Đặng Tiểu Bình làm cơ sở… Hệ thống lý luận này nên đặt tên là lý luận chủ nghĩa xã hội dân chủ, ghi vào Điều lệ và Hiến pháp… Đảng Cộng sản Trung Quốc đổi tên là Đảng xã hội Trung Quốc, tham gia Quốc tế Đảng Xã hội nhằm kế thừa trào lưu lịch sử Đảng Dân chủ Xã hội mà Marx – Engel đã xây dựng…"

Lý Nhuệ, nguyên Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên thư ký của Mao Trạch Đông viết lời tựa sách này có đoạn: "Chuyên chế một Đảng dẫn tới hình thái ý thức được xác định là cái tuân theo duy nhất… là phần sai lầm trong chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Stalin, và lý luận Mao Trạch Đông… Những lý luận và chủ trương đã bị Engel lúc cuối đời thừa nhận "Chỉ là ảo tưởng"…
"Chúng ta nên tôn thờ chủ nghĩa Marx giàu, có thể thúc đẩy sức sản xuất tiên tiến và phát triển văn hóa tiên tiến – Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ và triệt để chia tay với Chủ nghĩa xã hội nghèo – lý luận và phương pháp xây dựng Chủ nghĩa xã hội của Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông".
Nhà báo Fareed Zakaria của CNN  thuật lại cuộc phỏng vấn của ông hồi mùa thu 2008 với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã viết: "Ôn Gia Bảo nói rõ ràng rằng đất nước ông đang chuyển động hướng về cái ngày nó sẽ tương tự một nền dân chủ kiểu phương Tây".
Sau đây là nguyên văn lời đáp của Ôn Gia Bảo:
"Một là chúng tôi cần cải tiến từng bước hệ thống bầu cử dân chủ, sao cho quyền lực sẽ thực sự thuộc về nhân dân và sử dụng để phục vụ nhân dân.
Hai là chúng tôi cần cải tiến hệ thống pháp lý, điều hành đất nước theo pháp luật và củng cố đất nước dưới sự thống trị của pháp luật. Và chúng tôi sẽ xây dựng một hệ thống tư pháp độc lập và công chính.
Ba là, chính phủ được đặt dưới sự giám sát của nhân dân và như ông yêu cầu, thì hãy yêu cầu chúng tôi tăng cường sự minh bạch trong các công việc của chính phủ. Và đặc biệt, chính phủ cũng cần phải chấp nhận bị giám sát bởi các phương tiên truyền thông và những đảng phái khác".
Nhiều điều không nên học Trung Quốc
1 – "Đàn áp để ổn định và phát triển: Mô hình Trung Quốc"
Đó là tựa đề bài viết của giáo sư Ngô Vĩnh Long. Bài viết nhắc lai nhiều cuộc đàn áp của Trung Quốc, đặc biệt là sự kiện Thiên An Môn đè bẹp cuộc biểu tình của sinh viên đòi dân chủ  bằng xe tăng khiến cho cả thế giới kinh hoàng. Bài viết nhận định "Mô hình phát triển của Trung Quốc là dùng tăng trưởng kinh tế để đè bẹp tự do và dân chủ".
Từ năm 2002, Trung Quốc thẳng tay đàn áp người dùng công nghệ truyền thông mới, lập trang web để thảo luận về tự do, dân chủ, bắt giam nhiều nhà bất đồng chính kiến, không cho các giáo sư có quan điểm tiến bộ được giảng dạy.
Gần đây trong bài viết "Những nhà dân chủ có tội", ông Mã Kiện dự đoán hậu quả của chính sách nói trên sẽ đưa tới: "Một xã hội khép kín, trước sau gì cũng trở lại một nền kinh tế khép kín ".
Góp ý kiến với Đảng và Nhà nước ta "Xây dựng chiến lược phát triển trong giai đoạn mới, với quan điểm phát triển và thích nghi", tác giả Nguyễn Trung nêu câu hỏi "Cần tạo ra cho nước ta có đủ cả hai khả năng phát triển và thích nghi – nhưng bằng cách nào?" Tác giả trả lời: "Chỉ có chủ nghĩa yêu nước, dân chủ và tự do mới có khả năng tìm ra những câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi trên."
