Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

15 tháng 6 2010

Sự im lặng lịch sử và món nợ hậu thế



image
"rồi lại còn lên tiếng bênh những việc làm lộng hành của họ trên Biển Đông tưởng làm thế là giữ được 16 chữ vàng, tức giữ được "cái ghế" cho mình, thì có phải là giúp họ hợp thức hóa hành vi xâm lược?"
Hoàng Giang là bút danh của một đảng viên cao cấp ĐCSVN hiện nay đã nghỉ hưu. BVN rất kính trọng tác giả nhưng vốn không chủ trương trình bày ý kiến phản biện với Đảng mà chỉ phản biện với các cơ quan công quyền, nên xin đăng bài này với trách nhiệm thuộc cá nhân tác giả, để mời bạn đọc ngẫm nghĩ về một vấn đề thực tiễn của xã hội chúng ta nhìn trên bình diện lý thuyết và từ góc độ Đảng mà nói.
Thật ra, lâu nay, nhiều nhà trí thức như nhà văn Nguyên Ngọc, cũng đã băn khoăn trăn trở rất nhiều về việc: lẽ ra ngay sau 1975 chúng ta cần có một đề án tâm huyết cho công cuộc phục hưng dân tộc, nhằm kiên trì xây dựng lại đời sống tinh thần mọi mặt của người Việt, nhất là mặt nền tảng đạo đức, lương tri, lối sống, phong tục... trên toàn bộ xã hội Việt Nam vốn đã bị nhàu nát sau 30 năm chiến tranh. Nhưng các bậc lãnh đạo thuở bấy giờ vì quá say men chiến thắng đã để lỡ mất cơ hội ngàn vàng ấy. Bây giờ thì, cùng với một thiết chế hình như chưa thích hợp áp đặt khiên cưỡng sau bao nhiêu năm, cộng với một nền kinh tế thị trường đôi khi không có sự hướng dẫn của lý trí xã hội và của pháp quy chặt chẽ gây nên không ít đảo lộn trong đời sống mà sự chi phối ngược của các nhóm lợi ích là một trong những tác nhân tệ hại, những hiện tượng hỗn loạn bộc phát ngày càng làm cho cái phần nền tảng tinh thần xã hội trở nên suy thoái, nham nhở một cách bi đát. Giải pháp nào đây? Các vị ngồi trên đỉnh cao chót vót có lúc nào thoáng nghĩ đến điều đó hay không hay ngày đêm chỉ dành hết tâm can cho giấc mơ... siêu dự án và đại dự án?
Bauxite Việt Nam
Hình như dân tộc nào cũng có câu "Im lặng là vàng!" Dù câu này có thể được diễn đạt có chút ít khác nhau, nhưng nội dung đều cùng chứa đựng cái hàm ý ấy. Qua câu phương ngôn này cho thấy trong văn hóa ứng xử, dân tộc nào cũng đề cao sự khiêm tốn và sự kiệm lời, sự biết lắng nghe và sự biết suy xét, sự biết nhẫn nhịn và sự biết kiềm chế trước khi nói; nếu không cần, hoặc chưa cần thì im lặng vẫn là chọn lựa tối ưu.
Thế nhưng, trước bất công của xã hội, trước áp bức của cường quyền, trước một vấn đề có liên quan đến tồn vong của đất nước thì sự im lặng của con người sẽ có ý nghĩa gì đây?
Do chưa nắm bắt được vấn đề? Do thiếu thông tin? Do bị bưng bít? Do hèn nhát? Do dốt nát? Do ngu muội? Do tắc trách? Do thiếu tự tin? Do thiếu quyết đoán? Do đồng tình?
Có lẽ các câu hỏi trên có thể chỉ là những câu trả lời chính xác cho từng đối tượng và từng trường hợp cụ thể, song cũng có thể là câu trả lời tổng hợp đối với tất cả những nội dung được hỏi, để dành cho những ai có trách nhiệm với lịch sử mà lại im lặng trước thực trạng xã hội được mô tả.
Cái Gian và cái Ác luôn luôn muốn bít mắt, bưng tai và bịt miệng mọi người bằng sự lừa bịp, bằng sự dối trá lẫn bằng quyền uy và bạo lực để chúng được tự do hoành hành. Sự im lặng của mọi người trong xã hội là đúng với mong mỏi của kẻ gian, kẻ ác.
Sự im lặng trước bất công của xã hội, trước áp bức của cường quyền, nhất là trước các sự kiện có liên quan đến tồn vong của đất nước cũng đồng nghĩa là món nợ ngàn đời của các thế hệ đi trước đối với các thế hệ con cháu mai sau. Xã hội nào mà có hiện tượng đó xảy ra là một xã hội thực sự vô phúc và bất hạnh.
Hầu như tất cả cán bộ và quần chúng cách mạng Việt Nam đều thấm nhuần cái tên gọi của cuộc cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân, cái tên mà Đảng ta luôn nêu cao trong suốt quá trình tiến hành cách mạng từ năm 1930 đến năm 1975, cũng như cái tên Việt nam - Dân chủ - Cộng hòa, cái tên vinh quang đã từng được thế giới biết đến trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cái tên một thời luôn là chỗ dựa tinh thần, là niềm tin và mục tiêu chiến đấu của biết bao thế hệ chiến sĩ và quần chúng cách mạng trong suốt 30 năm dài qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bởi vì cái tên đó đồng nghĩa với việc nước Việt Nam đã thực sự có tên trên bản đồ thế giới, đồng nghĩa với một nước Việt Nam đã được độc lập và đang phấn đấu cho một nền độc lập, tự do hoàn toàn.
Thế nhưng, ngay khi vừa hoàn thành giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, người ta đã võ đoán xóa bỏ ngay giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân, giai đoạn lẽ ra phải được tiếp nối sau giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc như Đảng ta đã từng long trọng hứa hẹn với quần chúng, với dân tộc khi động viên họ tham gia và ủng hộ tiến trình cách mạng. Người ta đã xóa bỏ tên nước, xóa bỏ hiến pháp, xóa bỏ nền pháp quyền đầu tiên của cách mạng, xóa bỏ nền dân chủ đã từng hứa hẹn để thay vào đó là "cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa" và "nền chuyên chính vô sản"; thậm chí đến cái tên của cái chính đảng đã từng lãnh đạo cuộc cách mạng ấy cũng bị vội vàng xóa bỏ.
Thuở ấy người ta đang ngây ngất, phiêu diêu trong sự thăng hoa và trong men say chiến thắng của một dân tộc sau hàng thế kỷ dài sống trong tủi nhục của kiếp nô lệ và phải trải qua vô vàn đau thương mất mát bởi tình trạng "nồi da xáo thịt", đất nước bị chia cắt, dân tộc bị chia rẽ, thân quyến bị chia lìa qua suốt hơn 30 năm ròng rã chiến tranh..., nay bỗng được độc lập, được tự do và thống nhất, được sum họp gia đình nên chỉ nghĩ những việc làm đó của Đảng lúc ấy là sự tiếp tục của tư tưởng "cách mạng không ngừng" mà Lê- nin đã đề xướng, và đó chỉ là quan điểm cách mạng "triệt để" của những người cách mạng chân chính, không ai kịp nghĩ đó là hành vi bóp chết một nền dân chủ trước khi nó kịp định hình. Tệ hại nhất là không ai kịp nhận ra đó là một sự phi tang những thành quả cách mạng có liên quan đến Hồ Chí Minh; không ai kịp nhận ra đó là sự khẳng định ngạo nghễ của con người đương kim lãnh đạo cái chính đảng, cái chính thể và cuộc chiến thắng ấy, một sự khẳng định nhằm thách thức vị trí và vai trò lịch sử của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng vừa qua. Sự tha hóa và chuyên quyền, cùng với căn bệnh vĩ cuồng sau chiến thắng kéo dài cho đến tận lúc qua đời của cá nhân Tổng bí thư Đảng lúc ấy đã tự vạch trần và làm lộ bước đầu mưu đồ nói trên của ông và một vài cộng sự thân cận; minh chứng cụ thể là sau cái chết của nhân vật ấy người ta cũng đã vội vàng xóa bỏ nguyên tắc tại vị suốt đời trong các cương vị lãnh đạo Đảng và nhà nước để ngăn ngừa tái lập hiện tượng cá nhân chuyên quyền. Chỉ tiếc rằng số đông có thẩm quyền lúc bấy giờ đã không kịp nhận rõ toàn bộ mưu đồ thâm độc này của ông ta để đi đến một quyết định sáng suốt là xóa bỏ triệt để toàn bộ các thiết chế đã phục vụ cho tham vọng thâu tóm quyền lực và chiếm đoạt công danh của con người đó; nếu lịch sử đã đi theo chiều hướng nói trên thì hạnh phúc cho dân tộc và cho xã hội này biết mấy. Bởi vì nếu đã kịp thời xóa bỏ toàn bộ những thiết chế ấy thì cái chính đảng từng có công đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thành công đã không bị cướp mất chính danh, cái đất nước từng được cuộc cách mạng ấy thai nghén và khai sinh đã không bị xóa