Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

08 tháng 10 2011

Pháp Luân Công 'thiền tập thể' tại TP HCM


Pháp Luân Công 'thiền tập thể' tại TP HCM

clip_image001

Cuộc tọa thiền ôn hòa trước LSQ Trung Quốc đã bị giải tán

Cuộc tọa thiền tập thể của nhóm học viên Pháp Luân Công trước cửa Lãnh sự quán TQ ở TP HCM nhân vụ xử hai học viên ở Hà Nội sáng thứ Năm 6/10 đã nhanh chóng bị giải tán.

Một người tham gia cuộc tọa thiền, ông Nguyễn Văn Nghĩa, nói với BBC rằng nhóm học viên khoảng 30 người, gồm "đủ loại thành phần và lứa tuổi".

Ông Nghĩa nói từ TP Hồ Chí Minh: "Cuộc tọa thiền bắt đầu vào khoảng 7:30 sáng trước Tòa lãnh sự ở Quận 1, chừng một tiếng sau thì công an tới hốt cả nhóm đi".

"Chúng tôi tham gia ngồi thiền trước Lãnh sự quán Trung Quốc với hai đòi hỏi: Trung Quốc phải chấm dứt việc đàn áp Pháp Luân Công ở trong nước họ; và Chính phủ Việt Nam cần trả tự do cho hai người bị bắt vì phát thanh thông tin về Pháp Luân Công".

Phiên xử học viên Pháp Luân Công Vũ Đức Trung và anh rể ông, ông Lê Văn Thành, tội 'Đưa trái phép thông tin trên mạng viễn thông' đáng ra phải diễn ra vào buổi sáng 6/10, nhưng bị hoãn vào phút chót.

Cho tới 8 giờ tối giờ Việt Nam, phần lớn nhóm học viên Pháp Luân Công ngồi thiền trước Lãnh sự quán Trung Quốc đã được cho về nhà.

Ông Nguyễn Văn Nghĩa nói với BBC rằng công an khi giải tán đám đông không sử dụng bạo lực, nhưng "có lôi kéo mọi người rất dữ".

Ông cũng nói có người mặc áo vàng in dòng chữ của môn phái Pháp Luân Công "đã bị lột áo".

"Họ giải thích việc tụ tập không có phép như vậy là gây mất trật tự trị an. Họ cũng lập biên bản và nói sẽ xử phạt hành chính những người tham gia".

Việt Nam, tuy chưa bao giờ chính thức cấm Pháp Luân Công, luôn bác bỏ rằng môn phái này tồn tại ở trong nước, và nói chỉ có người tập luyện dưỡng sinh vì sức khỏe.

Một số nhân chứng khác cho hay buổi tập công buổi sáng thứ Năm tại công viên Lê Văn Tám cũng đã bị công an giải tán "bằng cách phun nước".

Các học viên Pháp Luân Công đã tập họp tại công viên này để tập công vào khoảng 5:30 sáng, sau đó một nhóm rút đi để tham gia hoạt động ngồi thiền.

Hoãn phiên tòa

Trong khi đó bà Lê Thị Thu Hòa, vợ bị cáo Vũ Đức Trung trong phiên xử ở Hà Nội, cho hay bà nhận được tin hoãn xử từ tòa án khi vừa đặt chân tới cổng tòa án.

Ông Trung, nguyên Giám đốc Công ty Phần mềm Nhân Hòa, và Lê Văn Thành, anh rể của ông Trung, bị bắt từ tháng 6/2010.

Luật sư Trần Đình Triển, người tham gia phiên tòa xử với tư cách là Luật sư biện hộ cho ông Vũ Đức Trung cũng nhận được thông báo này vào hôm thứ Năm 6/10.

Việc trì hoãn phiên tòa lần này là do Cục tần số Vô tuyến điện Bộ Thông tin và Truyền thông làm văn bản yêu cầu.

Cục này tham gia phiên xử với tư cách cơ quan giám định, ông Triển cho biết.

"Thường là một vụ án hình sự thì kể cả Luật sư vắng mặt và nếu giám định viên có trong hồ sơ vụ án, để đảm bảo cách xét xử một cách nhanh chóng thì người ta vẫn tiến hành bình thường".

"Trong trường hợp này, cho dù Cục tần số Vô tuyến điện đóng vai trò như cơ quan giám định, hay một nhân chứng và cơ quan có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì cũng không có lý do gì để trì hoãn phiên tòa".

Luật sư Trần Đình Triển

Ông nói thêm: "Trong trường hợp này, cho dù Cục tần số Vô tuyến điện đóng vai trò như cơ quan giám định, hay một nhân chứng và cơ quan có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì cũng không có lý do gì để trì hoãn phiên tòa".

Trong bản cáo trạng, Cục này đã tiến hành thanh tra và đưa ra kết luận rằng những thiết bị của Công ty phần mềm Nhân Hòa chưa có giấy phép sử dụng.

Luật sư Triển nói ông "rất cần Cục tần số tham gia tố tụng cho vụ án này" nhằm làm rõ mức độ vi phạm của ông Vũ Đức Trung.

Dựa vào Luật Bưu chính viễn thông, mức sóng mà thiết bị này phát tán ra chưa đủ lớn để bị truy tố hình sự, ông Triển nói thêm.

Ông nói vẫn chưa nhận được thông tin gì về phiên tòa xét xử tiếp theo tuy nhiên, dự tính sẽ diễn ra vào cuối tháng 10/2011.

Hai ông Trung và Thành đã bị bắt khẩn cấp ngày 10/06/2010 vì cáo buộc vi phạm điều 226 'đưa lên mạng những thông tin trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng'.

Cục Tần số Vô tuyến điện Bộ Thông tin và Truyền thông đã thu giữ ba hệ thống máy phát sóng và các phương tiện kỹ thuật "phục vụ việc phát sóng trái phép" đặt tại hai địa chỉ ở ngoại thành Hà Nội.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nói qua quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã xác định rằng vào khoảng giữa năm 2007, ông Trung "trở thành hội viên một môn phái bị cấm tại nước ngoài".

Theo Viện Kiểm sát, việc phát sóng đã được thực hiện từ tháng 4/2009 cho đến khi bị phát hiện là tháng 6/2010 với thời lượng từ 5h đến 23h hàng ngày.

Luật sư Triển cũng cho biết hiện nay Nhà nước Việt Nam vẫn chưa có văn bản nào cấm môn phái này, vốn bị Chính phủ Trung Quốc cho là 'tà đạo' và cấm hoạt động ở trong nước.

Nguồn: bbc.co.uk


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/phap-luan-cong-tap-tai-tp-hcm.html


TQ khống chế VN trên lĩnh vực quốc phòng.


TQ khống chế VN trên lĩnh vực quốc phòng.

Đại Nghĩa – Sưu tầm và hệ thống hóa

Chính quyền Trung Quốc người láng giềng tham lam và là tên đồng chí khốn nạn đang âm mưu thôn tính nước ta qua việc khống chế mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và quốc phòng. Âm mưu thâm độc ấy ngày càng lộ rõ qua những hành động côn đồ và chiến lược xâm lấn được thể hiện cùng lúc trên nhiều mặt trận:

I- Mặt trận phía Bắc, biên giới.

Khi xưa tổ tiên ta đã biết lợi dụng rừng núi biên giới hiểm trở giặc khó chuyển quân sang đánh nước ta như ải Chi lăng..., làm những tuyến phòng ngự tuyệt vời. Vì thế nên ngày nay chúng cố tình mướn đất rừng đầu nguồn các tỉnh biên giới Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh… để chúng phá đi những chướng ngại ấy và đồng thời làm chủ những cao điểm quân sự chiến lược của ta hầu dễ dàng cho chúng đưa quân sang xâm chiếm vào một ngày N nào đó. Đoán biết được âm mưu thâm độc của giặc nên Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng cảnh báo:

"Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia… Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những làng "làng Đài Loan", "làng Hồng Kông", "làng Trung Quốc". Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng". (BauxiteVietNam.info ngày 12-2-2010 – trang này đã bị Hacker đánh phá)

Cái nguy hại là các công ty thuê mướn đã phá rừng và làm đường xẻ ngang xẻ dọc để tiện bề di chuyển (quân), phá đi những vị trí chiến lược quốc phòng của ta. Nếu một lần nữa, quân Trung Quốc kéo sang sẽ ồ ạt và dể dàng, nhanh chóng như vũ bão, nhanh hơn trận chiến 6 tỉnh biên giới năm 1979 nhiều. Đứng trước sự việc bất lợi này, nhóm phóng viên của VietNamNet đã thâm nhập vào khu vực biên giới tỉnh Lạng Sơn để làm phóng sự cảnh giác rằng:

"Trên đường vào khu vực rừng của InnovGreen ở Tân Minh chúng tôi được nghe nói đến cái tên"chốt quân sự 558" nằm sát biên giới. Theo lời ông Phó chủ tịch xã Tân Minh, chốt quân sự này có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng. Là một lãnh đạo xã biên giới, ông Bào hiểu được sự phức tạp trong công cuộc bảo vệ biên cương, giữ từng tấc đất, cây rừng của cha ông để lại…

"Đứng trên đỉnh núi 558 có thể bao quát được cả xã Tân Minh, Trung Thành, Đội Cấn, Quốc Khánh và cả xã biên giới cạnh đó là Đào Viên nữa. Vì thế có vị trí rất quan trọng và nhạy cảm về quốc phòng an ninh, bảo vệ biên giới". (VietNamNet online ngày 22-11-2010)

II - Mặt trận phía Tây, Cao Nguyên Trung phần.