Khi đề nghị xác lập một lộ trình để phát triển đến năm 2020, tác giả cho rằng "Cải cách chính trị phải tiến lên trước và trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế", và "Vấn đề phát huy dân chủ để thực hiện đoàn kết dân tộc, xây dựng đồng thuận xã hội và tranh thủ được hậu thuẫn quốc tế trở thành đòi hỏi sống còn".
Tôi tin rằng ở đây tư tưởng tác giả  Nguyễn Trung (và nhiều tác giả Việt Nam gần đây như Nguyễn Văn An, Tương Lai…) cao hơn hẳn những người cầm trịch Cải cách của Trung Quốc. Mong rằng  tư tưởng đó sẽ được trở thành nội dung thảo luận  ở Đại hội 11 của Đảng cộng sản Việt Nam.
2- Tuy có cảnh báo của Đặng Tiểu Bình từ lâu, nhưng sự cách biệt giàu nghèo, cách biệt giữa thành thị và nông thôn ở Trung Quốc vẫn càng ngày càng lớn. Tình trạng cướp đất đai của nông dân diễn ra khắp nơi, khiến những cuộc biểu tình, nổi loạn năm sau cao hơn năm trước (Năm 2005 có 87.000 cuộc nổi loạn. Năm 2008 có 100.000 cuộc).
Sau 30 năm cải cách mức sống của người dân tuy có được cải thiện nhưng bình quân thu nhập còn kém xa các nước phát triển trung bình. Thế nhưng, số tỉ phú đôla của Trung Quốc chỉ đứng sau Mỹ (Mỹ có 359 tỉ phú, Trung Quốc có 130, Nga có 32, Ấn Độ có 24).
Giai cấp công nhân Trung quốc bị chèn ép khốn quẫn. Có tài liệu cho biết 52% công nhân nhập cư không được thanh toán đủ tiền lương và đúng hạn.
3 – Ở trên, tôi đã nêu những tuyên bố của các nhà lãnh đạo Trung Quốc nói rõ mục tiêu, lộ trình đưa đất nước họ đến tự do dân chủ như các quốc gia tiên tiến. Tuy nhiên việc thực hiện lộ trình ấy rất chậm chạp.
Bài báo "Bắc Kinh đối mặt với cuộc sát hạch mới về tính hợp pháp" của Verna Yu trên Asia Times viết: "Những điều mà Đảng hứa hẹn cách đây 60 năm vẫn chưa thành hiện thực"; "Chính phủ đã thi hành các sách lược nặng tay hơn nhằm vào những người mà Chính phủ cho rằng đó là sự đe dọa, chẳng hạn trừng trị thẳng tay các tổ chức phi chính phủ, khai trừ khỏi luật sư đoàn nhiều luật sư bảo vệ nhân quyền, cũng như bắt bớ các nhà hoạt động bảo vệ quyền lợi nổi tiếng". Bài viết nêu ý kiến của một nhà quan sát Trung Quốc kỳ cựu: "Nếu lãnh đạo Trung Quốc không thúc đẩy cải cách chính trị và thực thi dân chủ đích thực thì chẳng bao lâu nữa vốn liếng chính trị sẽ hết".
Tình trạng như trên ở ta gọi là "Nói vậy mà không phải vậy".
4 -  Ngày nay nhân loại tiến bộ đều đề cao hòa bình hợp tác giữa các dân tộc. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng luôn luôn khẳng định mong muốn hòa bình hợp tác với các nước láng giềng. Tuy nhiên nhìn lại có thể thấy Trung Quốc chưa thể hiện điều đó với tất cả các nước láng giềng có chung biên giới, đặc biệt là với Việt Nam, một đất nước có cùng thể chế chính trị và luôn luôn mong muốn thực hiện "16 chữ vàng" đầy tình hữu nghị mà lãnh đạo cấp cao hai bên thường nhắc nhở. Nhiều năm qua hành động của Trung Quốc trên biển Đông khiến tất cả các nước láng giềng đều lo ngại.
Trung Quốc không có Hồ Chí Minh!