tên, bản Hiến pháp từng được các dân tộc và các quốc gia đang bị áp bức trên thế giới coi là tiến bộ và cách mạng nhất vào thời kỳ ấy đã không bị vứt bỏ, nền pháp quyền và nền dân chủ mà bản Hiến pháp ấy từng đặt nền móng đã không bị thủ tiêu. Song đau xót hơn cả là nhân dân của đất nước này sau khi đã cùng Đảng tiên phong của mình đạt được chiến thắng thì đã bị chính lãnh tụ của đảng đó phản bội; sự thống trị của ngoại bang khi trước thì nay lại được thay thế bằng sự thống trị có phần gay gắt và nghiệt ngã hơn của người bản xứ, người đã từng là đồng đội, đồng chí và lãnh tụ của mình. Ước vọng ngàn đời của một dân tộc kể từ khi hình thành và lập quốc cho đến nay về một nền dân chủ đang manh nha tưởng sắp đạt được bỗng tuột khỏi tầm tay, khiến cho dân tộc ấy trong suốt chiều dài của lịch sử chưa từng được biết biết thế nào là hình hài và mùi vị thực sự của một nền dân chủ, nay đã bị mất đi cơ hội có thể được biết nó. Vinh quang chói lọi của một dân tộc kiên cường, biết hy sinh và biết chiến thắng, một dân tộc đã được hầu hết các dân tộc trên thế giới biết đến và ngưỡng mộ bỗng bị lu mờ. Tệ hại hơn là đất nước và dân tộc ấy sau đó đã bị cộng đồng quốc tế cô lập gần như ruồng bỏ trong nhiều thập kỷ. Hậu quả nhãn tiền là đất nước đó từ vị trí của nhóm nước đứng đầu so với mặt bằng phát triển chung trong khu vực đã bị bị tụt hậu thảm hại trước sự bứt phá nhảy vọt của nhiều nước láng giềng trong khu vực.
Các nước láng giềng đó không có Đảng anh minh lãnh đạo, nhưng người ta đã chọn được phương pháp đúng phù hợp với hoàn cảnh, bối cảnh cụ thể của đất nước họ trong mối tương quan, tương đồng với hoàn cảnh, bối cảnh của thế giới lúc bấy giờ; vì thế họ đã tạo nên thời cơ và chớp lấy thời cơ để có những bước bức phá vượt xa chúng ta trong quá trình phát triển.
Còn chúng ta có Đảng anh minh lãnh đạo – như chúng ta đã từng tự nói to lên – nhưng lại tự mình để tuột biết bao cơ hội thuận lợi. Những cơ hội ngàn vàng ấy sẽ không bao giờ tìm lại được nữa vì bối cảnh, vì nội lực, vì tư thế và xuất phát điểm, vì mối tương quan hiện tại của chúng ta so với xung quanh đã hoàn toàn khác xưa.
Cơ hội đã không chờ chúng ta!
Thời gian đã không chờ chúng ta!
Sau ngày thống nhất đất nước 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã bao lần lỗi nhịp trong bước phát triển của mình!
Một phương pháp sai không bao giờ đem lại kết quả đúng. Không thể có cách nào để biện minh được rằng các thực trạng thảm hại mà đất nước ta đã phải hứng chịu kể trên là những kết quả đúng. Đó là hệ quả trực tiếp của hàng chuỗi sai lầm trong cách chọn mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt, cũng như trong cách xác định phương pháp cách mạng cho từng mục tiêu trong từng thời kỳ mà Đảng đã tiến hành sau năm 1975.
Đảng ta có thói quen, mọi công lao và thành quả cách mạng đều được quy về công tích của Đảng và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Vậy thực trạng bi đát kể trên của đất nước thì phải quy về tội lỗi và năng lực lãnh đạo của ai?
Thế mà đứng trước các quyết định có tầm vóc lịch sử, liên quan đến vận mạng và tương lai của cả dân tộc thuở ấy thì các thế hệ công dân trưởng thành như chúng ta, những người có quyền ăn nói khi ấy đã im lặng.
Đó là sự im lặng lịch sử và là món nợ ngàn đời của chúng ta với hậu thế!
Chúng ta vô tình vừa là nạn nhân, đồng thời cũng là kẻ đồng lõa với con người có hành vi đồ tể và kẻ cướp đã giết chết cuộc cách mạng dân chủ và cướp không mọi thành quả đạt được của quần chúng cách mạng (Thế mà mỉa mai thay, cứ đến gần ngày sinh và ngày mất của nhân vật ấy thì người ta lại có bài tung hê công lao của con người gian hùng, lật lọng này đối với cách mạng; trớ trêu thay cho đến nay mà nhiều người trong chúng ta vẫn còn ngộ nhận hành động bức tử nền dân chủ cùng với nền móng nhà nước pháp quyền đang có cơ hội manh nha và cướp công cách mạng của con người ấy là những công lao đối với cách mạng!?).
Quần chúng quảng đại và giới trí thức của các vùng mới được giải phóng hồi ấy còn đang mặc cảm với thân phận của mình và còn đang xa lạ với chính quyền cách mạng thì làm sao đòi hỏi người ta phải có tiếng nói cần thiết trong tình trạng đó?
Những người bên kia hàng ngũ còn đang chưa xác định được vị trí và chưa biết số phận của mình sẽ ra sao dưới chế độ mới này thì làm sao đòi hỏi họ phải có tiếng nói thỏa đáng trong trường hợp này?
Chỉ có chúng ta – bao gồm cả các cán bộ và chiến sĩ cách mạng lẫn quần chúng cách mạng thuở ấy – những người đã tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đang ở độ tuổi trưởng thành đầy đủ lúc ấy là phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự im lặng lịch sử nói trên, mặc dù hồi ấy đã không ai hỏi chúng ta về quyết định này của họ cả.
Chúng ta đã tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng chúng ta đã không tự giải phóng được mình khỏi sự ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và khỏi vòng ảnh hưởng của tư tưởng thần quyền. Chúng ta đã tôn thờ lãnh tụ của mình với lòng trung thành và sự phục tùng tuyệt đối như người xưa đã tôn thờ và phục tùng đức vua của họ. Chúng ta đã tôn thờ cái chủ nghĩa được coi là lý tưởng ấy như tôn thờ một tôn giáo mà không hề xét đến đặc điểm dân tộc, trình độ nhận thức và bối cảnh đặc thù của xã hội chúng ta. Chúng ta đã coi cái tổ chức mà chúng ta trực thuộc ấy không khác gì một giáo hội, chúng ta đã tuân thủ nó một cách tự nguyện và nghiêm túc như con chiên ngoan đạo ứng xử với tổ chức giáo hội của họ. Vì thế chúng ta đã phó thác mọi quyết định cho người lãnh đạo và cho tổ chức lãnh đạo chúng ta. Vì thế chúng ta đã trở thành những kẻ "ngu trung" mù quáng. Vì thế lý trí của chúng ta hoàn toàn bị tê liệt, luôn chấp hành mà không hề có phản kháng với mọi quyết định của cấp trên. Vì thế chúng ta đã im lặng và thụ động. Điều đó có nghĩa là chúng ta đã mặc nhiên chấp nhận và mặc nhiên là tòng phạm.
Chúng ta đã tham gia cuộc đấu tranh để giành độc lập tự do này tự nhiên như một lẽ sinh tồn; tuyệt đại bộ phận trong chúng ta trước đó không hề biết chủ nghĩa cộng sản là gì, ngoài nhận thức mang tính bản năng là chủ nghĩa yêu nước. Chúng ta tham gia cuộc cách mạng giải phóng dân tộc này với một động cơ hồn nhiên và trong sáng mà trong tâm tư không có gì lớn hơn khát vọng được làm người dân của một nước độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc như mục tiêu đã hằng được cuộc cách mạng này nêu cao, hơn thế nữa mục tiêu này lại còn được trân trọng nêu trong quốc hiệu đầu tiên của đất nước: "Việt Nam – Dân chủ - Cộng hòa; Độc lập – Tự do – Hạnh phúc". Vì thế chúng ta đã trở thành ngờ nghệch, ấu trĩ và cả tin trước các tham vọng và thủ đoạn chính trị của các chính khách, khiến lúc ấy chúng ta đã bị lừa nên đã im lặng, dù là một cách thụ động.
Vì bản năng sinh tồn và khát vọng tự do mà chúng ta đã dũng cảm vô song trước mọi khó khăn trở ngại và trước quân thù, nhưng vì cố chấp và không quyền biến với nguyên tắc phục tùng tổ chức, nguyên tắc "dân chủ tập trung" mà chúng ta đã im lặng trước mọi quyết định sai trái của cấp trên, thậm chí còn chấp hành chúng một cách máy móc và vô điều kiện.