Tây Nguyên là vùng hiểm địa rất quan trọng trong công cuộc bảo vệ quốc gia mà các chiến lược gia đánh giá cao về tầm vóc chiến lược quốc phòng. Việc Đảng CSVN để cho các nhà thầu Trung quốc khai thác bauxite trên Tây Nguyên là một hành động lóa mắt vì nhìn gần. Ngoài sự tác hại môi trường, phá hoại di sản văn hóa của dân tộc và nhất là địa thế chiến lược quốc phòng mà đã có biết bao vị lão thành cách mạng cũng như vị tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp và nguyên Phó chủ tịch nhà nước Nguyễn Thị Bình can ngăn nhưng vẫn không được. TBT Đảng CS Nông Đức Mạnh và TT Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cương quyết cho rằng đó là "chủ trương lớn của đảng" vậy mà các đảng viên can ngăn vẫn như không. Đại tá Nguyễn Huy Toàn, chuyên gia lịch sử quân sự và Đại tá Quách Hải Lượng, chuyên viên cao cấp Viện Nghiên cứu Chiến lược Quân sự phân tích về chiến lược Tây Nguyên và những vấn đề đặt ra khi khai thác tài nguyên của khu vực trọng yếu này như sau:

"Cha ông ta từ xưa đã nhận định vùng Tây Nguyên quan trọng tới mức nếu ai chiếm được Tây Nguyên thì coi như đã làm chủ được Việt Nam và Đông Dương. Sau này người, người Pháp, người Mỹ và thế giới cũng nhận thức được vị trí yết hầu của khu vực này với câu nói nổi tiếng: Đây là "nóc nhà của Đông Dương". Vùng đất này liền kề ngã ba Đông Dương, cho nên khi chiếm lĩnh được khu vực này thì cũng dể dàng chiếm lĩnh được toàn bộ Đông Dương". (TuanVietNamNet online ngày 10-3-2009)

Thiếu tướng công an Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Bộ Công an phân tích rõ về địa thế của Tây Nguyên như sau:

"Trung quốc vào Tây Nguyên là họ đã có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung quốc đã thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri- sát biên giới tỉnh Dak Nông với thời gian 99 năm, và Trung quốc đã làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-tô-pơ – tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngã ba Đông Dương). Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia. Không rõ những người quyết định cho Trung Quốc vào Tây Nguyên có biết điều này không?" (Đối Thoại online ngày 23-4-2009)

III - Mặt trận phía Đông, biển - đảo.

Về mặt biển Đông thì tham vọng của Trung Quốc đã quá rõ ràng, chúng mong nuốt trọn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Ngoài ra, chúng còn muốn làm bá chủ trọn biển Đông với cái đường lưỡi bò ma quái. Hiện nay Trung Quốc đã dốc toàn lực về biển Đông để chiếm tài nguyên và giao thông trên tuyến thủy lộ này. Kỹ sư Đỗ Nam Hải - Phương Nam cho biết:

"…Trung quốc đã huy động nhiều loại tàu xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và Phlippines: từ tàu đánh cá có tàu ngư chính yểm trợ đằng sau, cho đến các loại tàu hải giám và cả tàu quân sự. Ngoài việc ngang nhiên xâm phạm, những tàu này còn tiến hành những hoạt động phá hoại như đâm thẳng vào tàu đánh cá, cắt cáp thăm dò các tàu Bình Minh 2 và Viking 2 của Việt Nam, bắt ngư dân để đòi tiền chuộc…" (Dân Làm Báo online ngày 4-10-2011)

Trung Quốc đã bủa vây khống chế biển Đông, phong tỏa ngay cả vùng biển thuộc hải phận của Việt Nam và các nước lân cận. Mới gần đây hành động côn đồ của chúng còn đi xa hơn. Theo Thiếu tướng Lê Văn Cương kể thì:

"Ngày 26-5, tàu Bình Minh 2 bị tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp rồi tới ngày 9-6, tàu Viking II tiếp tục bị tàu đánh cá có hai tàu ngư chính yểm trợ cắt cáp. Toàn bộ những việc này Trung quốc đã có tính toán và hành động của họ xuất phát từ hệ thống, mục đích rõ ràng chứ không phải vấn đề một tàu ngư chính hay hải giám.

"2 vụ việc liên tiếp thể hiện tính chất rất nghiêm trọng của vấn đề. Trung Quốc đã hết sức ngang nhiên xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam ngay trong vùng thuộc chủ quyền và quyền tài phán của chúng ta. Các sự việc nằm trong mưu đồ được hoạch định rất bài bản, chứ không phải những sự kiện đơn lẻ". (Dân Trí online ngày 13-6-2011)

Miệng thì họ luôn nói giải quyết biển Đông qua hòa bình, thương lượng, nhưng trên thực tế họ luôn huy động tàu bè cấm đoán, hù dọa, bắn giết ngư dân ta và theo nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc thì:

"Khi đã có một Đặng Tiểu Bình tuyên bố biển Đông là' chủ quyền thuộc ngã' và từ khi Trung quốc tuyên bố biển Đông là khu vực' lợi ích cốt lõi' của họ, thì khó dùng tinh thần hiếu hòa của người Việt để ngăn chặn tham vọng của phương Bắc. Lịch sử Việt nam có nhiều bài để học. Vấn đề là học như thế nào và hành ra sao để ngăn chặn được nguy cơ không chỉ riêng cho dân tộc mà còn là nguy cơ đối với đảng cầm quyền và những người lãnh đạo đất nước". (RFA online ngày-6-2011)

Theo nhà ngoại giao kỳ cựu và rất có kinh nghiệm với người đồng chí láng giềng này là ông Dương Danh Dy, khi trả lời phỏng vấn của đài RFI thì tham vọng của quân bành trướng Bắc Kinh không bao giờ từ bỏ:

"Cá nhân tôi cho rằng Trung Quốc không bao giờ từ bỏ biển Đông. 10 năm chưa xong thì 20, 30, 40 năm. Chắc chắn ý đồ của họ về biển Đông về thực chất không thay đổi, là phải thâu tóm". (RFI online ngày 17-11-2010)

IV- Mặt trận nội địa.

Trung Quốc đã xâm nhập nội địa của ta bằng 90% các gói thầu EPC từ Bắc chí Nam và luôn bị chậm trễ tiến độ một vài năm một cách cố ý làm ảnh hưởng tới nền kinh tế và đời sống của nhân dân ta khi chúng ta đang căng thẳng về điện. Điện là thần kinh, là sự sống của dân tộc ấy thế mà nhà cầm quyền Việt Nam giao khoán cho Trung Quốc, nếu mai này " răng cắn môi" thì đất nước ta sẽ ra sao?!

"Thông tin nói trên tuy không hẳn mới, nhưng nó một lần nữa cho thấy đang có quan ngại trước sự hiện diện ồ ạt của các công ty Trung quốc trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, khai khoáng, năng lượng…thuộc loại tối quan trọng của quốc gia.

"Bộ Công thương được dẫn nguồn đưa ra con số vào tháng 7-2009 cho thấy, có 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang tham gia tổng thầu EPC hoặc đối tác đầu tư trong 41 dự án ở Việt Nam. 41 dự án này là kinh tế trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia hoặc an ninh năng lượng". (BBC online ngày 2-8-2010)

Tầm quan trọng và nguy hiểm của những dự án do nhà thầu Trung Quốc thực hiện như thế nào được ông Dương Danh Dy, nguyên Tổng lãnh sự của Việt nam ở Quảng Châu viết về một bài báo của Trung Quốc như sau:

"Đáng chú ý bài báo đã trích đăng ý kiến của Giáo sư Bùi Huy Hùng, Viện Khoa học Năng lượng "Việc hiện 90% dự án nhiệt điện hiện nay do Trung Quốc thắng thầu sẽ dẫn tới sự phụ thuộc có nguy cơ mất an ninh năng lượng khi có sự cố xảy ra vì khi đó chúng ta có cái gì làm đối trọng". (Bauxite Viet Nam online ngày 26-9-2010)

Ngoài sự an toàn về điện bọn tham nhũng còn mưu toan giao mạch máu xăng

dầu của dân tộc vào tay Trung quốc. Theo nhà giáo Hà Văn Thịnh cho biết thì:

"Tôi không biết dùng từ nào hơn khi nghe tin Petrolimex đang dự định ký hợp đồng với PetroChina để lắp đặt đường ống dẫn dầu từ Quảng Tây sang Quảng Ninh dài 200 km để mỗi năm" được" mua từ Trung Quốc khoảng trên dưới 3 triệu tấn dầu…

"Chao ôi là buồn khi vận mệnh quốc gia, tương lai xã tắc được bỏ (bị cướp đoạt) vào tay Petrolimex và những người cùng phe phái chụp giựt của cải của đất nước theo cái "lý lẽ" ngu hết biết: Cứ làm giàu cho con cái đi, cứ thế gửi tiền ra nước ngoài, có việc gì thì…chạy! Còn đất nước Việt Nam đói khổ, nghèo hèn ra sao kệ xác cho lũ dân ngu khu đen lãnh đủ!?" (Dân Luận online ngày 14-7-2011)

Cái nhức nhối và nguy hiểm nhất là Trung Quốc đã cho người thâm nhập vào cùng khắp đất nước ta qua vai trò nhân công trong các công trường khai thác bauxite cũng như các gói thầu Trung Quốc thực hiện từ Bắc chí Nam mà ta không biết đây là tình báo, gián điệp hay là đặc công nằm vùng đợi thời cơ. Ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc VN tại TP Sài Gòn đã bức xúc và cảnh báo nguy cơ:

"Ngay vấn đề lao động Trung Quốc hiện nay sang đây không phép, thì tôi nghĩ là không phải chính quyền VN không biết, nhưng tại sao lại để tình trạng như vậy? Sẽ có những cái làng Trung Quốc, những vùng Trung Quốc mà người Việt Nam không thể vào được. Đó là những nhân viên dân sự hay là quân sự? Ai mà biết họ đang làm gì trong đó!

" Thì vấn đề đấy không phải là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an ninh chính trị, vấn đề quốc phòng, mà chúng ta lại lơi lỏng. Điều này rất là nguy hiểm cho an ninh quốc gia". (Bauxite Việt Nam online ngày 19-9-2011)

Theo cụ Luật sư Trần Lâm thì nhà cầm quyền Việt Nam đã sai lầm cho Trung Quốc xây dựng hành lang kinh tế sông Mê Kông để thâm nhập kinh tế vào đất nước ta, thật vô cùng nguy hiểm.