Trung Quốc không có được Hồ Chí Minh.

Những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc kế tục Mao phải nghĩ ra các học thuyết để tìm lối thoát cho hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mô hình Xô viết lỗi thời, vì họ không có Hồ Chí Minh!
Nhiều nhà lý luân hay nhắc câu trả lời của Hồ Chí Minh vì sao người không viết lý luận cộng sản, rồi đã cạn nghĩ khi cho rằng Cụ Hồ đã nhận mình kém cụ Mao! Tôi cho rằng ở trường hợp này, Cụ Hồ tế nhị không tiện nói mình ít đầu tư công sức vào lĩnh vực lý luận đó! Bởi vì nếu xét về kiến thức, tầm văn hóa (kể cả văn hóa Trung Hoa), tài hoa, sự trải đời, trình độ ngoại ngữ… thì cụ Hồ không hề kém cụ Mao! Nhưng, Cụ Hồ chỉ coi chủ nghĩa Lênin là một trong những phương tiện để giành Độc lập dân tộc mà Cụ đã toàn tâm theo đuổi suốt đời. Chính các thế lực thực dân, đế quốc đã buộc Cụ phải dựa hẳn vào Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa.
Cụ Hồ đã viết bằng máu mình hòa với máu dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức trong Bản án chế độ thực dân Pháp. Cụ Hồ rất xuất sắc khi viết những lời thỉnh cầu của dân tộc mình  gửi đến Hội nghị Versailles. Nhưng khi được gợi chuyện viết về lý thuyết cộng sản Cụ Hồ kính nhường các cụ kia, bởi biết rằng "Nghề này thì lấy ông này tiên sư"!
Cụ  Hồ chỉ viết duy nhất một văn bản cộng sản là Chánh cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (trong ngày thành lập Đảng ngày 3 – 2 – 1930) đã bị Stalin cho là một người mang nặng tư tưởng dân tộc chứ chưa có quan điểm vô sản đầy đủ!
Bản Di chúc Cụ viết với biết bao trăn trở để lại cho đời và nhiều lần xem lại, bổ sung, điều mong ước cuối cùng là: "Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" rất khác với những ngôn từ đậm ý thức hệ như các lãnh tụ Trung Quốc thời đó.
Nhưng cả Mao, Đặng và nhiều nhân vật lỗi lạc khác không thể nói nổi những câu này của cụ Hồ: "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do!"; "Nếu nước được độc lập mà nhân dân không có tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì"; "Bao nhiêu lợi ích đều của dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới và xây dựng là trách nhiệm của dân", v.v.
Chúng ta không cần phải học Trung Quốc trong vấn đề trọng đại nhất là tìm đường để Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng của dân tộc, phù hợp với thời đại văn minh của nhân loại. Chúng ta chỉ cần trở về nguồn, về với Hồ Chí Minh:
"Tôi chỉ có một Đảng, Đảng Việt Nam!".
T. V. C.
Nguồn: Bài đã đăng TuanVietNamNet, sau đó rút xuống, bỏ một số câu chữ rồi lại đưa lên với tiêu đề: Học hay không học những gì từ Trung Quốc. Xin xem: tuanvietnam.net. Bản BVN đăng lại ở đây là bản gốc chưa thay đổi.
http://boxitvn.blogspot.com/2010/02/hoc-hay-khong-hoc-trung-quoc.html

Tống Văn Công. 

Từ biên giới phía Bắc 30 năm trước đến Biển Đông hôm nay

Dân tộc ta vốn là một dân tộc bất khuất, không chịu cúi đầu trước bất cứ một trở lực ngoại bang nào. Lịch sử nghìn năm ghi danh các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ ông cha ta là minh chứng hùng hồn. Binh pháp dạy rằng "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng", chúng ta đã thắng là vì tiền nhân của chúng ta nắm rất vững triết lý này. Tìm hiểu hiện trạng, nội tình, ý đồ và hành xử của các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong quá khứ và hiện tại, tự soi lại mình là điều cần thiết để chúng ta không bị động đối với người láng giềng "miệng nam mô, bụng bồ dao găm". Những phân tích của tác giả Phạm Đình Trọng nằm trong bối cảnh đó, cũng là điều để cho các nhà lãnh đạo Việt Nam và chúng ta suy nghĩ để có những kế sách đối trị. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Bauxite Việt Nam
Dạo ấy, khoảng năm 1984, Xưởng phim Quân đội nơi tôi làm việc có chiếu bộ phim truyền hình 11 tập Khải hoàn lúc nửa đêm của Trung Quốc. Phim truyện truyền hình nhưng mang tính chính luận chính trị về một sự kiện lịch sử vừa xảy ra trong quan hệ Việt – Trung, nên Đại sứ quán ta ở Bắc Kinh đã thu lại từ màn hình ti vi, chuyển về nước để ở nhà tham khảo.