Chúng ta là những người biết trọng nhân cách và danh dự nên rất trân trọng sự nghiệp chính trị và sinh mạng chính trị của mình. Thế nhưng chế độ kỷ luật tự giác - một thứ kỷ luật sắt không thể không chấp hành, một kiểu kiêu hãnh và tự hào đối với những ai tự cho mình là giác ngộ, là đảng viên trung thành và trung kiên của Đảng - đã khiến chúng ta trở nên hèn nhát và do dự mỗi khi suy nghĩ, hành động hay phát ngôn trái với những gì được coi là ý Đảng. Mặc dù đã có không ít những người trung thực từng dám nói lên tiếng nói của sự thật, đã dũng cảm hành động theo lương tri của mình, song suy cho cùng đó cũng chỉ là những tiếng nói và việc làm rời rạc, lẻ loi không có sự phối hợp đồng bộ và nhịp nhàng với số đông nên đã thất bại nặng nề và thảm hại. Tuy nhiên hãy thành thực mà tự suy xét mình, đằng sau cái được gọi là ý thức tổ chức kỷ luật ấy, cụ thể là trong trường hợp gọi là để "bảo toàn sinh mạng chính trị" ấy có phải là nỗi lo sợ bị mất một phần, hay mất hết quyền lợi chính trị, quyền lợi vật chất và vị trí xã hội mà chúng ta đang được hưởng hay không? Người có cương vị bình thường thì không nói gì, còn người có đặc quyền, đặc lợi thì có thể chối cãi điều này được không? Có thể vì thế mà biết bao người khi tại vị thì không dám mở mồm, đến khi hết vai trò rồi thì mới dám lớn tiếng? Có thể vì lúc ấy họ chưa thấy được sự thật của vấn đề? Có thể cả hai lý do đều đúng cả hay chỉ đúng một phần, nhưng tựu trung thì vẫn là biểu hiện cụ thể về sự hèn nhát, sự ích kỷ và sự mù quáng một thời của chúng ta mà thôi.
Chúng ta được trang bị những nguyên tắc cơ bản có thể nói đến là hoàn hảo, khiến Đảng chúng ta trở thành một "đảng kiểu mới" có "sức mạnh hơn người" khi sử dụng những nguyên tắc ấy vào mục đích cao cả, mục tiêu đúng đắn. Đó là nguyên tắc lấy "thiểu số phục tùng đa số" làm cơ sở khi quyết định mọi quyết sách có lợi cho dân cho nước; đó là nguyên tắc lấy "phê bình và tự phê bình" làm quy luật phát triển; đó là nguyên tắc lấy "đường lối quần chúng" làm đường lối cơ bản; đó là nguyên tắc lấy phương pháp "duy vật biện chứng" làm phương pháp tư tưởng v.v. Nếu chúng ta đã biết tuân thủ và vận dụng một cách triệt để những nguyên tắc ấy trong mọi sinh hoạt khác của Đảng thì đâu có cái cảnh một cá nhân có thể lũng đoạn và thao túng vận mạng sống còn của Đảng lẫn của cả dân tộc như vừa qua (và như hiện nay); đâu có cái cảnh dân chủ trong Đảng lẫn trong xã hội đã bị bóp nghẹt như thuở ấy (và như hiện nay); đâu có cái cảnh mọi phản biện trong Đảng lẫn trong xã hội bị cấm đoán như thuở ấy (và như hiện nay); đâu có cái cảnh Đảng lại tự đặt mình lên trên cả dân tộc, lên trên cả nhà nước như thuở ấy (và như hiện nay); đâu có cái cảnh sai lầm lạc hướng trong các quyết sách cơ bản của Đảng một cách duy tâm, duy ý chí và dai dẳng như thuở ấy (và như hiện nay). Chỉ cần ngần ấy bửu bối trong tay thôi cộng với sự dũng cảm vốn có của những người chiến sĩ cách mạng đã từng vào sinh ra tử, từng luôn tỉnh táo trước lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, từng dám vượt qua chính mình thì chúng ta đã có thể ngăn chặn được thảm trạng vừa qua cho đất nước. Chúng ta đã không có đủ sự minh mẫn, sự dũng cảm, cũng như đã không tận dụng được những vũ khí ấy trong thời khắc đoàn tàu lịch sử đã bị cưỡng bức "bẻ ghi" theo chiều lệch hướng, khiến chúng ta phải mang món nợ lịch sử này đối với hậu thế.
Theo nguyên tắc, mắc nợ thì phải trả.
Không thể theo nguyên tắc có tài nguyên gì thì cứ khai thác, cứ đào bới, cứ bòn mót, cứ cho thuê, cứ bán tháo theo kiểu bán lúa non lúc "giáp hạt"; bất cần biết thế hệ con cháu mai sau có còn gì để sống hay không.
Không thể theo nguyên tắc cứ tiêu xài, cứ xa xỉ, cứ vay mượn nước ngoài, cứ xà xẻo vốn liếng, bất kể đó là vốn trong nước hay vốn vay nước ngoài để làm giàu cá nhân; bất chấp thế hệ con cháu mai sau có trả nổi hay không, hay vì ngập đầu bởi món nợ đó mà mãi mãi bị giam hãm trong vòng nghèo khổ và dốt nát; bất kể đất nước có vì thế mà suy sụp, mà tụt hậu và mãi mãi sa vào vòng lệ thuộc ngoại bang hay không.
Chúng ta không thể chối cãi và rũ bỏ món nợ đó một khi chưa trả xong. Có thể nào chúng ta lại vẫn im lặng và khoanh tay đứng nhìn như đã sai lầm trước đây, sai lầm trong phút giây lịch sử đã đưa đất nước sa vào tình cảnh tụt hậu và kém cỏi hiện nay. Lần này thì không phải riêng đối với thế hệ công dân đã trưởng thành thời ấy mà bao gồm cả các thế hệ đã trưởng thành đang độ tuổi công dân hiện nay, bao gồm tất cả những ai là người Việt Nam yêu nước đang sống ở trong nước hay ngoài nước, bao gồm tất cả những ai đang đứng trong hay đứng ngoài tổ chức đảng và bộ máy cầm quyền đều phải chịu trách nhiệm trước Tổ quốc, trước lịch sử, bởi vì chúng ta đang ở trên cùng một con tàu số mệnh, chúng ta đều có chung một Mẹ Việt Nam. Nếu chúng ta lại mắc sai lầm một lần nữa trong thời khắc lịch sử này thì rất có thể lần này sẽ là lần cuối cùng để rồi không còn cơ hội nào mà mắc sai lầm nữa, bởi vì sẽ mãi mãi có còn gì đâu để mà mắc sai lầm. Chả thế mà có người trong chúng ta – tức thế hệ công dân đã đến tuổi trưởng thành và có trọng trách thuở ấy – khi từ giã cõi đời này mà vẫn còn tức tưởi vì cảm thấy mình chưa làm hết và chưa nói hết những gì đáng lẽ phải nói và phải làm trước đây, hoặc cũng vì thế mà có người lẽ ra đã được thanh thản mà nhắm mắt xuôi tay thì vẫn còn vương vấn mà ra đi chưa đành. Tôi xin ngàn lần kính cẩn cúi đầu trước vong linh và trước nhân cách của những con người này, những con người mà tôi thực sự hết lòng kính trọng; tôi kính trọng cả cung cách sống, cung cách ra đi lẫn nỗi bận bịu vấn vương vì tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, vì nghĩa lớn đối với dân tộc của từng người trong họ.
Đừng để chậm bước mà lỗi nhịp lịch sử, lỗi đạo với tổ tiên một lần nữa hỡi người ơi!
Thế hệ của những người phải chịu trách nhiệm trực tiếp với sai lầm lịch sử nói trên, người trẻ nhất giờ đây cũng đã bước vào độ tuổi U70 (từ ngoài 60 đến 70 tuổi), còn lại tuyệt đại bộ phận thì đã ở độ tuổi U80 (từ ngoài 70 đến 80 tuổi) và cao hơn nữa. Hầu hết trong số ấy hoặc vì tuổi tác, hoặc vì sức khỏe nên đã rời bỏ chính trường, nhưng những người còn minh mẫn, còn tâm huyết với vận mệnh đất nước, còn ý thức trách nhiệm với xã hội, dù đang ở lứa tuổi U70, U80, thậm chí U90 thì họ vẫn cố gắng cảnh báo và cảnh tỉnh xã hội về hiện tình nguy kịch của đất nước và phản biện tích cực về các chủ trương sai trái của Đảng và Nhà nước, ngõ hầu bù đắp phần nào những sai lầm lịch sử mà các vị đó vừa là chứng nhân, vừa là tòng phạm – dù là tòng phạm thụ động thuở nào. Không ai nỡ lòng trách cứ các vị ấy vì sự hạn chế tầm nhìn của của họ trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Sai lầm của họ âu cũng là một sản phẩm tất yếu của điều kiện lịch sử cụ thể hồi ấy. Tuy nhiên, hiện nay tuy tuổi đã cao và không còn vai trò lèo lái xã hội nữa, nhưng uy tín của các vị thuộc thế hệ ấy vẫn còn rất cao trong ký ức và trong mắt của số đông quần chúng trong xã hội về những gì tốt đẹp mà thế hệ ấy đã làm và đã đem lại cho đất nước, cho dân tộc này. Tác dụng hiệu triệu, động viên và cảnh báo của các vị đối với xã hội vẫn còn rất lớn. Các vị vẫn còn có thể đem uy tín, tinh thần trách nhiệm cùng với sự dày dạn kinh nghiệm trong cuộc sống của mình để tác động một cách tích cực đến hiện tình đất nước, để phân tích sai lầm lịch sử vừa qua, để sao cho tên tuổi và sự nghiệp quang vinh còn đang bỏ dở của Đảng được phục hồi, tức quá trình cách mạng dân chủ mà Đảng còn bỏ dở lại được tiếp tục tái khởi động, để cái tên quang vinh của đất nước, của nền cộng hòa đầu tiên mà cuộc cách mạng này đã khai sinh lại được tái sinh, để bản Hiến pháp và nền pháp quyền mà nhà nước ấy đã khẳng định lại được tái xác lập. Có vậy thì thế hệ các vị mới có thể thanh thản ra đi mà không vấn vương và tức tưởi.