"Trung Quốc đang giúp các nước làm cầu, làm đường nối tiếp. Trong 6 tuyến đường này thì 5 tuyến cuối cùng là Việt Nam: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài Gòn, toàn bộ là vị trí xung yếu trải rộng cả Việt Nam…Ta mới có 2 đường Lạng Sơn và Móng Cái đã thấy điêu đứng, nay có thêm 5 đường đi khắp nơi, sức đâu để bảo vệ kinh tế quốc phòng…" Nhất thể hóa", " Lan tỏa", với một nội dung mù mờ. Thế có phải là một thể chế cho phép các hành lang này như khu nhượng địa nằm khắp Việt Nam? Thế là như con ếch nằm trong cái rọ: Bắc là Trung Quốc, Nam là biển, Tây có hành lang này, có Myanma canh gác, Đông có cái lưỡi bò". (Đàn Chim Việt online ngày 12-10-2010)

Giáo sư Vũ Cao Đàm nói rõ toàn cảnh áp lực của Trung Quốc khống chế Việt Nam trên lĩnh vực quốc phòng như sau:

"Bằng chiêu bài" hợp tác khai thác bô-xit", đế quốc Trung Cộng đã đóng chốt ở một vùng vô cùng hiểm yếu của bán đảo Đông Dương, cộng với những hợp đồng thuê 300.000 ha đất rừng đầu nguồn với các"đồng chí" của họ tại các địa phương trên suốt các vùng biên giới, Trung Cộng đã tạo ra một thế quân sự vô cùng nguy hiểm có khả năng làm tê liệt khả năng phản công bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam khi bị Trung Cộng tấn công từ bốn phía. Chúng ta không quên cộng thêm một bầy nhung nhúc gồm trên 1,3 triệu người lao động Trung Cộng, gồm những tráng đinh (chắc chắn đã giải ngũ sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự). Bọn chúng được các" đồng chí" sắp xếp đều khắp đủ mọi miền trên đất Việt Nam đã tạo ra một đạo quân dự bị khổng lồ, cầm súng bắn được ngay, đang mai phục khắp đất nước này". (Bauxite việt Nam online ngày 31-8-2011)

Một nguy cơ đang rập rình chờ đợi và người dân Việt – những ai còn tỉnh táo – đành sống trong muôn nỗi phập phồng!

Đ.N.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/tq-khong-che-vn-tren-linh-vuc-quoc.html


Luật Biểu tình 'cần được toàn dân góp ý'


Luật Biểu tình 'cần được toàn dân góp ý'

clip_image001

Cả Thủ tướng Chính phủ (trái) lẫn Chủ tịch Nước (phải) đều có quyền đưa ra sáng kiến xây dựng luật, theo Hiến pháp VN.

"Quyền cơ bản của công dân phải được ý kiến tham gia của công dân trong cả nước. Cho nên điều quan trọng nhất trong luật này là phải lấy ý kiến rộng rãi. Còn lấy ý kiến rộng rãi phải đáp ứng những điều kiện gì thì chắc công dân người ta sẽ có ý kiến. Nhưng tôi nghĩ rằng luật cơ bản đó là quyền biểu tình của công dân hay quyền biểu lộ ý kiến của công dân, thì quyền biểu lộ này phải được thể hiện một cách tự do và rộng rãi" – LS Trần Quốc Thuận.

Nhưng xin LS Thuận đừng quên rằng ở một nước như Việt Nam, mọi thứ diễn ra đôi khi lại lộn ngược với logic thông thường mà con người có thể nghĩ. Cũng như hầu hết dân cư mạng ở bất kỳ đâu, LS hẳn đã từng nhìn thấy tận mắt qua video hình ảnh viên công an đạp vào mặt người biểu tình yêu nước rành rành ra đấy! Ấy thế mà một viên tướng (người Việt) hẳn hoi cũng xem video mà không hề nhìn thấy, chỉ vì logic của con mắt ông ta là không thấy, có thế thôi. Cũng như vậy, đối với vị tân Bộ trưởng GTVT thì nếu bắt được đám "cậu ấm" đua xe không những phạt nặng mà còn phải hủy phương tiện ngay tại chỗ, vì từ lâu ông đã nhìn thấy những loại xe đua của các "cậu ấm" ấy là nguy hại cho xã hội, nhưng cũng viên tướng nói trên lại nhìn ra trong những chiếc xe đua một đống của cải, bèn có ý nghĩ rất "nhân văn" là nên đem bán đi kẻo "tiếc của trời", để rồi nếu những chiếc xe đó lại tìm trở về đúng tay các "cậu ấm" và... cuộc đua xe sẽ diễn lại, nghĩa là mọi sự sẽ cứ chạy vòng quanh như một chiếc đèn cù, thì lại cho lực lượng công an đi đuổi, khó gì đâu. Thế mới là logic Việt Nam chứ, có phải không thưa Luật sư.

Bauxite Việt Nam

Một cựu Phó chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội Việt Nam nói Luật về Biểu tình liên quan tới quyền cơ bản của công dân nên phải được phổ biến công khai và "lấy ý kiến rộng rãi" trong cả nước trước khi thông qua.

Trả lời BBC nhân việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao cho Bộ Công An soạn Luật Biểu tình, Luật sư Trần Quốc Thuận, Ủy viên Hội đồng Luật sư toàn quốc nói cơ quan được giao thay mặt chính phủ "sẽ trình luật" nhưng "không có quyền quyết định gì cả."

Ông Thuận cũng cho rằng Việt Nam nên tham khảo nhiều Luật về Biểu tình của các nước tiên tiến trên thế giới để có thêm thông tin cho các đại biểu Quốc hội, các công dân tham khảo trong quá trình góp ý trước khi thông qua Luật.

Trước hết, cựu quan chức Quốc hội nói về quy trình làm một văn bản luật mới ở Việt Nam phải được tuân thủ những bước và quy trình nào.

Luật sư Trần Quốc Thuận: Theo quy định của pháp luật, việc phân công cho người nào trình, cho cơ quan nào trình thuộc thẩm quyền của thường vụ Quốc hội. Và cũng có cơ quan thẩm tra, thẩm định. Nghĩa là trong Quốc hội, một Ủy ban sẽ thẩm tra dự án luật đó, cũng do sự phân công của thường vụ Quốc hội. Nếu cũng có những cơ quan khác cùng có ý kiến như thế, thì tùy tình hình, có phân công tham gia vào Ban soạn thảo. Ban soạn thảo có thể có nhiều cơ quan đoàn thể tham gia. Còn cơ quan chủ trì trình (dự luật), thì đó là một cơ quan có sự phân công. Nhưng sự phân công đó quyết định sau khi có ý kiến của Thường vụ Quốc hội và thuộc thẩm quyền của Thường vụ Quốc hội.

Trong trường hợp dự luật được giao cho bên hành pháp chuẩn bị trình lại không được tốt như một dự luật khác do một chủ thể khác đưa ra, thì trong hợp ấy phải xử lý như thế nào?

clip_image002

Tên gọi của dự luật là Luật Biểu tình hay Luật về Bảo vệ Quyền biểu tình có thể sẽ là một nội dung được bàn cãi.

LS Trần Quốc Thuận: Cũng theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, dự án luật trình ra Quốc hội được trình theo hai bước. Cụ thể là bước thứ nhất là cơ quan trình, có nghĩa là Bộ Công an (trong trường hợp Luật Biểu tình) là thay mặt cho Chính phủ trình. Khi thẩm tra và khi thảo luận, thì trình ra Quốc hội, Quốc hội cho ý kiến lần thứ nhất. Sau đó dự thảo luật đó được chuyển qua cho Thường vụ Quốc hội. Lần thứ hai khi trình để Quốc hội biểu quyết thông qua thành luật, thì đó là trách nhiệm của Thường vụ Quốc hội, không còn là của cơ quan trình nữa.

Theo kinh nghiệm mà Luật sư biết được, để đảm bảo nội dung của một dự luật như Luật Biểu tình được hợp hiến, cũng như khách quan về mặt nguyên tắc, thì việc này được thực hiện như thế nào ?

LS Trần Quốc Thuận : Cũng theo luật ban hành văn bản pháp quy của Việt Nam, tất cả các văn bản khi ban hành phải lấy ý kiến mà luật đó điều chỉnh, tức là phạm vi điều chỉnh. Tức là với luật quy định quyền cơ bản của công dân như luật biểu tình, luật đó phải được lấy ý kiến rộng rãi của toàn thể nhân dân, chứ không phải tự nhiên cơ quan đó có thể trình được. Có nghĩa là phải công bố và được lấy ý kiến rộng rãi. Bởi vì trong luật quy định rằng khi một luật mà đối tượng điều chỉnh có quan hệ với quan hệ xã hội nào thì phải lấy tất cả ý kiến của các quan hệ xã hội đó. Hay nói một cách tóm tắt là Luật Biểu tình là một quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, thì luật đó phải được công bố công khai và được lấy ý kiến rộng rãi trong toàn quốc và toàn thể nhân dân.

'Để khách quan, hợp lý'

"một luật quan trọng như thế, chắc là mức độ tối thiểu cũng phải có Ủy ban Pháp luật thẩm tra dự án luật đó, hoặc thậm chí các Ban của Quốc hội cùng tham gia thẩm tra và đại biểu Quốc hội thẩm tra"

LS Trần Quốc Thuận

Nếu một cơ quan hành pháp được giao thay mặt Chính phủ chuẩn bị dự luật đưa vào luật nhiều yếu tố liên quan tới quyền lợi của họ nhiều hơn, thì cần phải làm gì, điều chỉnh, sửa đổi như thế nào để bảo đảm luật được khách quan, hợp lý?