Khải hoàn lúc nửa đêm kể về thân phận những trí thức, những thị dân ở một thành phố Trung Quốc bị đày đọa trần ai trong cách mạng văn hóa. Cách mạng văn hóa đã làm tan hoang đất nước, phân rã xã hội, li tán gia đình. Lại kể rằng biên giới phía Nam Trung Quốc bị Việt Nam quấy nhiễu, lấn chiếm đã thu hút nhiều người trong số họ vào quân đội, Nam tiến bảo vệ biên cương tổ quốc Trung Hoa. Cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979 đã tập hợp những con người khốn cùng ấy bị đánh thức lòng yêu nước, thức tỉnh ý thức dân tộc Đại Hán, được thổi vào một  khí thế mới để xông vào trận chiến, chấp nhận những thương tổn to lớn để bảo vệ biên cương. Cuộc chiến kết thúc, giữa đêm tối mịt mù, họ sát cánh bên nhau, trùng trùng đội ngũ trở về xây dựng lại đất nước Trung Hoa.
Chính quyền Bắc Kinh đã đưa hơn nửa triệu quân tràn qua biên giới Việt Nam, bắn giết dân lành, đốt phá nhà cửa, vơ vét của cải của dân ta; rồi phơi xác ngổn ngang trên đất nước ta. Cuộc chiến ấy, ngoài miệng, bằng giọng kẻ cả Đặng Tiểu Bình huênh hoang là dạy cho Việt Nam một bài học, nhưng thực chất cuộc chiến đẫm máu đó hoàn toàn vì nội tình đất nước Trung Hoa, là một kế sách quen thuộc lấy đối ngoại giải quyết đối nội của họ.
Từ khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, tháng Mười năm 1949 đến cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam, tháng Hai năm 1979, gần ba mươi năm đất nước Trung Hoa liên tục có chiến tranh và đại loạn: chiến tranh thôn tính Tây Tạng năm 1950 – 1951; chiến tranh đối đầu với Mỹ ở Triều Tiên năm 1950 – 1953; cuộc chiến bắn pháo sang đảo Kim Môn, Mả Tổ của Đài Loan kéo dài suốt những năm 1954, 1955 và 1958; chiến tranh biên giới Trung Quốc – Ấn Độ, 1962; chiến tranh biên giới Trung Quốc – Liên Xô năm 1969. Cuộc đại loạn cải cách ruộng đất phân chia người dân Trung Quốc thành những giai cấp đối kháng. Đại loạn toàn dân làm gang thép gây chia rẽ cả giới lãnh đạo Trung Quốc. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thời đó, Nguyên soái đầy công trạng Bành Đức Hoài phản đối chương trình điên rồ này đã bị Mao Trạch Đông cách chức và đày ải. Đại loạn Công xã Nhân dân đề cao những giá trị giả, đưa một nông dân ít học, Chủ nhiệm Công xã Đại Trại, Trần Tích Liên lên đến chức Phó Thủ tướng. Đến cuộc Đại cách mạng văn hóa thì cả đất nước Trung Hoa rộng lớn bị biến thành  một đấu trường sôi sục và đẫm máu. Những cuộc đại loạn trong lòng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng thực sự là những cuộc chiến tranh tàn phá đất nước này. Cuộc đại loạn cách mạng văn hóa điên rồ còn hơn cả chiến tranh vũ khí vì nó đánh tan rã cả ý chí và niềm tin của gần một tỉ dân Trung Quốc thời đó, đánh cả vào những giá trị đạo đức, luật pháp, trật tự xã hội!
Cuộc cách mạng Văn hóa của Trung Quốc (1966-1976)