Hỡi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay! Các vị đang trên cương vị là những người nắm vai trò bảo vệ Tổ quốc và quyết định tương lai đất nước, vận mệnh của dân tộc. Tôi không biết các vị yêu nước đến đâu và tôi không đánh giá thấp lòng yêu nước của các vị. Nhưng chắc không có ai trong các vị có thể phủ nhận được tình trạng tụt hậu của đất nước hiện nay so với mặt bằng chung của thế giới, cụ thể là so với các quốc gia láng giềng kề cạnh.
Để khắc phục tình trạng ấy mà không qua con đường phát triển dân trí, phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật trên nền tảng của một xã hội dân sự và dân chủ của một nhà nước pháp quyền thì ắt không còn con đường nào khác ngoài sự suy vi và tụt hậu. Để khắc phục tình trạng ấy bằng cái vỏ che hào nhoáng, lộng lẫy nhất thời bên ngoài thông qua việc vơ vét và bán tháo tài nguyên, thông qua vay nợ để tạo sự phát triển giả tạo, nhằm che đậy sự lạc hậu và rỗng tuếch của nội dung bên trong là nếp nghĩ của những kẻ vụ lợi, háo danh và cơ hội, không thể là cung cách của những bậc lãnh đạo quốc gia chân chính. Kẻ thất học không thể bỗng chốc trở thành nhà trí thức vì được đội mão Cử nhân và mặc áo thụng dài tay. Kẻ vũ phu không thể bỗng chốc trở thành người lịch sự vì khoác chiếc áo sang trọng đắt tiền.
Đứng trước dã tâm bành trướng và xâm lược của một kẻ vừa là đồng minh truyền thống, vừa là kẻ thù truyền kiếp, đứng trước một đối thủ có thế và lực vượt trội, áp đảo hơn ta nhiều lần thì việc ứng xử cho phải lối, cho đúng cách không phải là chuyện dễ, nhưng để "tránh nạn binh đao cho đất nước" mà ứng xử bằng cách luôn nhân nhượng, thỏa hiệp, lùi bước, khúm núm, van xin, cầu cạnh để người ta "được đằng chân lân đằng đầu" như hiện nay thì không đúng với truyền thống ứng xử khôn ngoan và khí phách anh hùng của cha ông chúng ta, không đúng với tư thế của một dân tộc đã từng có một quá khứ lẫy lừng như dân tộc chúng ta. Đối với người Việt nam thì không gì vinh dự và hãnh diện hơn bằng được làm người đại diện cho một đất nước và một dân tộc như đất nước và dân tộc chúng ta, không gì tội lỗi và đáng nguyền rủa hơn khi làm ô nhục một đất nước và một dân tộc như đất nước và dân tộc chúng ta.
Khi giặc ngoài đang hung hăng lăm le bờ cõi mà thù trong lại thắng thế và lộng hành là điềm mất nước nhãn tiền. Để ngặn chặn "chủ nghĩa dân tộc cực đoan" mà lòng yêu nước và sĩ khí của dân tộc không những không được phát động, không được hâm nóng, không được tập hợp mà lại bị kìm hãm và trấn áp bởi chính các thế lực đang lãnh đạo đất nước thì không khác gì hành động tự làm suy yếu tinh thần và sức mạnh đề kháng của dân tộc, tự trói chân, trói tay dân tộc để chuẩn bị trước cho một ngày nào kẻ thù ung dung kéo vào mà không cần tốn sức.
Đối phó với đối phương mà toàn dân bị bịt mắt, bưng tai, bít miệng để rồi không biết gì về thời cuộc và không biết gì về đối phương, đến nỗi khi giáp mặt với kẻ thù mà cứ ngỡ rằng đang giáp mặt "kẻ lạ" (!?), để rồi khi lâm trận thì như một lũ mù, lũ điếc, lũ câm, một lũ ngớ ngẩn thì làm sao không mất nước?
Đối phó với một kẻ mạnh đang âm mưu đóng cửa đánh mình mà chủ trương đấu võ tay đôi không biết cầu hàng xóm láng giềng thì có khác nào là hành động tự sát?
Trong khi chính kẻ có dã tâm còn đang ngần ngại trước công luận quốc tế mà chưa dám ngang nhiên xâm phạm lãnh hải, xâm phạm biên giới bất khả xâm phạm của Tổ quốc mà chúng ta lại chủ động mời họ tuần tra chung trên biển của mình, cho họ thuê dài hạn đất ven biên giới và những nơi khác nhạy cảm với an ninh quốc gia… rồi lại còn lên tiếng bênh những việc làm lộng hành của họ trên Biển Đông tưởng làm thế là giữ được 16 chữ vàng, tức giữ được "cái ghế" cho mình, thì có phải là giúp họ hợp thức hóa hành vi xâm lược?
Đã "lỡ dại" mà "hứa dại" với "người lạ" thì sao lại không biết dùng quyền phủ quyết của Quốc hội để sửa sai mà lại dùng quyền uy để ép Quốc hội đồng thuận?
Ngày xưa An Dương Vương hỏi thần Kim Qui rằng giặc đang ở đâu và thần Kim Qui chỉ rằng, giặc đang ngồi ở sau lưng bệ hạ đó!
Ngày nay, nếu các vị hỏi rằng giặc đang ở đâu thì bất cứ một người dân yêu nước nào, nếu người đó không mù, không câm, không điếc và không mất trí cũng có thể chỉ rằng:"Những kẻ đã trói tay và bịt mắt, bịt miệng xã hội qua chiêu bài hãy bám "lề phải" mà đi, những kẻ đã đàn áp, cấm đoán, truy tố những hành động của quần chúng phản đối nước ngoài xâm chiếm lãnh hải, lãnh thổ của Tổ quốc, những kẻ đã tiếp tay cho người nước ngoài xâm chiếm tài nguyên, chiếm cứ các vị trí xung yếu của Việt Nam như cảng biển, đất biên giới, rừng đầu nguồn một cách lâu dài, những kẻ đã dùng phương tiện của Đảng và bộ máy cầm quyền để nói hộ và tuyên truyền thay cho quan điểm xâm lược của ngoại bang; tóm lại là những kẻ đã và đang trực tiếp tiến hành một cách lén lút, hay công khai, hoặc làm ngơ dung túng và ngầm cổ vũ những hành động sai trái, phản trắc nói trên. Những kẻ đó đang trà trộn ngay trong hàng ngũ lãnh đạo và trong tất cả các cơ quan và các bộ phận đầu não của Đảng và chính quyền nhà nước mà các vị đang quản lý đó!".
Để ngăn được giặc ngoài điều đầu tiên là phải chặn được giặc trong.
Ngay trong đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI sắp tới, các vị cần có biện pháp cụ thể để phát hiện và loại trừ ngay bọn "giặc trong", kể cả những hậu duệ của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống và Trọng Thủy thuở nào đang lẩn khuất trong hàng ngũ của chúng ta ra khỏi vị trí hiện nay của chúng, không để chúng tiếp tục nối giáo cho giặc, tiếp tục lũng đoạn nền chính trị nước nhà như vừa qua.
Các vị cần có cách phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả với các tầng lớp yêu nước trong và ngoài nước, nhất là với các bậc tiền bối yêu nước và trọng danh dự trong Đảng đang tích cực hoạt động và đang bức xúc với vận nước hiện nay.
Tuy rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang trong giai đoạn khủng hoảng lãnh tụ, tuy rằng đội ngũ cán bộ Đảng và nhà nước Việt Nam chứa đựng trong nó rất nhiều khuyết tật, nhưng chắc chắn rằng trong hàng ngũ đó vẫn có người kết tinh được tinh hoa của quần chúng, còn mang trong người tình cảm, nếp nghĩ và lợi ích của quần chúng nhân dân, còn chảy trong huyết quản giòng máu của cha ông, còn giữ được trong tâm hồn khí thiêng của sông núi; chắc chắn những người đó không thể nào không cảm nhận được tình thế "ngàn cân treo sợi tóc " của vận nước hiện nay.
Có thể sự hy vọng và chờ đợi của người viết bài này chỉ là ảo tưởng, nhưng nếu những điều ấy không xảy ra thì Đảng cộng sản Việt nam làm sao trả lời trước lịch sử:
Rằng ai đã làm cho đất nước suy vi lụn bại?
Rằng ai đã đưa đất nước vào nguy cơ lệ thuộc ngoại bang như hiện nay?
Rằng ai đã đặt đất nước trước bờ vực diệt vong như hiện nay?
Nỗi nhục này ngàn đời không rửa sạch!
Món nợ hậu thế này ngàn đời không trả nổi!
Hỡi những kẻ lầm đường hãy sớm tỉnh ngộ!