LS Trần Quốc Thuận: Như đã nói, để khách quan, hợp lý, dự án luật đó phải được công bố rộng rãi lấy ý kiến của nhân dân, vì đó là quyền cơ bản của công dân. Thứ hai, có cơ quan thẩm tra. Tôi không rõ Thường vụ Quốc hội sẽ giao cho cơ quan nào để thẩm tra. Nhưng một luật quan trọng như thế, chắc là mức độ tối thiểu cũng phải có Ủy ban Pháp luật thẩm tra dự án luật đó, hoặc thậm chí các Ban của Quốc hội cùng tham gia thẩm tra và Đại biểu Quốc hội thẩm tra. Việc quyết định đó sẽ đưa ra Quốc hội để quyết định.

Cơ quan được giao trình sẽ chuẩn bị dự thảo thôi, chứ không phải là cơ quan đó có quyền quyết định cái gì cả. Ví dụ khi tranh luận trước Quốc hội và các cơ quan thẩm tra, họ sẽ phân tách rất kỹ, rồi (tham khảo) ý kiến của nhân dân, ý kiến của báo chí, có lẽ sẽ có nhiều ý kiến tham gia vào cái đó. Và lúc đó, người quyết định cuối cùng vẫn là Quốc hội.

Nếu Luật Biểu tình không được giao cho Bộ Công an chuẩn bị, thì có thể giao cho một Bộ hay nhóm Bộ, cơ quan nào khác chuẩn bị được không?

LS Trần Quốc Thuận: Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đề cập ở trên, trong những người có sáng kiến pháp luật có Chủ tịch nước, Thủ tướng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Ủy ban Quốc hội, các đoàn thể, sáu đoàn thể chính, thì việc giao cho một cơ quan nào, Thường vụ Quốc hội sẽ có ý kiến ở chỗ đó.

Nguyên tắc chính làm luật

clip_image003

LS Trần Quốc Thuận nói 'biểu tình là một quyền cơ bản của công dân Việt Nam'

Trường hợp một dự luật được thông qua trong một Khóa Quốc hội này, nhưng đến một khóa nào đó trong tương lai, người ta thấy rằng luật đó là không hợp lý, là không đúng, có thể bỏ bộ luật đó đi và thay thế, thì việc đó có thể xảy ra hay là không?

LS Trần Quốc Thuận: Đúng thế, trong quy định của pháp luật có quyền đó. Luật pháp có thể sửa đổi, bổ sung bất cứ lúc nào. Ở Việt Nam, việc sửa đổi bổ sung các luật cũng thường xảy ra, chứ không phải ban hành là trở thành cố định luôn. Khi có một phản ứng của xã hội, có những ý kiến, thì luật đó có thể dẫn để sửa đổi, bổ sung.

Để cho Luật Biểu tình được hữu hiệu, theo ông, những nội dung và nguyên tắc chính của nó phải là gì ?

LS Trần Quốc Thuận: Về nguyên tắc chính, đây là những quyền cơ bản của công dân, mà các quyền cơ bản của công dân theo quy định phải được Quốc hội thông qua. Quyền cơ bản của công dân phải được ý kiến tham gia của công dân trong cả nước. Cho nên điều quan trọng nhất trong luật này là phải lấy ý kiến rộng rãi. Còn lấy ý kiến rộng rãi phải đáp ứng những điều kiện gì thì chắc công dân người ta sẽ có ý kiến. Nhưng tôi nghĩ rằng luật cơ bản đó là quyền biểu tình của công dân hay quyền biểu lộ ý kiến của công dân, thì quyền biểu lộ này phải được thể hiện một cách tự do và rộng rãi.

"Đặc biệt trong tình hình Việt Nam đang hòa nhập với thế giới, thì luật đó phải phù hợp với thông lệ chung"

Luật sư Trần Quốc Thuận

Còn ở Việt Nam người ta thường quy định theo yêu cầu đảm bảo trật tự xã hội, luật Việt Nam khi thông qua, tôi nghĩ không chỉ đơn giản theo thông lệ trước đây, mà bây giờ cũng phải phù hợp với các luật của các nước trên thế giới. Cho nên khi tôi còn làm ở Quốc hội, thì các luật đó phải được tham khảo với các luật trên thế giới, của các nước tiên tiến. Nên luật biểu tình ở các nước tiên tiến trên thế giới được quy định như thế nào thì luật của Việt Nam cũng phải thể hiện phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chứ không phải Việt Nam phải có một luật gì hơn, đặc biệt, mà không nằm trong thông lệ quốc tế. Đặc biệt trong tình hình Việt Nam đang hòa nhập với thế giới, thì luật đó phải phù hợp với thông lệ chung. Có lẽ tôi nghĩ có nhiều luật về biểu tình trên thế giới sẽ được Việt Nam tham khảo. Đó cũng là các thông tin cần thiết để các đại biểu Quốc hội và người dân Việt Nam tham khảo trong khi người ta tham gia góp ý để xây dựng Luật Biểu tình ở Việt Nam.

Luật sư Trần Quốc Thuận hiện là Ủy viên Hội đồng Luật sư toàn quốc, Ủy viên Hội đồng Tư vấn về Dân chủ & Pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông là một trong bốn Luật sư bào chữa cho Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ trong phiên xử phúc thẩm đầu tháng 8/2011.

Nguồn: bbc.co.uk


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/luat-bieu-tinh-uoc-toan-dan-gop-y.html


Trung Quốc lại dọa đánh Việt Nam


Trung Quốc lại dọa đánh Việt Nam

Nguyễn Trọng Vĩnh

1. Trước hết phải nói ngay rằng Trung Quốc không có quyền gì ở Biển Đông

Việt Nam có đầy đủ tư liệu lịch sử và pháp lý về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Ngay cả một số bản đồ Trung Quốc vẽ trước đây cũng coi Hoàng Sa là của Việt Nam. 200 hải lý trên biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đúng theo công ước quốc tế về luật biển 1982 của L.H.Q còn Trung Quốc thì không đưa ra được cứ liệu lịch sử nào có giá trị đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Chỉ dựa vào cái "lưỡi bò" do chính quyền Tưởng Giới Thạch vẽ ra một cách phi pháp bị thế giới bác bỏ. Trung Quốc chỉ cậy thế nước lớn to mồm tuyên bố chủ quyền có tính chất ăn cướp đối với vùng biển và hải đảo của các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Chính vì thế mà Trung Quốc rất sợ quốc tế hóa và đàm phán đa phương vì Trung Quốc sẽ không có lý lẽ gì để nói, một mực đòi đàm phán song phương để dễ bề ăn hiếp hoặc mua chuộc đối phương, Trung Quốc không có quyền gì ở Biển Đông thế mà những chuyên gia của Trung Quốc cũng như Long Tao lại nói ngược là Việt Nam, Philipin, Malaysia... "xâm chiếm" đảo của Trung Quốc. Kẻ cướp hung khí đầy mình xông vào nhà người ta ăn cướp lại đổ cho chủ nhà là cướp của!

2. Nhà cầm cuyền Trung Quốc thường xoen xoét nói hữu nghị với Việt Nam nhưng luôn đánh và uy hiếp Việt Nam, gần đây lại dọa đánh Việt Nam nữa

Đã có biết bao lời "hữu nghị", "nghĩa tình" do các nhà cầm quyền Trung Quốc nêu ra: nào "cùng chung lợi ích", "môi hở răng lạnh", nào là phương châm "16 chữ", tinh thần "4 tốt", nào là "tinh thần đồng chí anh em", v.v. Nhưng thực tế diễn biến từ trước đến nay như thế nào: năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam lúc đó do Chính phủ Việt Nam cộng hòa quản lý và đóng giữ; Năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục vạn quân bắn giết nhân dân và tàn phá các tỉnh biên giới của Việt Nam mà Đặng Tiểu Bình gọi là "dạy cho Việt Nam một bài học" (chính cuộc bắn giết và tàn phá này đã xóa hết món nợ Trung Quốc giúp Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trước đây); 1984, Trung Quốc bắn giết hàng trăm binh sĩ của Việt Nam để chiếm cao điểm 1509 nằm trong huyện Vị Xuyên thuộc tỉnh Hà Giang của Việt Nam; Năm 1988 đánh đắm tàu tiếp tế, giết hại 64 binh sĩ Việt Nam ở rường Sa; Từ sau khi lập lại quan hệ bình thường, biết bao nhiêu lần tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá, bắn giết ngư dân Việt Nam, bắt tàu cá của ngư dân hoạt động trong vùng biển của mình, tịch thu ngư cụ, tài sản, đòi tiền chuộc, tàu "hải giám" Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cấm, đuổi ngư dân Việt Nam đánh cá, triệt đường làm ăn sinh sống của họ, cắt cáp tầu Bình Minh 2, phá cáp tàu Viking II, phá các cuộc liên doanh thăm dò dầu khí trong vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

Báo Trung Quốc thường xuyên lăng mạ nói nào là bọn Việt Nam "vong ân bội nghĩa", nào là "bọn tiểu nhân, ty tiện Việt Nam", "Bọn lang sói Việt Nam", v.v.

Ngày 17/6/2011, một tờ báo Trung Quốc vu cáo "Việt Nam khiêu khích Trung Quốc" , "Chiếm đóng đảo nhiều hơn", "Bắt buộc" Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nếu không chịu thì sẽ tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng sẽ "kiên quyết diệt trừ"... "Nếu Việt Nam làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay. Hãy giết hết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa" (Báo điện tử Trung Quốc binh khí đại toàn). Gần đây nhất, tờ Thời báo Hoàn cầu, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đăng bài kêu gọi đánh Việt Nam và Philippin... trong đó có những đoạn: "Việt Nam "xâm phạm" đảo Nam Sa (Trường Sa) của Trung Quốc và đòi hỏi chủ quyền với đảo Tây Sa (Hoàng Sa), đã đến lúc sử dụng vũ lực ở biển Đông"...; "Biển Đông là nơi tốt nhất để tiến hành chiến tranh"...; "dạy cho Việt Nam và Philipin bài học đạo đức bằng vũ lực"...; "Cuộc chiến nên tập trung tấn công vào Philipin và Việt Nam, là 2 nước gây rối nhất để đạt được hiệu quả "giết những con gà để dọa bầy khỉ".