Trong khi những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật liên tiếp đã đưa những nước công nghiệp tới sự phát triển thần kì, thì chiến tranh và đại loạn triền miên ở Trung Quốc thời Mao Trạch Đông đã làm cho nước Trung Hoa khổng lồ dân số đông nhất thế giới thành một trong những nước có số người nghèo đói nhiều nhất thế giới. Hậu quả nặng nề nhất của những cuộc chiến tranh và đại loạn triền miên là sự hoảng loạn, rã rời trong lòng người dân và sự phân rã, chia rẽ trong xã hội. Muốn xây dựng lại đất nước Trung Hoa kiệt quệ và hoảng loạn đó cần có vốn liếng và công nghệ hiện đại, lại càng cần phải có cả khí thế và sự hào hứng trong lòng người dân. Những người lãnh đạo Trung Quốc sau Mao Trạch Đông toan tính giải quyết hai đòi hỏi này bằng cuộc cất quân sang đánh Việt Nam.
Với cuộc chiến tranh "dằn mặt" với Việt Nam năm 1979, Trung Quốc đã gửi tới phương Tây, nơi có sẵn đồng vốn và công nghệ hiện đại mà Trung Quốc đang thèm khát một thông điệp rằng tư tưởng xã hội của Trung Quốc đã thay đổi, Trung Quốc không còn nằm trong khối "Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại" nữa. Cuộc chiến đó cũng là món quà cầu thân của Trung Quốc với phương Tây.
Vu cho Việt Nam gây sự quấy nhiễu, lấn chiếm biên cương Trung Quốc và vô ơn bội nghĩa đối với sự giúp đỡ to lớn của Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, cuộc chiến tranh phi nghĩa Trung Quốc xâm lược Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh chính nghĩa vì toàn vẹn biên cương, lãnh thổ Trung Hoa và cũng vì đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của người dân Trung Hoa, vì cả uy thế, danh dự Đại Hán nữa! Cuộc chiến tranh được nhà nước Trung Quốc tuyên truyền là chính đáng và cần thiết đó đã đánh thức tinh thần Đại Hán trong lòng người Trung Quốc đang rã rời, hoảng loạn, đã tập hợp họ lại thành một khối đoàn kết Đại Hán hùng hậu, đưa họ vào cuộc chấn hưng đất nước Trung Hoa.

Hải quân Trung Quốc bắt bớ đánh đập và tịch thu công cụ của ngư dân Việt Nam

Một đất nước khổng lồ luôn rối ren, hỗn loạn, nội bộ luôn đối kháng, li tán thì kế sách lấy chiến tranh với bên ngoài, lấy sự đe dọa từ bên ngoài để tập hợp nhân dân, củng cố nội bộ là kế sách quen thuộc của nhà nước Trung Quốc. Ngày nay cũng thế, với Việt Nam họ vẫn luôn mồm nói tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp biển Đông sẽ giải quyết bằng đối thoại. Nhưng bằng hành động họ vẫn duy trì tình trạng căng thẳng, nóng bỏng ở biên giới, ở biển Đông. Phong tỏa biển của Việt Nam. Bắn giết dân Việt Nam đang làm ăn trên lãnh thổ Việt Nam. Chống phá Việt Nam khai thác tài nguyên trên biển Việt Nam rồi vu cho Việt Nam gây sự chiếm biển của họ. Đọc những trang mạng tiếng Hoa và cả báo viết, báo nói tiếng Hoa thấy rõ việc làm này của họ đã tập hợp được tinh thần Đại Hán sôi sục như thế nào!
Trong khi những người lãnh đạo Trung Quốc luôn khuấy động sự tranh chấp căng thẳng, nóng bỏng ở biên giới đất liền trước đây và ở biển Đông, ở Trường Sa, Hoàng Sa hiện nay để kích động tinh thần Đại Hán, khơi dậy ý thức dân tộc, tập hợp dân chúng, thì có lẽ sự "giao thiệp" nhu nhược, nhượng bộ, cầu hòa của chúng ta lâu nay đang làm chia rẽ, li tán dân tộc ta! Vì thế, phục hưng tinh thần tự lực tự cường, kêu gọi đề cao cảnh giác, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải, trở lại với truyền thống sẵn sàng giữ gìn biên cương của Tổ quốc vốn rực cháy trong lòng dân tộc từ hàng ngàn năm – hơn bao giờ hết là một yêu cầu vô cùng cấp bách. 

Phạm Đình Trọng
ĐN Mạng Bauxite Việt nam biên tập. 

http://boxitvn.blogspot.com/2010/02/tu-bien-gioi-phia-bac-30-nam-truoc-en.html


03 tháng 3 2010

Tập trung vào cướp biển và ngư dân là hành động dẫn tới thảm họa

Thêm một tiếng nói cảnh báo của một Đô đốc Hoa Kỳ về nguy cơ phát triển quân sự của Trung Quốc, giữa lúc các vị lãnh đạo một số nước kể cả Tổng thống Obama hình như cũng đang cả tin vào lời tuyên bố «hòa nhã» của kẻ vốn đang muốn ngấp nghé vị trí siêu cường của chính nước Mỹ.
Bauxite Việt Nam
Đô đốc James A. Lyons [1]