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

80 Năm Còn Ngủ Chưa Tỉnh Thức

Năm 2009, chủ tịch nước cộng sản Nguyễn Minh Triết đã cho người Việt Nam trên thế giới có những trận cười nghiêng ngả khi ông xuất hiện tại Cuba và trong đại hội chiêu dụ "Việt kiều" tổ chức tại Hà Nội với những lời phát biểu rất ngô nghê. Một số không ít đã tặng cho Triết biệt hiệu "danh hài 2009." Nay thì 2010, những nụ cười có thể thấm thiá hơn khi nhìn toàn Đảng xảy ra tại đại hội kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Biết rồi khổ lắm nói mãi!

Ngày 3/2/2010 Đảng Cộng Sản Việt Nam gom tụ hầu hết các lãnh đạo và được đưa lên truyền hình cho dân chúng xem cũng như trên thế giới qua youtube. Người ta đã chê Triết làm trò cười khi hô hào ca ngợi Đảng thì trong lần này các ông bà đảng viên có gỡ gạc "thanh danh" cho Đảng chút nào không?

Đài truyền hình của Đảng đã trình bày khá trung thực về hình thức buổi lễ này. Phải quay phim trình chiếu để phô trương "lực lượng nồng cốt" đang "xây dựng Đảng." Mới vào buổi lễ thì cũng có vẻ xôm tụ khi các công thần chấp tay chào cung kính, và mọi ngươi đều vỗ tay. Để thấy não trạng của các ông bà đảng viên thế nào người xem chỉ nhìn vào gương mặt, tư thế ngồi, và họ có lắng nghe Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh nói hay không.


Đoạn phim chiếu nhiều lần hầu như nhiều góc cạnh trong phòng. Không biết anh quay phim có bị kiểm thảo không, chứ người xem thấy hàng ghế nào cũng có nhiều người không "nghiêm túc." Họ không ngủ gục thì ngáp, không ngáp thì mặt mày lơ đãng phóng hồn đâu đâu. Trên bục thì Nông Đức Mạnh cứ gục đầu vào trang giấy mà đọc thao thao có tuyệt. Nó không bất tuyệt tại vì có gì mới lạ đâu để hấp dẫn người nghe. Cũng là những câu nhàm chán trên những lưỡi gỗ của các ông đảng viên sừng sỏ trải dài trên 80 năm qua.




Nông Đức Mạnh: Đảng ta vẫn là đảng cầm quyền

Nhật Bản sau 15 năm bị 2 trái bom nguyên tử đất nước tan hoang đã trở thành một quốc gia giàu mạnh phát triển. Việt Nam sau 35 năm người dân vẫn còn bị cấm đoán quyền tự do phát triển trí tuệ. Thế mà những lưỡi gỗ như Ngô Thành Dương, gọi là giáo sư trưởng khoa triết học tại Hà Nội, vẫn phát biểu "vận động học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" để "tăng thêm niềm tin của đảng viên và nhân dân…" Thế thì đến 80 năm sau đảng viên và nhân dân vẫn chưa có niềm tin gì ở Hồ Chí Minh và Đảng mà đến nay lãnh đạo vẫn luôn phải nhắc nhở và nhắc nhở mãi …20 năm, 30 năm nữa chăng ? Hay hơn thế nữa vì Đảng vẫn chủ trương độc tài toàn trị muôn đời trên mãnh đất Việt Nam. Nhưng mà theo cái đà ngủ gục này thì không biết Đảng sống được mấy năm nữa?



Thật vậy, với ý đồ mị dân, lưỡi gỗ Nông Đức Mạnh đã phát biểu là "…đến năm 2020, về cơ bản Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại." Thế thì Việt Nam đến nay vẫn chưa có gì gọi có phương cách hiện đại, mà còn đi xuống nữa nhất là về mặt văn hoá trong đó có tôn giáo? Ước vọng của Mạnh là giấc mơ của Đảng chỉ về cơ bản thôi chứ không dám mơ tới hệ thống công nghiệp quy mô. Nhưng mà Mạnh đã đi quá sai với sự tính toán của chuyên gia thế giới, phải là ít nhất 158 năm Việt Nam mới theo kịp Singapore, đừng nói chi tới Hoa Kỳ và các nước tiến bộ khác.



Đó là tại sao các ông bà đảng viên ngáp dài ngáp vắn ngủ ngáy khò khò…Các "đồng chí" trẻ tuổi có thể tin chút ít về một Việt Nam có một "cơ bản" tiến bộ, nhưng mà các "đồng chí" già đã có quá nhiều kinh nghiệm nghe lưỡi gỗ rồi, và trong não trạng cũng đã hiểu quá rõ là dưới chế độ độc tài toàn trị việc hô hào tiến lên xã hội chủ nghĩa chỉ là một cái bánh vẽ mà thôi.

Nông Đức Mạnh nói như thét: "…Chúng ta tin tưởng vững chắc Đảng Cộng Sản Việt Nam nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình…quyết tâm xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ giàu mạnh để tiến lên chủ nghĩa xã hội." Thế thì 35 rồi Đảng vẫn hát hò giống nhau, vẫn chưa hoàn thành trọng trách, vẫn còn trên đường để Việt Nam có hoà bình (Đảng chiến tranh với toàn dân mỗi ngày), độc lập (Đảng phải nghe theo Trung Cộng đến phải dâng đất nhượng biển của tổ tiên), thống nhất (lòng dân chưa là một với Đảng). Còn 2 chữ "Tự Do" thì không thấy ai đề cập đến trong ngày này. Dân chủ kiểu của Mạnh nói với ý là "dân làm chủ mà nhà nước lãnh đạo" thì mọi người đều biết.

Mọi người dường như có thói quen trong mỗi lần hội hop. Sau khi nghe Mạnh la to "Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta" thì họ bắt đầu mở mắt tỉnh táo lại chút ít để sửa soạn ra về sau khi làm xong phận sự.