Đấy, "hữu nghị" của Trung Quốc đối với Việt Nam là như thế đấy! Chỉ có những ai khờ khạo mới tin những lời đường mật, lừa bịp, đạo đức giả của những người nắm quyền ở Trung Quốc thôi.

3. Chưa phải là thời cơ để Trung Quốc gây chiến tranh đánh Việt Nam và Philipin

Lâu nay cũng như trong sách trắng Trung Quốc thường nêu "Trỗi dậy hòa bình", "nước lớn có trách nhiệm", v.v. Nay nếu Trung Quốc gây chiến tranh với Việt Nam và Philipin thì cái "mặt nạ hòa bình" sẽ rơi xuống trước mặt thế giới, bộ mặt đạo đức giả phơi ra. Trung Quốc thường nói: "Trung Quốc mạnh lên nhưng "không xưng bá" nhưng làm sao giấu được trên thực tế chủ nghĩa bành trướng, bá quyền diễn ra khắp nơi. Trong điều kiện toàn cầu hóa, vì lợi ích kinh tế, các nước phải làm ăn hoặc hợp tác với Trung Quốc, một thị trường hơn 1 tỷ dân, nhưng trong thâm tâm họ đều không ưa gì tư tưởng bá quyền của Trung Quốc, đều cảnh giác với "mối đe dọa từ Trung Quốc", đều cảnh giác cao độ với "chủ nghĩa bành trướng Đại Hán". Hơn nữa Trung Quốc hiện đương cô lập trước thế bao vây từ Hàn Quốc, Nhật Bản, qua Đài Loan xuống Đông Nam Á, Australia, sắp móc qua cả Ấn Độ.

Trên một số tờ báo Hồng Kông gần đây như Đại công báo, Văn hối, Đông phương nguyệt san, phòng vệ Hán Hòa dẫn lời của "các chuyên gia quân sự Trung Quốc cho rằng còn nhiều "rào cản" đối với Trung Quốc: rào cản chính trị, rào cản quân sự, rào cản địa lý, rào cản chiến thuật... nếu Trung Quốc áp dụng hành động quân sự tại biển Đông, cái giá phải trả sẽ rất đắt".

Nội tình Trung Quốc hiện tại còn có biết bao nhiêu vấn đề: Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông vẫn tiềm ẩn yếu tố bất ổn, hàng vạn cuộc biểu tình đã xảy ra ở các tỉnh Tây Bắc Trung Quốc, không khí bất mãn xã hội bao trùm nhiều nơi. Cứ có việc gì xảy ra đụng đến người dân là hàng ngàn người tụ tập ngay lập tức phản đối các nhà chức trách, các cuộc đánh bom cơ quan hành chính cũng từng xảy ra.

Trong bối cảnh quốc tế và nội tình Trung Quốc như hiện nay, nếu giới cầm quyền Trung Quốc gây chiến tranh thì không biết điều gì sẽ xảy ra?

4. Hoàn cầu thời báo dọa đánh, chỉ người nhát gan mới sợ, nhân dân Việt Nam không sợ

Là nước nhỏ, từ trước đến nay Việt Nam chưa hề khiêu khích nước lớn Trung Quốc. Việt Nam cũng không muốn đối đầu quân sự với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc cậy mạnh đánh Việt Nam thì toàn dân Việt Nam đoàn kết một lòng kiên quyết đánh trả. Biết rằng hải quân Trung Quốc mạnh hơn hải quân Việt Nam, vũ khí, phương tiện hiện đại Trung Quốc hơn Việt Nam nhưng ưu thế về lực lượng và vũ khí phương tiện không nhất định thắng. Thời thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, Pháp có đủ tàu chiến, máy bay, xe tăng, Việt Nam thì không hề có những thứ đó. Cuối cùng Pháp đã thất bại. Thời kháng chiến chống Mỹ, tuy Việt Nam cũng có xe tăng, máy bay, tên lửa, pháo phòng không, pháo mặt đất, v.v. nhưng so với Mỹ thì Mỹ có ưu thế gấp nhiều lần về số lượng và chất lượng vũ khí phương tiện hiện đại, cuối cùng Mỹ cũng chịu thất bại mà rút quân. Kết quả của chiến tranh không chỉ phụ thuộc vào vũ khí mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, cả 3 điều này hiện tại Trung Quốc không có. Thắng, bại còn tùy thuộc vào chiến lược, chiến thuật, tùy thuộc ý chí bất khuất kiên cường của quân, dân và tính thần dũng cảm và sáng tạo của chỉ huy, tài thao lược của tướng lĩnh. Những điều này Việt Nam đã chứng minh từ xa xưa đến cận đại. Việt Nam đã có truyền thống và kinh nghiệm "lấy ít địch nhiều", "lấy nhỏ thắng lớn", lấy "chính nghĩa thắng hung tàn". Ai dọa Việt Nam cũng không sợ !

N. T. V.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/trung-quoc-lai-doa-anh-viet-nam.html


Sửa Hiến pháp


Sửa Hiến pháp, định vị lại "Nhà nước"

LS Ngô Ngọc Trai

image Từ những biến chuyển của cuộc sống đã đưa đến nhu cầu sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam. Chiều hướng sửa đổi là tăng cường dân chủ để phù hợp với phát triển nhận thức về Hiến pháp. Nội dung sửa đổi cơ bản vẫn xoay quanh vị trí vai trò của Nhà nước trong Hiến pháp.

Bài viết này soát xét lại căn nguyên của sự hình thành Nhà nước và Hiến pháp, mối tương quan giữa Nhà nước và Hiến pháp. Có thể có Nhà nước không có Hiến pháp có được không? Hoặc có Hiến pháp mà không có Nhà nước có được không? Đặc biệt từ đó minh định lại ý nghĩa của thuật ngữ "Nhà nước" trong Hiến pháp.

Với nội dung đó người viết muốn bạn đọc cùng bình tâm xem lại những vấn đề lâu nay vẫn được coi là hiển nhiên chưa đụng chạm đến. Phân tích làm rõ ra đây với mong muốn giúp cho bạn đọc có được cái nhìn tường minh hơn về Hiến pháp.

Chúng ta hiểu rằng: Cần phải hiểu về dân chủ mới biết cách xây dựng xã hội dân chủ. Cần phải hiểu về Hiến pháp mới biết cách xây dựng Hiến pháp dân chủ. Dân chúng nào thì Chính phủ ấy, khi chúng ta than phiền về Chính phủ, chính là lúc chúng ta cần nhìn lại chính mình.

Quan điểm của Lê Nin về sự hình thành Nhà nước

Bàn về Nhà nước, hay bàn về vị trí của Nhà nước trong Hiến pháp Việt Nam, không thể nào không nhắc lại một số luận điểm triết học của Lê Nin về Nhà nước. Trong bài giảng Bàn về nhà nước tại Trường đại học Xvéc-lốp (ngày 11 tháng Bảy 1919), đăng lần đầu tiên trên báo Sự thật, số 15, ngày 18 tháng Giêng 1929, Lê Nin nói:

- Học thuyết về Nhà nước là dùng để bào chữa cho những đặc quyền xã hội, bào chữa cho sự bóc lột, bào chữa cho sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản; vì vậy, sẽ sai lầm lớn nếu hy vọng rằng người ta sẽ tỏ ra vô tư trong vấn đề này.

- Lịch sử chứng minh rằng Nhà nước, một bộ máy cưỡng bức đặc biệt, chỉ xuất hiện ở nơi nào và khi nào mà xã hội đã chia thành giai cấp, tức là chia thành các nhóm người mà nhóm người này luôn luôn có thể chiếm đoạt lao động của những nhóm khác, người này bóc lột người khác.

- Trước khi xã hội chia thành giai cấp, thì cũng chưa có Nhà nước. Nhưng cùng với sự xuất hiện và sự xác lập của tình trạng xã hội phân chia thành giai cấp, cùng với sự phát sinh của xã hội có giai cấp thì Nhà nước cũng xuất hiện và được củng cố.

- Bao giờ cũng vậy, trong mỗi xã hội có Nhà nước đều có một nhóm người cai trị, chỉ huy, thống trị, và để giữ chính quyền, họ sử dụng một bộ máy cưỡng bức, một bộ máy bạo lực,

- Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của một giai cấp này đối với giai cấp khác.

- Nhà nước là một bộ máy để cho giai cấp này áp bức giai cấp khác, một bộ máy dùng để duy trì dưới sự thống trị của một giai cấp đối với tất cả các giai cấp bị lệ thuộc khác.

Luận điểm của Lê Nin rất rõ ràng, những nội dung trên đã trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng Nhà nước cách mạng ở Việt Nam. Cách đặt vấn đề và diễn giải của Lê Nin về Nhà nước cho chúng ta thấy:

Thứ nhất: Khởi nguyên cho sự hình thành Nhà nước là vấn đề tài sản. Tài sản rồi sự bất bình đẳng về tài sản là căn nguyên hình thành nên các giai cấp. Nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng về tài sản là lòng tham của con người, tài sản có xu hướng tích tụ do con người có lòng tham.

Thứ hai: Bản chất, vai trò của Nhà nước, đó là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị đối với phần còn lại của xã hội. Nhà nước có vai trò là "công cụ", có mục đích là duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị đối với phần còn lại của xã hội.

Thứ ba: Đã là "công cụ" thì sẽ được sử dụng trong một khoảng thời gian hữu hạn, có điểm bắt đầu và sẽ đến lúc kết thúc. Lê Nin cho rằng có thời kỳ chưa có Nhà nước, Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội hình thành nên các giai cấp. Lê Nin cũng cho rằng Nhà nước rồi sẽ tiêu vong khi mà của cải dư thừa, con người không còn tranh chấp với nhau về tài sản nữa, đó là thời kỳ của chủ nghĩa cộng sản.