Hải quân Trung Quốc tăng cường nhanh chóng số lượng và chất lượng
Trong chuyến thăm Úc gần đây, Bí thư Hải quân, ông Ray Mabus làm nhẹ bớt mối đe dọa về việc nêu ra chuyện Trung Quốc nhanh chóng hiện đại hóa lực lượng quân sự của mình, đã nhấn mạnh trong sách trắng về quốc phòng của Úc năm 2009. Với mối đe dọa không xác đáng, chương trình hiện đại hóa lực lượng chưa từng thấy của Trung Quốc đã phát triển với tốc độ hai con số trong 10 năm qua.
Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rằng việc hiện đại hóa lực lượng quân sự của họ không hề đe dọa ai cả và họ chỉ có mục đích phòng thủ, nhưng đó chỉ là thủ đoạn gian trá cổ điển của Trung Quốc. Mỗi hệ thống vũ khí mới Trung Quốc đã mua hoặc phát triển, được thiết kế đặc biệt nhắm mục tiêu hoặc đe dọa lực lượng quân sự Hoa Kỳ. Ví dụ, việc phát triển tên lửa đạn đạo chống tàu bè của Trung Quốc được thiết kế nhắm mục tiêu vào các tàu sân bay Mỹ – không phải nhắm vào các con tàu chở hàng hoá thương mại. Trung Quốc đã mua của Nga tên lửa hành trình Siêu âm thanh, SS-N-22 Sunburn, loại được thiết kế đặc biệt để tấn công tuần dương hạm và khu trục hạm Aegis. Nó đã tăng gấp ba lần số lượng tên lửa hành trình chiến đấu chống tàu bè trên mặt biển, lên tới 36.