Bút Sử
6/2010

http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=13473

Đi đâu cũng bị phản đối


Trong năm nay (2010), sẽ có hai Hội nghị thượng đỉnh G20. Canada được uỷ nhiệm tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất năm 2010 vào hai ngày 26 và 27 tháng 6 tại Toronto. Hội nghị thượng đỉnh G20 lần thứ hai trong năm 2010 sẽ diễn ra vào tháng 11 tại Seoul, Đại Hàn

Tổ chức G20 là diễn đàn của đại biểu 19 nước có nền kinh tế lớn nhất hoàn cầu và đại biểu Liên hiệp Âu Châu (European Union hay EU). Mười chín nước đó là (theo thứ tự ABC): Argentina, Australia, Brazil, Canada, China, France, Germany, India, Indonesia, Italy, Japan, Mexico, Republic of Korea, Russia, Saudi Arabia, South Africa, Turkey, United Kingdom, United States of America. Đại biểu 19 nước nầy cùng vớp đại biểu EU họp thành G20.

Hội nghị G20 đầu tiên được tổ chức tại Berlin trong hai ngày 15 và 16-12-1999 do hai bộ trưởng Tài chánh Cộng Hòa Liên Bang Đức và Canada chủ trì. Tổ chức G20 hiện gồm hai hội nghị: Hội nghị thường niên cấp bộ trưởng tài chánh và thống đốc ngân hàng trung ương, và Hội nghị thượng đỉnh gồm nguyên thủ các quốc gia trong G20. Tổ chức G20 không có uỷ ban thường trực mà chỉ có chủ tịch luân phiên hàng năm. Chủ tịch G20 đầu tiên (1999-2001) là Canada, sau đó là Ấn Độ (2002), Mexico (2003), Đức (2004), Trung Quốc (2005), Australia (2006), Nam Phi (2007), Brazil (2008), Anh (2009). Năm nay (2010), chủ tịch G20 là Cộng Hòa Hàn Quốc (Đại Hàn hay Nam Hàn) và năm 2011 sẽ là Pháp.

Ngoài 20 thành viên thường trực, ngày 8-5-2010, Văn phòng thủ tướng Canada là Stephen Harper thông báo sẽ mời thủ tướng năm nước đến dự thính Hội nghị G20 trong hai ngày 26 và 27-6-2010 với tư cách là quan sát viên. Đó là các nước (theo thứ tự ABC): Ethiopia, Malawi, Netherland (Hòa Lan), Spain (Tây Ban Nha) và Việt Nam. Việt Nam được mời vì năm nay (từ 01-01-2010 đến 31-12-2010) Việt Nam là chủ tịch luân phiên của Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) tức Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á.

Chắc chắn sẽ có nhiều cuộc biểu tình của cộng đồng các sắc dân tại Canada và trên thế giới chống đối Hội nghị thượng đỉnh G20. Rút kinh ngiệm từ việc bảo vệ an ninh Thế vận hội mùa đông Vancouver vừa qua, chính quyền Canada đã lo chuẩn bị những biện pháp an ninh cần thiết từ đầu tháng 6 để bảo vệ Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Toronto.

Những cuộc biểu tình nầy có nhiều mục đích khác nhau. Tựu trung có thể có hai nhóm chính: Biểu tình vì kinh tế, chống chủ trương toàn cầu hóa; và biểu tình vì chính trị, chống các chế độ độc tài đàn áp.

Riêng trường hợp Việt Nam, trước đây, nhân hội nghị APEC tại Việt Nam tháng 11-2006, thủ tướng Stephen Harper đã tuyên bố ở Hà Nội rằng: "Canada muốn phát triển giao thương với thế giới. Nhưng tôi không tin rằng người Canada chúng tôi muốn bán khoán các giá trị Dân chủ, Tự do và Nhân quyền để lấy đồng đô la." (DCVOnline.net ngày 19-11-2006.)

Cũng theo nguồn tin nầy, trong cuộc gặp tay đôi tại Hà Nội với Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 17-11-2006, thủ tướng Canada đã đề cập đến các vấn đề nhân quyền, tự do báo chí và ông Harper đã đưa ra 10 trường hợp tiêu biểu về những người bị bắt giam vì bất đồng chính kiến, vì vận động dân chủ hay hoạt động tôn giáo…

Không phải tại nơi nào khác, mà ngay tại Hà Nội ông Stephen Harper công khai tuyên bố như thế, đồng thời đề cập đến những tù nhân lương tâm với Nguyễn Tấn Dũng, chứng tỏ rõ ràng rằng trong việc tổ chức Hội nghị G20 tại Toronto, người mời (Stephen Harper) đã biết rõ khách mời (thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng) là kẻ đứng đầu một bộ máy cai trị đàn áp nhân quyền và không có tự do dân chủ, nhưng vì thủ tục của G20, Canada vẫn phải mời chủ tịch luân phiên của tổ chức ASEAN, chứ không phải vì Việt Nam là một nước kinh tế phát triển.

Cần chú ý mục đích của Hội nghị G20 là tìm kiếm những phương sách phát triển kinh tế toàn cầu một cách bền vững lâu dài. Muốn phát triển kinh tế, không phải nước nào muốn là được, mà còn cần phải có nhiều điều kiện kinh tế và môi trường chính trị thuận lợi cho sự phát triển.

Trong thời gian chiến tranh, Hoa Kỳ quyết định cấm vận Bắc Việt Nam từ năm 1964. Hoa Kỳ cấm vận trong thời gian nầy ít ảnh hưởng đối với BắcViệt vì Bắc Việt theo nền kinh tế cộng sản chỉ huy và Bắc Việt chỉ giao dịch và xin viện trợ các nước trong khối cộng sản. Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, Hoa Kỳ tiếp tục cấm vận Việt Nam. Việc cấm vận nầy khiến cộng sản Việt Nam gặp nhiều khó khăn kinh tế, nhất là từ khi khối Liên Xô sụp đổ vào đầu thập niên 90.

Sau những cuộc thương lượng lâu dài, ngày 3-2-1994, tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ cấm vận chế độ Việt Nam. Năm sau, ngày 11-7-1995, cũng tổng thống Bill Clinton quyết định tái lập bang giao với Việt Nam. Ngày 7-11-2006, Việt Nam được chấp nhận gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization = WTO), và chính thức trở thành hội viên thứ 150 của WTO kể từ 11-1-2007.




Trở thành hội viên WTO, bước vào dòng sinh hoạt thế giới, đáng lẽ Việt Nam phải dần dần thay đổi chính sách, mở rộng tự do dân chủ, tạo điều kiện để phát triển chẳng những về kinh tế mà cả mở rộng chính trị, nhằm hỗ trợ cho sự thăng tiến kinh tế.

Trong khi đó, từ năm 1994 (Hoa Kỳ bỏ cấm vận) hay 2007 (vào WTO), tuy Việt Nam đã nới rộng phần nào những hoạt động kinh tế, nhưng vẫn không buông lỏng sự kiểm soát chính trị, vẫn đàn áp những nhà bất đồng chính kiến, vẫn mở thêm nhà tù.

Trước hết, điều 4 hiến pháp năm 1992 hiện vẫn đang còn áp dụng tại Việt Nam ghi rằng: "Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội."

Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, có nghĩa là đảng Cộng Sản vẫn độc tôn quyền lực, độc đảng, độc tài toàn trị. Về kinh tế, bên bờ suy sụp toàn diện sau 10 năm thực hiện kinh tế chỉ huy theo đường lối CS từ năm 1975 trên toàn cõi Việt Nam, đảng CSVN bắt buộc phải "đổi mới" từ năm 1985 để tự cứu mình, phần nào mở rộng hơn trước, nhưng vẫn chủ trương "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa", nghĩa là vẫn do đảng CSVN chỉ huy theo đường lối cộng sản. Như thế, về chính trị và kinh tế, Việt Nam hiện nay trước sau vẫn là một nước cộng sản.

Vì chủ trương độc đảng, độc tài toàn trị nên hiện nay ở trong nước không có tự do dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, không có tự do thông tin, không có tự do giáo dục. Cho đến hôm nay, đã 10 năm qua thế kỷ 21, mà ở Việt Nam vẫn chưa có báo tư nhân. Khoảng 100 tờ báo ở trong nước hoàn toàn do các cơ quan nhà nước kiểm soát, chỉ là cái loa với nhiều âm lượng khác nhau phát ra từ Bộ chính trị đảng CSVN. Dù là báo của nhà nước, những ai viết báo ra ngoài chỉ thị của nhà nước đều bị bắt giam.

Tất cả những điều trên không cần phải chứng minh dài dòng; chỉ cần nhìn hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng hoặc đọc tin các nhà văn, các ký giả , các nhà nhà hoạt động dân chủ trong nước bị bắt giam là đủ rồi. Ở Việt Nam hiện nay chỉ có tự do ăn chơi, tự do đàng điếm, tự do tham nhũng. Không có tự do dân chủ thì không thể có thảo luận tranh cãi, không thể có sáng kiến, không thể có cạnh tranh, thì làm sao có tiến bộ? Không có tự do thông tin, không có tự do báo chí thì lấy ai để theo dõi, thông tin, nhận xét, phê bình hoạt động kinh tế?