Từ những luận điểm trên tất yếu đi đến kết luận mối quan hệ giữa Nhà nước và dân chủ, Nhà nước và Hiến pháp, như sau:

- Nếu Nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp này thống trị các giai cấp khác thì Nhà nước đó không thể nào mang trong mình các giá trị dân chủ. Một Nhà nước không thể vừa mang trong mình giá trị dân chủ, vừa mang bản chất là một công cụ bạo lực.

- Nếu trong xã hội tồn tại giai cấp này thống trị giai cấp khác thì không thể nào có bình đẳng, dân chủ. Cốt lõi của dân chủ là bình đẳng, không có bình đẳng tất không thể có dân chủ.

- Nếu Hiến pháp mang ý nghĩa là khế ước của tất cả công dân về việc thiết lập bộ máy chính quyền để bảo vệ các quyền tự do dân chủ cho các công dân thì không có chỗ cho Hiến pháp trong Nhà nước của Lê Nin. Người viết chưa từng nghe thấy quan điểm của Lê Nin về Hiến pháp. Hiến pháp – khế ước của toàn thể nhân dân về việc thiết lập chính quyền – không thể nào tồn tại trong một xã hội mà giai cấp này áp bức các giai cấp khác bằng công cụ Nhà nước.

Một cách đặt vấn đề khác về sự hình thành Nhà nước

Để xây dựng Hiến pháp dân chủ, chính quyền dân chủ, chúng ta cần một cách đặt vấn đề khác, một cách nhìn khác về căn nguyên đưa đến sự hình thành, thiết lập bộ máy chính quyền.

Con người do nhu cầu tìm kiếm thức ăn, chống chọi lại thú dữ, thiên tai đã từ bỏ cuộc sống tự nhiên nguyên thủy, đơn độc, hoang dại, tụ tập lại cùng sống với nhau, hình thành nên xã hội loài người. Từ đó đã làm xuất hiện nhu cầu tổ chức, sắp xếp, duy trì trật tự giữa các thành viên. Chính quyền khi đó xuất hiện với nhiệm vụ đơn giản là điều tiết các mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội.

Khi con người tự nhiên chuyển hóa thành con người xã hội đã đưa đến những chuyển hóa hoàn toàn năng lực nhận thức và năng lực hoạt động của con người. Con người tự nhiên hoạt động dựa trên bản năng, con người xã hội hoạt động dựa trên các giá trị. Theo thời gian, con người đúc kết nên các thang giá trị mà toàn bộ đời sống hoạt động của con người dựa trên và hướng đến các giá trị đó. Các chuẩn mực giá trị như: bình đẳng, công bằng, tự do, dân chủ, khoan dung, hạnh phúc… đã trở thành hệ giá trị phổ quát của nhân loại, sau này được cụ thể hóa bằng các quy định về nhân quyền.

Quá trình nhận thức và hoạt động của con người dựa trên và hướng tới các chuẩn mực giá trị được loài người thừa nhận, khi đó chính quyền chuyển từ vai trò điều tiết các hoạt động của con người sang vai trò là công cụ, phương tiện bảo vệ cho các chuẩn mực giá trị – các quyền con người. Sự chuyển hóa vai trò này diễn ra âm thầm và trong thời gian dài.

Tới thời điểm này, không còn nghi ngờ gì nữa, vai trò của chính quyền đã được xác lập không thể chối cãi. Chính quyền không còn là công cụ bạo lực của giai cấp này áp bức giai cấp khác. Chính quyền cần phải là phương tiện để thực thi và bảo vệ nhân quyền, và đó cũng là mục đích tối hậu của chính quyền. Một quốc gia mới được thành lập như Palestine hay Nam Sudan thì chính quyền được hình thành phải có mục đích là để bảo vệ nhân quyền, có vậy mới có được tính chính danh, được nhân dân trong nước thừa nhận, được quốc tế thừa nhận.

Với cách đặt vấn đề như vậy ta thấy:

- Căn nguyên cho sự hình thành chính quyền đó là nhu cầu về một thực thể trung gian để đảm trách giải quyết những vấn đề mà mỗi cá nhân không thể đảm nhiệm được. Chính quyền hình thành không phải xuất phát từ nhu cầu của một nhóm nhỏ có tài sản nhằm áp bức bóc lột phần còn lại. Nó là nhu cầu của toàn bộ các thành viên trong xã hội.

- Sự tích tụ tài sản không phải là nguyên nhân đưa đến sự thành lập chính quyền, đó là cái nhìn sai lệch. Ngược lại sự tích tụ tài sản là hệ quả của việc thành lập chính quyền, khi mà một số nhỏ nắm trong tay quyền lực đã sử dụng nó để làm giàu.

- Tài sản có xu hướng tích tụ do con người có lòng tham, điều này là phản ánh đúng thực tế nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ. Nguyên nhân cơ bản khác đưa đến sư tích tụ tài sản hay sự bất bình đẳng về tài sản là do có sự bất bình đẳng về năng lực phẩm chất con người. Người khỏe hơn, nhanh hơn thì săn được nhiều thú hơn là lẽ đương nhiên.

- Vai trò chức năng của chính quyền không phải là bất biến. Vai trò chức năng của chính quyền dần thay đổi và chuyển biến hoàn toàn bản chất của nó theo quá trình phát triển nhận thức của con người về các thang giá trị. Ban đầu chính quyền có vai trò duy trì trật tự, điều tiết quan hệ giữa người với người (việc điều tiết ban đầu có thể chưa đảm bảo các giá trị bình đẳng, công bằng…). Khi con người văn minh và đã xây dựng nên các thang giá trị được cộng đồng thừa nhận thì chính quyền khi đó là công cụ, phương tiện của con người để bảo vệ chính các quyền con người.

- Không thể nào tồn tại xã hội mà không có chính quyền, điều này xuất phát từ chính bản chất khiếm khuyết của loài người. Con người có trí thông minh nhưng không phải là không thể mắc sai lầm (con người không phải thánh thần), con người lại có bản năng dục vọng thúc giục lôi kéo, không thể nào từ bỏ được. Bởi lẽ đó một người có thể dốt nát, nhầm lẫn (vô ý) hoặc bị dục vọng lôi kéo (cố ý) xâm phạm tới quyền của người khác. Do vậy khi sự vi phạm vẫn có thể xảy ra thì vẫn luôn cần một thực thể trung gian để điều tiết, bảo vệ các quyền con người. Không thể nào trông đợi vào sự tự giác tận cùng của con người.

Hiến pháp xuất hiện từ khi nào?

Như trên đã phân tích, không có Hiến pháp trong Nhà nước của Lê Nin, khi Nhà nước là công cụ do một giai cấp thiết lập để áp bức các giai cấp khác.

Hiến pháp chỉ xuất hiện khi đông đảo con người đã thừa nhận tôn trọng một số chuẩn mực giá trị nhất định (các chuẩn mực giá trị cũng dần hoàn thiện theo thời gian). Khi con người cùng thừa nhận phải tôn trọng các chuẩn mực đó thì mới nảy sinh nhu cầu tìm kiếm cách thức thực hiện. Hiến pháp là sự ghi nhận các chuẩn mực giá trị và cách thức để bảo vệ các chuẩn mực giá trị đó. Chính quyền được thiết lập theo nội dung thứ hai.

Theo những luận giải về sự hình thành Hiến pháp ở trên thì Hiến pháp có trước chính quyền. Nhưng thực tế có nhiều bằng chứng cho thấy chính quyền có trước Hiến pháp. Vậy phải chăng là có mâu thuẫn?

Khi nhiều người tập trung lại sống cùng với nhau thì chính quyền xuất hiện, xét theo diễn biến phát triển của lịch sử thì rõ ràng chính quyền có trước Hiến pháp. Vào thời kỳ văn minh Hy Lạp khoảng năm 300, 400 trước công nguyên mới xuất hiện bản Hiến pháp. Ngay ở Việt Nam vào thời điểm năm 1945, 1946 thì Chính phủ dân chủ cộng hòa được thành lập rồi, sau mới có Hiến pháp. Như vậy thực tế có nhiều bằng chứng cho thấy chính quyền có trước Hiến pháp.

Nếu coi Hiến pháp là khế ước của tất cả mọi người sống trên một lãnh thổ quốc gia cùng cam kết thừa nhận tôn trọng các chuẩn mực giá trị, cùng thống nhất lập nên một thực thể trung gian là chính quyền để bảo vệ các chuẩn mực giá trị đó, khế ước đó được gọi là Hiến pháp.

Như vậy chính quyền là kết quả của việc thực thi Hiến pháp, chính quyền là kết quả của việc các công dân thực hiện các cam kết của chính mình. Hiến pháp có trước chính quyền.

Thời điểm những năm 1945, 1946 ở Việt Nam chính quyền ra đời trước khi có Hiến pháp nhưng thực ra khi đó trong xã hội đã tồn tại các chuẩn mực giá trị phổ quát của nhân loại – một thứ Hiến pháp bất thành văn. Bản thân sự thành lập Chính phủ và việc soạn thảo ban hành Hiến pháp năm 1946 thực hiện theo các mô thức quốc tế, chính là sự thừa nhận các giá trị phổ quát của nhân loại.

Bản Hiến pháp năm 1946 nhằm hợp thức hóa tính chính danh của chính quyền trên phương diện quốc tế. Theo đó Chính phủ muốn nói với quốc tế rằng, tuy Chính phủ tôi ra đời trước nhưng đã được quốc dân chấp thuận công nhận bằng bản Hiến pháp này đây.

Chính quyền ra đời nhằm mục đích giúp cho đời sống con người được tốt hơn.