Chương trình hiện đại hóa chiến lược của Trung Quốc gây nhiều ấn tượng. Bốn tên lửa hạt nhân mới – vài tên lửa có lẽ có nhiều đầu đạn – cùng với việc giải thích gần đây về tên lửa đạn đạo và chống vệ tinh có khả năng đánh chặn, thì không thể bỏ qua. Và cũng không thể bỏ qua việc Trung Quốc phát triển một máy bay ném bom chiến lược mới cùng với một máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm.
Việc xây dựng các căn cứ tàu ngầm dưới đất được ghi nhận ở đảo Hải Nam, nơi có thể chứa cả loại tàu ngầm tấn công hạt nhân lẫn tàu ngầm chiến lược, điều này không thể không gây sự chú ý. Tính đến năm nay, Trung Quốc có thể có 60 tàu ngầm tấn công. Vị trí chiến lược của đảo Hải Nam cho phép tiến nhanh vào các đường biển quan trọng, dẫn tới vùng Đông Bắc châu Á và Úc, cộng thêm việc sẵn sàng tiến vào nhiều vùng biển rộng lớn ở Tây Thái Bình Dương. Điều kiện thuận lợi này, cùng với hành động bất hợp pháp của Trung Quốc đòi chủ quyền toàn bộ vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) là một phần "vùng biển lịch sử của nó", phải là điều làm mọi người thức tỉnh. Hơn nữa, tuyên bố đơn phương về chủ quyền đối với quần đảo tranh chấp ở Biển Đông, bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa, Senkaku và Đài Loan, cho thấy mục tiêu của Trung Quốc là thống trị của một chuỗi đảo bao gồm Đài Loan. Đài Loan là chìa khóa để mở rộng sự thống trị ra chuỗi đảo thứ hai bao gồm Guam.
Sách trắng về Quốc phòng của Úc xác nhận rõ mối đe dọa của Trung Quốc đối với an ninh quốc gia Úc và cũng nhấn mạnh những tác động xấu có thể có đối với lực lượng hải quân và thủy quân lục chiến Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương. An ninh của Úc không chỉ dựa vào lực lượng quân sự độc lập của chính nó, mà còn dựa vào trụ cột chiến lược cung cấp bởi đồng minh quan trọng nhất của mình là Hoa Kỳ. Vì lý do đó, Úc đang quan tâm tới việc Hoa Kỳ giảm các lực lượng chiến lược và thiếu chương trình hiện đại hóa. Việc mở rộng sự che chở chiến lược của Hoa Kỳ thì quan trọng đối với Úc, cũng như đối với các bạn bè khác của chúng ta và các đồng minh trong khu vực, bao gồm Nhật Bản và Hàn Quốc.
Theo báo cáo, ông Mabus nói rằng những thách thức trước mắt để ổn định Thái Bình Dương không xuất phát từ việc phát triển sức mạnh hải quân Trung Quốc, nhưng từ mối đe dọa về cướp biển, khủng bố và đánh cá bất hợp pháp. Quan điểm này phản ánh rõ ràng là chiến lược mới của chính quyền Obama không chuẩn bị cho các cuộc xung đột lớn, và đây là một thảm họa. Hơn nữa, nó củng cố việc Trung Quốc tuyên truyền rằng việc hiện đại hóa của họ chỉ với mục đích phòng thủ. Trung Quốc tiếp tục tuyên bố rằng họ đã cam kết không bao giờ gây hấn với bất kỳ ai. Việc tuyên truyền này được những người ủng hộ Trung Quốc lặp đi lặp lại, cộng thêm một dòng được cho là của Henry Kissinger rằng "Chủ nghĩa đế quốc quân sự không phải là phong cách của Trung Quốc". Nhưng sau đó là sự xâm lược của Trung Quốc ở Tây Tạng, Việt Nam, Ấn Độ, Nga và Biển Đông, chắc chắn là không bình thường.
Chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc sẽ vươn xa thêm bao nhiêu nữa, khi nào, vào cuối thập niên này, nó có thể có nhiều tàu sân bay, phát triển hải quân với các tàu lưỡng cư lớn, có vũ khí hạt nhân gần như tương đương [với Hoa Kỳ], Tổng thống thành công với việc Hoa Kỳ cắt giảm vũ khí có đầu đạn hạt nhân thêm nữa, và việc [Trung Quốc] gia tăng số lượng máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm? Không những hình ảnh này làm một số đồng minh Úc của chúng tôi lo lắng, mà việc chính quyền Obama từ chối xem xét Trung Quốc gia tăng mức độ phát triển sự đe doạ như thế nào [cũng làm chúng tôi lo lắng].
Tôi đồng ý với ông Mabus rằng cam kết của chúng tôi ở  khu vực Tây Thái Bình Dương vẫn là tuyệt đối. Nhiều chương trình cần được hỗ trợ để tăng cường sự cam kết vượt quá ngân sách Hải quân.
Việc mua bán đã được công bố gần đây của chúng tôi về hệ thống vũ khí phòng thủ Patriot cho Đài Loan là một khởi đầu tốt, nhưng nhiều việc cần phải làm hơn. Đài Loan cũng có nhu cầu mua máy bay chiến đấu F-16 bây giờ, sau đó là loại F-35 thế hệ thứ năm cuối thập kỷ này, và tàu ngầm. Chúng tôi không bao giờ để cho Trung Quốc khoác lác – như Trung Quốc đe dọa việc chấm dứt sự "hỗ trợ" gần như là vô dụng của họ để kết thúc chương trình hạt nhân của Iran và Bắc Triều Tiên – ngăn sự giúp đỡ của Mỹ đối với nước dân chủ Đài Loan. Ngân sách Hải quân cần có để tài trợ cho một tàu sân bay thứ 12, cộng thêm nguồn tài trợ cho lực lượng chính của hải quân trên mặt biển, gắn liền với các khả năng của tàu khu trục loại Zumwalt để chống lại các mối đe doạ biết được và các mối đe doạ trong tương lai.
Không giống như ông Mabus, tôi có thể nhìn thấy rõ ràng rằng Trung Quốc là một mối đe dọa thực sự và đang phát triển đối với lực lượng hải quân Mỹ tại châu Á, cũng như đối với đồng minh và bạn bè của Hoa Kỳ như Đài Loan, và [còn là mối đe doạ] đối với sự tự do di chuyển trong các vùng hàng hải và bên ngoài. Chối bỏ những sự thật này sẽ không làm cho Trung Quốc biến mất và sẽ không gây ấn tượng với các đồng minh của chúng tôi.
[1] Đô đốc Hải quân đã nghỉ hưu, ông James A. Lyons, là Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ và đại diện cao cấp của quân đội Mỹ tại Liên Hợp Quốc.
Người dịch: Ngọc Thu
Dịch từ: http://www.washingtontimes.com/news/2010/feb/12/underestimating-china/
Nguồn: http://www.seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/actions-from-other-countries/204-o-c-lyons-anh-gia-thp-trung-quc