Ngành giáo dục Việt Nam hiện nay sa sút trầm trọng. Sa sút về mọi mặt. Chương trình học tập, phương pháp giảng dạy, trình độ giáo sư, kết quả học sinh, tất cả đều sa sút. Ở đại học, phải là đảng viên mới được phong hàm giáo sư. Những người học vị cao, chuyên môn giỏi, nhưng không vào đảng, thì không bao giờ được phong hàm giáo sư. Đó là chưa kể cảnh bán bằng cấp, bán bài vở, bán đề thi xảy ra khắp nơi, từ đại học xuống trung học. Với một nền giáo dục như thế, làm sao đào tạo được nhân tài để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh?

Nhiều người du lịch Việt Nam nhận thấy hiện nay, các thành phố được mở mang, sinh hoạt tấp nập, nên vội cho rằng Việt Nam bắt đầu thay da đổi thịt. Tuy nhiên xin lưu ý là sau 35 năm hòa bình với bao nhiêu viện trợ quốc tế, mà Việt Nam chỉ đạt được chừng đó tiến bộ hay sao? Trong thời gian chiến tranh, miền Nam Việt Nam đã đứng trên những nước Đông Nam Á. Ba mươi lăm năm hòa bình, Việt Nam tụt hậu và thua xa cả hàng vài chục năm các nước lân bang. Và cũng xin lưu ý là những phồn vinh giả tạo hiện nay chỉ diễn ra ở thành phố, cho tầng lớp đảng viên CSVN và những thành phần chung quanh đảng hưởng thụ, trong khi đại đa số nông dân vẫn phải lầm than cơ cực ở miền nông thôn nghèo đói. Sự cách biệt lợi tức đồng niên giữa thành phố và nông thôn càng ngày càng lớn rộng.

Một điều hết sức tệ hại là đảng CSVN đã lợi dụng những cải cách kinh tế để tham nhũng, mang lại lợi lộc riêng cho giới đảng viên cầm quyền. Chuyện ép dân, cướp đất bán cho người nước ngoài, nói là để mở mang thương mại là chuyện "thường ngày ở huyện". Nguy hiểm hơn nữa là đảng CSVN vốn tùng phục Trung Quốc nhằm củng cố quyền lực, nay núp dưới chiêu bài gọi là phát triển kinh tế, đã không ngại thực hiện những dự án kinh tế rất nguy hiểm về môi trường và an ninh cho các thế hệ tương lai. Điển hình nhất là chương trình giao cho người Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây nguyên, kế hoạch cho người Trung Quốc thuê dài hạn vùng núi đồi miền biên giới…

Muốn phát triển kinh tế, thì điều kiện căn bản tiên quyết là phải có tự do dân chủ. Chưa có tự do dân chủ, mà vẫn độc đảng, độc tài toàn trị, đàn áp nhân quyền và dân quyền, tùy tiện bắt giam những người bất đồng chính kiến, kể cả những người yêu nước, phản đối Trung Quốc xâm lược, thì không thể nói đến chuyện phát triển, và nếu có phát triển thì phát triển lệch hướng, nhằm phục vụ cho đảng CSVN và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN, chứ không phục vụ lợi ích chung cho dân tộc, cho đất nước.

Hình ảnh Việt Nam ngày nay đúng như sự mô tả của điều 9 Nghị quyết 1481 của Quốc hội châu Âu tại Strasbourg ngày 25-1-2006: "Các chế độ toàn trị cộng sản vẫn còn hoạt động tại một số quốc gia trên thế giới và vẫn tiếp tục gây ra tội ác." (Bản Anh ngữ: "Totalitarian communist regimes are still active in some countries of the world and crimes continue to be committed.")

Trong hoàn cảnh như thế, Việt Nam làm thế nào có thể phát triển kinh tế bền vững đúng hướng được. Thủ tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến Toronto dự thính Hội nghị G20 chẳng ích lợi gì cho sự phát triển kinh tế Việt Nam vì guồng máy kềm kẹp của đảng CSVN vẫn không thay đổi, tiếp nghiền nát tất cả những cải cách, những sáng kiến nào có hại cho quyền lợi của tập đoàn lãnh đạo CSVN. Muốn phát triển kinh tế, trước tiên phải dẹp bỏ guồng máy nầy đi.

Tuy nhiên, vì "vẫn tiếp tục gây ra tội ác", người ta không lấy làm lạ bất cứ viên chức CSVN nào ra nước ngoài cũng đều bị đồng hương phản đối. Viên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đứng đầu một guồng máy cai trị "vẫn tiếp tục gây ra tội ác" ở Việt Nam, đến dự thính với tư cách quan sát viên trong Hội nghị thượng đỉnh G20 ngày 26 và 27-6-2010 lần nầy tại Toronto, chắc chắn sẽ bị đồng hương phản đối.

Thật là nhục! ĐI ĐÂU CŨNG BỊ PHẢN ĐỐI.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)

* Source: http://tiengnoitudodanchu.org/module...ticle&sid=9089

05 tháng 6 2010

Cọp Giấy gặp Cọp Cạc tông-Nam Hàn tập trận gần biên giới Bắc Hàn.

Trong không khí căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên đang
leo thang.

Vào hôm nay hàng ngàn lính Nam Hàn, dưới sự yểm trợ
của trực thăng chiến đấu bắt đầu cuộc tập trận
với quy mô lớn ngay sát biên giới với Bắc Hàn. Cuộc
tập trận nói trên diễn ra trong bối cảnh căng thẳng
giữa hai nước Nam-Bắc Hàn gia tăng, sau khi Seoul tố cáo
Bình Nhưỡng đánh chìm chiến hạm Cheonan hôm 26/3, làm 46
thủy thủ thiệt mạng.


Xe tăng Nam Hàn tập trận ngày 31/5/2010 tại Hwacheon, cách
vùng phi quân sự ranh giới Bắc Hàn 20 km (Reuters)


Bộ binh Nam Hàn dượt bắn đại bác, và súng máy...

Theo giới phân tích vụ chiến hạm Nam Hàn bị đánh chìm
là sự tổn thất về mặt quân sự nghiêm trọng nhất
xảy ra từ sau chiến tranh liên triều năm 1953 đến nay.

Tuần trước hải quân Nam Hàn đã tiến hành một cuộc
tập trận đề phòng bị tấn công bằng tàu ngầm. Theo
nguồn tin từ bộ tham mưu Nam Hàn, đây là cuộc biểu
dương lực lượng mới nhằm phòng ngừa tình huống bị
Bắc Hàn đơn phương tấn công. Quân đội Nam Hàn huy
động khoảng 50 chiến xa, thiết giáp dọc trên một con
sông thuộc quận Hwacheon, cách khu vực phi quân sự 9 km,
sát cạnh biên giới với Bắc Hàn.

Hôm 20/5 kết quả một cuộc điều tra Quốc Tế cho thấy,
chiến hạm Cheonan của Nam Hàn đã bị tàu ngầm Bắc Hàn
dùng thủy lôi đánh chìm. Seoul đã lập tức lên tiếng
đòi Bình Nhưỡng chính thức xin lỗi. Mặt khác Nam Hàn
đã loan báo nhiều biện pháp trừng phạt Bắc Hàn, và
Seoul liên tục vận động cộng đồng quốc tế, đứng
đầu là Trung Quốc để Hội đồng Bảo An Liên Hiệp
Quốc đưa ra những biện pháp trừng phạt mới nhắm vào
Bắc Hàn của ông Kim Jong Il. Trước mắt nỗ lực vận
động của Seoul chưa mang lại kết quả. Về phần mình,
Bình Nhưỡng hoàn toàn bác bỏ những cáo buộc của Nam
Hàn.

http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=13237

Thần Tượng Sụp Đổ.

Ngày 7 tháng 5 năm 2010, Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev đã
trả lời câu phỏng vấn của tờ nhật báo Nga Isvestiai
rằng: "Chế độ chính quyền ở Liên Xô khi trước không
thể diễn tả bằng cách nào khác hơn là một chế độ
độc tài toàn trị. Thực không may, đây là một chế độ
đàn áp các quyền tự do cơ bản không những chỉ người
dân của nước mình, mà còn cho nhân dân các nước nằm
trong khối CS, tôi muốn nói tới các nước XHCN khác, trong
gần nửa thế kỷ nay. Và vết nhơ này không thể nào bôi
xóa trong lịch sử".