Chính quyền chỉ là một trong rất nhiều tổ chức mà con người thành lập nên với mục đích giúp cho đời sống con người được tốt hơn. Ngoài việc thành lập chính quyền, con người còn thành lập các tổ chức xã hội khác.

Tóm lại, Bộ máy chính quyền với ý nghĩa là thực thể trung gian được hình thành để đảm nhiệm những việc mà từng cá nhân không thể đảm đương được, vì thế sự hình thành chính quyền xuất phát từ nhu cầu của toàn thể dân chúng và chính quyền được xây dựng dựa trên các chuẩn mực giá trị phổ quát của xã hội. Ban đầu chức năng của nó là điều tiết mối quan hệ giữa người với người, sau này chức năng của nó là công cụ, phương tiện bảo vệ nhân quyền. Có như thế mới đặt ra vấn đề cần có Hiến pháp và xây dựng Hiến pháp sao cho dân chủ để có được đời sống xã hội dân chủ. Còn nếu chiếu theo luận điểm của Lê Nin về Nhà nước thì không cần có Hiến pháp, Hiến pháp không có ý nghĩa gì cả.

Minh định lại thuật ngữ "nhà nước" trong Hiến pháp

Trên thực tế, đã xảy ra những việc đánh tráo khái niệm, đánh tráo ngôn từ, hay làm ảo thuật với từ ngữ. Có một số từ mới xuất hiện hoặc có một số từ hoàn toàn biến mất nhằm phục vụ cho những mục đích chính trị. Một số từ được gán ghép cho những ý nghĩa hoàn toàn mới. Hoặc một số từ gần giống nhau về nghĩa được sử dụng lập lờ để cố tình làm cho người khác nhầm lẫn, hiểu sai vấn đề, lẩn tránh trách nhiệm. Đó chẳng là gì khác là những thủ đoạn chính trị, giúp cho người làm chính trị đạt được mục đích của mình.

Không biết nguyên thủy, thuật ngữ "Nhà nước" mang ý nghĩa gì? Nhưng tới nay, thuật ngữ "Nhà nước" có thể coi là ngôn từ chính trị quan trọng bậc nhất ở Việt Nam. Việc sử dụng thuật ngữ "Nhà nước" quá phổ biến đã làm cho mọi người quên đi gốc gác của nó. Việc khám phá và sử dụng thuật ngữ "Nhà nước" đã tạo nên sự phù hợp, logic, chính đáng cho việc xác lập một thể thức nắm giữ, sử dụng quyền lực trên đất nước Việt nam. Chính nó đã tạo nên thế và lực cho thể chế chính trị được áp đặt lên quốc gia Việt Nam. Thuật ngữ Nhà nước luôn đi kèm với nó là quyền lực.

Hãy cùng xem xét một số thông tin về vấn đề này.

- Hiến pháp năm 1992 có 147 điều trong đó có tới 160 từ "Nhà nước".

- Hiến pháp năm 1980 có 147 điều thì có tới 209 từ "Nhà nước"

- Hiến pháp năm 1959 có 112 điều thì có tới 70 từ "nhà nước"

Trong khi đó, Hiến pháp năm 1946 một số người cho là mang giá trị dân chủ có 70 điều chỉ có duy nhất 1 từ "Nhà nước", được quy định tại Điều thứ 15 với nội dung: "Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước".

Mở rộng thêm ta thấy:

- Hai bản Hiến pháp của Việt Nam Cộng hòa không có từ "Nhà nước" nào.

- Tuyên ngôn độc lập do chủ tịch Hồ Chí Minh viết có 1009 từ nhưng không có từ "Nhà nước".

- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do chủ tịch Hồ Chí Minh viết có 210 từ nhưng không có từ "Nhà nước".

Xem ra có thời kỳ thuật ngữ "Nhà nước" đã không được sử dụng, hay ý thức về một thứ quyền lực bao trùm lên tất cả mọi tổ chức riêng rẽ chưa xuất hiện.

Tới đây chúng ta phân biệt: nhà nước với nước, đất nước, quốc gia, Tổ quốc.

Nước, đất nước, quốc gia, Tổ quốc chỉ thực thể tự nó hiện hữu, nội hàm trong đó bao gồm lãnh thổ địa lý quốc gia và xã hội loài người xây dựng trên đó. Các từ này mang ý nghĩa giống nhau, chỉ khác nhau về bối cảnh sử dụng, có thể được dùng thay thế cho nhau. Từ Tổ quốc, đất nước mang sắc thái tình cảm, không sử dụng trong khoa học pháp lý, chỉ dùng trong thơ ca, văn chương khi người ta muốn khơi dậy tình cảm của con người.

Thuật ngữ "Nhà nước" chỉ thực thể nhân tạo, là một trong rất nhiều tổ chức được con người lập ra nhằm phục vụ cho đời sống của con người. Nhà nước là một bộ máy, công cụ của con người, bị xóa bỏ khi cần.

Theo Lê Nin thì Nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, ngoài ra "nhà nước" là một bộ máy trong đó có Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Quân đội, Công an, Mặt trận Tổ quốc…. Các nhà lập pháp xã hội chủ nghĩa đã gom vào trong Nhà nước rất nhiều tổ chức khác nhau mặc dù các tổ chức đó được thành lập độc lập, có tên gọi riêng, chức năng riêng. Nhưng gom vào để làm gì, nếu bình thường tự các cơ quan, tổ chức kia đã là những chủ thể độc lập, có chức năng quyền hạn riêng biệt?

Thực chất từ "Nhà nước" rỗng tuếch không có gì cả, cái mà chúng ta gọi lâu nay như bộ máy nhà nước, cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước thực chất là chỉ cơ quan của một tổ chức cụ thể có tên gọi riêng. Ví dụ cơ quan Quốc hội, cơ quan Chính phủ, cơ quan Tòa án, cơ quan Công an…

Lâu nay chúng ta gọi chung là cơ quan Nhà nước, cán bộ Nhà nước là một thói quen không tốt, hình thành từ sự không phân định được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan riêng biệt. Điều này có gốc rễ từ việc thiếu vắng kiến thức về tổ chức bộ máy chính quyền của cả cán bộ lẫn người dân.

Việc gọi tên chung chung là cơ quan Nhà nước giống như ta vẫn gọi một người ngoại quốc là ông Tây. Nếu ta có kiến thức để phân biệt thì sẽ gọi là người Pháp, người Mỹ, người Đức, nhưng vì không thể phân biệt nên ta gọi chung là ông Tây.

Chúng ta có Luật tổ chức Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội; Luật tổ chức Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Luật tổ chức Tòa án, Chánh án Tòa án nhân dân… Nhưng chúng ta không có Luật tổ chức Nhà nước, không có Chủ tịch Nhà nước (ta có Chủ tịch nước – có thể gọi tên khác là Tổng thống hoặc Quốc trưởng – chứ không có Chủ tịch Nhà nước).

Chúng ta hoàn toàn có thể phân định rạch ròi từng cơ quan riêng biệt để gọi đúng tên của nó và cần bỏ đi cách gọi chung chung là cơ quan Nhà nước, cán bộ Nhà nước. Chúng ta cần gọi đúng tên để xác định đúng thẩm quyền, chức năng, trách nhiệm cụ thể.

Một số trường hợp có thể bỏ đi từ "Nhà nước", ví dụ:

- Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, vậy có thể gọi là Kho bạc Chính phủ, Kho bạc Quốc gia hay Kho bạc quốc gia Việt Nam, giống như Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam.

- Ngân hàng Nhà nước là cơ quan trực thuộc Chính phủ, vậy có thể gọi là Ngân hàng Chính phủ hoặc Ngân hàng Quốc gia, hay Ngân hàng quốc gia Việt Nam

- Thanh tra Nhà nước, tên chính xác là Thanh tra Chính phủ, Tổng thanh tra Chính phủ do Thủ tướng bổ nhiệm.

Tự các cơ quan riêng biệt đã có khả năng đứng độc lập và thực hiện được công việc của nó, vậy gom vào làm gì? Xin thưa rằng, gom vào để tập trung quyền lực, Nhà nước tập trung vào trong nó quyền lực. Quốc hội có quyền lập pháp, Quốc hội là cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà nước nắm quyền lập pháp. Chính phủ có quyền hành pháp, Chính phủ là cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà nước nắm quyền hành pháp. Tòa án có quyền tư pháp, Tòa án là cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà nước nắm quyền tư pháp. Nhà nước theo đó tập trung vào trong nó tất cả các quyền mà các cơ quan nằm trong nó có sẵn.

Nhà nước gom vào trong mình mọi thứ quyền lực, và đã nói đến "bên trong" thì có "bên ngoài" và "bên trên". Bên ngoài là xã hội, bên trên là Đảng Cộng sản. Biết bao nhiêu điều của Hiến pháp quy định quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án…, chỉ nhằm một mục đích phục vụ cho luận điểm: Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tới đây ta thấy một logic hợp lý của việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ Nhà nước. Một sự thật trần trụi về Nhà nước là: Nằm trên Nhà nước là Đảng Cộng sản, "nhà nước" đã thỏa mãn khi thể hiện được vai trò công dụng của mình.

Như vậy là từ "Nhà nước" thực ra rỗng tuếch, được sử dụng để chỉ một bộ máy bao hàm trong đó các cơ quan riêng biệt, đặt tất cả dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nếu bỏ đi từ "Nhà nước" mà vẫn muốn giữ nguyên lý đảng lãnh đạo toàn bộ thì sẽ phải quy định: Đảng lãnh đạo Quốc hội, đảng lãnh đạo Chính phủ, đảng lãnh đạo Tòa án, đảng lãnh đạo Công an, đảng lãnh đạo Quân đội, đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, đảng lãnh đạo Hội Phụ nữ… Quy định như vậy thì không liệt kê hết được và có vẻ thô bạo, đi ngược lại với các mô thức chính quyền mang các giá trị dân chủ phổ quát đã được quốc tế thừa nhận.