Lời phát biểu của vị nguyên thủ Nga đã gây chấn
động hệ thống truyền thông Nga và nhiều nước trên
thế giới. Vị Tổng Thống 45 tuổi đời, sau 2 năm cầm
quyền đã can trường nói lên một sự kiện mà từ
trước tới nay không ai dám lên tiếng. Sự can trường và
quả quyết của ông còn được thể hiện khi ông quyết
định tới Ba Lan để tham dự tang lễ của cố TT Ba Lan,
Lech Kaczynski và 94 nhân viên tháp tùng, đã thiệt mạng
trong tai nạn máy bay tại rừng Katyn ngày 4/10/2010. Cuộc
hành trình tới Ba Lan thực vô cùng nguy hiểm do khói và
bụi núi lửa phun ra mù mịt trên bầu trời. Nhiều nguyên
thủ quốc gia đã huỷ bỏ chuyến tham dự tang lễ này vì
sợ chuyến bay không an toàn, nhưng ông Medvedev đã tới Ba
Lan bằng máy bay, bay tầm thấp dưới 10 ngàn mét. Sự
hiện diện của ông trong tang lễ làm người Ba Lan rất
xúc động và thế giới cảm phục. Ông Dmitry Medvedev muốn
chứng tỏ với nhân dân và chính quyền Ba Lan thiện chí
của Nga trong việc hòa hợp hòa giải và đoàn kết dân
tộc giữa 2 nước.

70 năm trước đây, vào năm 1940, 22 ngàn sĩ quan Ba Lan đã
bị Staline ra lệnh thảm sát tại rừng Katyn và cơ quan an
ninh Liên Xô đã bưng bít và bóp méo sự thật về vụ
này. Mãi sau này, chính quyền Ba Lan mới đưa vụ thảm sát
ra tòa án Nhân Quyền Âu Châu tại Strasbourg với những
bằng chứng. Thân nhân những người bị sát hại đã đòi
chính phủ Nga phải bồi thường..

Tháng 3/2010, Viện Công tố Quân Sự Nga đã trả lời Tòa
Án Nhân Quyền Âu Châu rằng: "vụ thảm sát xảy ra từ
năm 1940, tới nay đã vượt qua thời hiệu pháp lý. Nước
Nga, ngày hôm nay, không thể chịu trách nhiệm cho một
chính quyền 70 năm về trước.

Tuy nhiên, quan điểm của ông Dmitry Medvedev thì ngược
lại. Ông nói: "Nếu ngày hôm nay, nhắm mắt trước
những tội ác này, thì trong tương lai, những tội ác như
vậy sẽ còn lập lại, ở dạng này hay dạng khác, ở
nước này hay nước kia. Vì vậy, thời gian khiếu nại tuy
khá xa, nhưng tội ác tày trời như vậy không bao giờ mất
thời hiệu. Những người gây tội ác, bất cứ là ai,
bất kể thời gian là bao nhiêu năm, cũng phải gánh trách
nhiệm ! Đây là vấn đề trách nhiệm và đạo đức, một
sự kiện đáng để cho các thế hệ tương lai rút kinh
nghiệm.".

Ông Medvedev cũng tố cáo: "Stalin đã giết dân mình hàng
loạt. Ông ta là kẻ sát nhân với số lượng lớn. Tội
ác đó không thể tha thứ được."

Giới truyền thông rất ngạc nhiên vì lời tố cáo tội
ác của Stalin từ cửa miệng TT Medvedev. Ông nói một cách
tự nhiên, không hề bị một áp lực từ bên trong hay bên
ngoài. TT Medvedev đã nhìn ra và nói lên cái chế độ tàn
bạo của Liên Bang Xô Viết dưới thời Stalin , một bạo
chúa. Ông cũng chỉ trích các tổ chức CS vẫn còn tôn
thờ Stalin, muốn treo hình Stalin nhân dịp kỷ niệm 65 năm
chiến thắng phát xít Đức. Ông khẳng định: "Điện
Kremlin sẽ không xử dụng các biểu tượng như vậy. Sự
trở lại của chủ nghĩa Stalin đã hoàn toàn bị loại
trừ. Và ông kết luận: Tôi đã phải chờ đợi quá lâu
để nói lên sự thật này."

Việc công khai tố cáo tội ác của Stalin đã gây tranh cãi
trong công chúng Nga. Một số người đề cao công lao của
ông ta trong việc chiến thắng phát xít Đức, nhưng các
tổ chức nhân quyền đã đưa ra bằng chứng về sự sát
hại hang triệu người Nga trong 3 thập niện cầm quyền.
của Stalin. Những trại tù Gulag khủng khiếp gây kinh hoàng
cho dân chúng. Các cuộc cưỡng ép di dân và nạn đói năm
1932-1933 đã gây thiệt mạng cho 6 triêu người.

Từ lời tố cáo của TT Medvedev, tờ báo Novaya Gazeta và
đài phát thanh Echo Moskvy đã trưng ra tài liệu về mật
lệnh giết người của Stalin, trong đó, ngay cả các trẻ
em từ 12 tuổi cũng phải chịu tử hình.. Lịch sử Nga
đang mở lại những trang sử đen tối nhất. Và Stalin
chính là tên tội đồ của dân tộc Nga.

Ngày 9/5/2010 nước Nga tổ chức một lễ kỷ niệm ăn
mừng 65 năm ngày chiến thắng phát xít Đức Đây là lần
đầu tiên các lãnh đạo Tây phương tới tham dự lễ kỷ
niệm tại Nga. Đặc biệt, cuộc diễn hành được tổ
chức tại Quảng trường Đỏ, Moscova, có sự tham gia của
các quân đội Anh, Mỹ, Pháp, và Ba Lan . Theo dự kiến, có
10,500 quân nhân tham dự, và cùng một ngày 70 thành phố
lớn ở Nga cùng tổ chức lễ duyệt binh mừng chiến
thắng. Đại diện cho VN, Nguyễn Minh Triết sẽ lên
đường tham dự lễ kỷ niệm này.

Từ gần một thế kỷ nay, tại VN, Stalin được Hồ Chí
Minh coi như là một thần tượng, một vĩ nhân. Trong các
bài diễn văn, Hồ đề cập tới Stalin với một giọng
tôn kính, gọi Stalin là "cha gìa của thế giới XHCN…"
HCM tạc tượng Stalin đặt ngay giữa công viên Hà Nội.
Các bài ca ngợi công ơn Stalin được đem vào sách giáo
khoa bậc Trung, Tiểu học.

HCM cũng cho Tố Hữu viết những lời thơ khóc lóc thảm
thiết khi Stalin chết:

Thương cha, thương mẹ, thương chồng.
Thương mình thương một, thương ông thương mười.

Cái khó của Nguyễn Minh Triết trong kỳ đi họp lần này
là không biết đóng góp ý kiến ra sao trước lời phát
biểu của TT Medvedev "Stalin là tội đồ của dân tộc".
Thực là "há miệng mắc quai". Tội đồ của dân tộc
Nga lại là thần tượng của CHXHCN VN ?

Lần này đi họp về, Nguyễn Minh Triết hết còn… ba hoa
chích choè trước đám Đại Biểu Quốc Hội chỉ thích
gật gù và vỗ tay cổ võ.

Giao Tiên

http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=13240

01 tháng 6 2010

Thâm Cung Bí Sử Việt Cộng

...Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.
Hoàng Dũng, Cán Bộ VPTƯ

Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là "văn hoá phẩm đồi trụy". Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi - những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào - Sài Gòn đúng thật là "hòn ngọc viễn đông". Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là "tàn dư của chế độ cũ".

Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ - Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.

Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn "Bên giòng lịch sử" của linh mục Cao Văn Luận, hay "Những ngày chưa quên" ... Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là "Những bóng ma trong hồng trường" viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.

Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, "đào sâu chôn chặt", suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.

Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.

Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 "xoáy nòng" bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police "còi hụ" hay xe "bồ câu trắng" bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe "chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ", cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.

Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.

Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục "Những việc cần làm ngay" của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần "Nói Và Làm".

Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông "Nói Và Làm" nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.

Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.

Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.

Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.

Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
Cụ lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?

Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.

Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.

Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung quốc nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo "Bác Hồ có vợ ?" được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước - Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết "đi tìm Út Huệ"), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.

Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng "cổ lai hy" rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?

Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.

Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.

Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.

Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân - Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.

Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá !

Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.

Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây

Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).

Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm "thực tập" ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ "mớm" cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải "nói vo" anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp !

Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.

Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước ... Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những "sân sau" của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó !

Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.

Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí mInh đã cảnh báo từ rất sớm. Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.

Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng - Thắng - Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?

Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.

Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.

Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai. Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.

http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=13349