Tóm lại

Bài viết này là bàn về việc sửa đổi Hiến pháp sao cho dân chủ để từ đó mong muốn có được xã hội dân chủ. Nhưng chẳng thể nào tạo ra được một Hiến pháp dân chủ khi lảng tránh cội nguồn gốc rễ của Hiến pháp. Muốn xây dựng Hiến pháp dân chủ chúng ta phải xem lại khởi nguyên của sự hình thành Nhà nước và căn nguyên đưa đến sự ra đời Hiến pháp.

Chúng ta hiểu rằng: một Hiến pháp mang các giá trị dân chủ chưa chắc đã đem lại một đời sống dân chủ trên thực tế. Tuy nhiên, một đời sống thực tế muốn dân chủ thì tối thiểu bản Hiến pháp của nó phải mang giá trị dân chủ. Không thể nào có một đời sống dân chủ mà Hiến pháp của nó lại mang các giá trị phi dân chủ.

Trong việc xây dựng Hiến pháp, chúng ta cần xác định đâu là vấn đề quan trọng. Vấn đề Nhà nước, cách thức tổ chức thiết lập bộ máy Nhà nước, hay là vấn đề ghi nhận các quyền con người, quyền công dân và cách thức bảo vệ các quyền đó là quan trọng? Bởi lẽ khi ta quan trọng hóa vấn đề không thực sự quan trọng thì ta cũng sẽ nhầm lẫn không coi trọng vấn đề vốn thực sự là quan trọng.

Qua bài viết này ta thấy rằng không một cơ quan nào có từ Nhà nước mà ta không thể phân định rạch ròi để gọi tên chính xác của cơ quan đó và bỏ đi từ Nhà nước. Rất nhiều cơ quan tổ chức ở Việt Nam có thể bỏ đi từ đệm thừa thãi Nhà nước. Gọi một cách bao trùm chung chung là một thói quen xấu và chỉ đem đến hệ quả xấu. Đó là sự thiếu kiến thức phân định để có thể gọi tên chính xác cơ quan đó nhằm xác định trách nhiệm. Trong các cơ quan chính quyền, có cơ quan mang chức năng giám sát hoạt động của cơ quan khác, nếu gọi chung như thế thì cơ quan thực hiện và cơ quan bị giám sát và cả cơ quan xử lý sai phạm cùng gom vào làm một, dễ dẫn đến sự tiêu cực, làm xóa nhòa đi ranh giới chức năng, nhiệm vụ, bổn phận.

N.N.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/sua-hien-phap-inh-vi-lai-nha-nuoc.html


Tận diệt với Trung Quốc


Tránh Chiến tranh tận diệt với Trung Quốc

Dan Blumenthal - Michael Mazza - Mark Stokes

Trần Ngọc Cư dịch

Một cuộc tranh luận đang diễn ra giữa các nhà nghiên cứu TQ về việc Mỹ có nên coi TQ là một hiểm họa đối với an ninh của Mỹ và khu vực hay không. Trong một bài bình luận về bản tường trình «Các Liên minh châu Á trong thế kỷ XXI» do Viện Nghiên cứu Dự án 2049 (the Project 2049 Institute) xuất bản, ký giả James Traub đã cho rằng việc đối xử với TQ như một kẻ thù nhiều khả năng sẽ biến TQ thành một nước thù địch thực sự, và việc này có thể dẫn đến một đại chiến hủy diệt nhân loại – được Traub ví với Trận Armageddon trong Kinh Thánh (Xin xem: Liệu quá lo lắng về chiến tranh với TQ có dẫn đến chiến tranh thực sự hay không? http://www.boxitvn.net/bai/29387). Và sau đây là bài viết của các tác giả «Các Liên minh châu Á» dùng để trả lời ông Traub, qua đó chúng tôi hy vọng quý độc giả sẽ tiếp cận được nhiều thông tin đa chiều, như chủ trương của BVN «Chúng ta có bổn phận phải biết sự thật, vì chỉ có sự thật mới giải phóng con người» .

Bauxite Việt Nam

Điều đáng mừng là James Traub, một ký giả và nhà văn rất được kính nể, có lẽ đã bật ngửa, không còn tin tưởng Trung Quốc (TQ) là một cường quốc muốn duy trì "nguyên trạng", căn cứ một phần trên một bài nghiên cứu của chúng tôi.

Chúng tôi hy vọng rằng sẽ có thêm nhiều nhà văn tầm cỡ như Traub cũng bật ngửa như thế trước hiểm họa ngày càng đáng sợ của TQ. Sự thật là, cũng như mọi cường quốc đang trỗi dậy trong lịch sử nhân loại (kể cả Hoa Kỳ), TQ muốn thay đổi các quy tắc, các đường biên giới, và các luật lệ quốc tế được viết ra khi TQ còn yếu kém.

Traub nhận xét rằng TQ "có tiếng là kiên nhẫn và chín chắn" và vì thế "gần như là một điều lạ lẫm" khi TQ "thay đổi lập trường của mình đối với thế giới một cách cực đoan và nhanh chóng như thế". Nhưng Traub có đủ lương thiện trí thức để nhìn nhận rằng sự "kiên nhẫn" có tiếng của TQ có thể cũng chỉ là "một cách đóng kịch khéo léo, hay một giai đoạn quá độ" mà thôi.

Nhưng có lẽ sự kiên nhẫn của TQ đã luôn luôn được cường điệu. Suốt chiều dài lịch sử của TQ, nước này đã từng lao vào từ thảm họa này sang thảm họa khác, tổn thất không biết bao nhiêu nhân mạng và tài sản (chẳng hạn, Bước Nhảy vọt Vĩ đại, Cuộc Cách mạng Văn hóa, Chiến tranh của Bắc kinh với Việt Nam). Chắc chắn là, khi trở lại địa vị một cường quốc, TQ đã có thêm một cơ hội để "che giấu khả năng và chờ thời cơ" [thao quang dưỡng hối] như Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị. Nhưng thay vì làm như thế, TQ lại quyết định xây dựng một quân đội có khả năng gây bất ổn nghiêm trọng trong vùng (xin tham khảo các báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ trong 10 năm qua, bản mới nhất https://mail.google.com/mail/?ui=2&view=bsp&ver=ohhl4rw8mbn4) và đã tiến hành những cuộc giương oai giễu võ với Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam, Philippines, Nam Hàn, và, đáng lo ngại nhất, với Mỹ. Hiện nay chính TQ đã tạo điều kiện cho một sự bao vây mà TQ rất sợ.

Theo Traub, không những một mình cựu Thứ trưởng Ngoại giao James Steinberg "nhận xét rằng những khả năng quân sự được gia tăng của TQ" và "thái độ quyết đoán về quyền chủ quyền quá rộng lớn của TQ" ở Biển Đông đã khiến Mỹ và đồng minh phải "nghi ngờ các ý đồ của TQ". Các nhà lãnh đạo ngoại giao và quân sự của Mỹ cũng bày tỏ sự lo ngại tương tự. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates, một người rất điềm đạm, cũng bày tỏ mối quan ngại của ông về quân lực TQ trên tờ Washington Post. Ông nói, quân đội TQ "rõ ràng có tiềm lực đe dọa các khả năng quân sự của chúng ta… Chúng ta cần phải đáp lại thích đáng bằng các chương trình quân sự của mình".

Và vào tháng Sáu năm nay, khi thuyết trình về việc TQ tăng cường quân lực, Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân, Đô đốc Mike Mullen, đã phát biểu, "Tôi đi từ tâm trạng tò mò sang tâm trạng thực sự lo ngại". Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton cũng đã đề cập vấn đề này. Phản ứng lại các vụ TQ sách nhiễu qua nhiều năm các tàu bè của Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam, và Philippine, năm ngoái Bà Clinton đã có hành động đột phá bằng cách tuyên bố tại cuộc họp thượng đỉnh ở Hà Nội rằng "cũng như mọi quốc gia khác, Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia trong việc tự do lưu thông, tự do tiếp cận các hải phận quốc tế tại châu Á, và có bổn phận tôn trọng luật pháp quốc tế trên Biển Đông". Đây là một cách nói ngoại giao để cho TQ biết rằng chúng ta sẽ tiếp tục thao diễn quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của TQ, phù hợp với thông lệ quốc tế, và chúng ta sẽ đảm bảo các đối tác của chúng ta tại châu Á có đủ khả năng chống lại sự ức hiếp của TQ.

Điều này làm chúng tôi chú ý đến điểm bất đồng có vẻ lớn nhất của Traub đối với bài nghiên cứu của chúng tôi: rằng thực hiện những điều mà ông Gates và bà Clinton tuyên bố là cần phải làm (đáp lại TQ bằng các chương trình cải tiến quân sự của chúng ta và đảm bảo tự do thông thương và tự do tiếp cận hải phận quốc tế tại châu Á) là rất tốn kém. Đúng vậy. Duy trì an ninh quốc gia là một nỗ lực rất tốn kém. Nhưng lịch sử của chúng ta đã chứng minh, sự yếu kém quân sự (như giai đoạn trước Trân Châu Cảng, trước Chiến tranh Triều Tiên) khi đối diện với những đe dọa mới lại còn đắt giá hơn, về nhân mạng và ngân sách.

Bài nghiên cứu của chúng tôi không đưa ra tổng số phí tổn để xây dựng các khả năng quân sự mà chiến lược Mỹ cần đến. Nhưng vì ngân sách quốc phòng cơ bản hiện nay đang ở mức thấp nhất sau Thế chiến II, tức 3,5% GDP, cho nên bình ổn nó ở mức 4% GDP, con số mà Traub cho biết ứng viên Tổng thống Cộng hòa Mitt Romney muốn đề xuất, có vẻ là một khởi điểm hợp lý. Chúng tôi thực sự nhận ra được một số khả năng quân sự cần thiết cho chiến lược Mỹ (theo Traub, Blumenthal đã bàn rộng về điểm này trong bản điều trần trước quốc hội gần đây ). Một cách hữu hiệu để thoát khỏi sự phá sản chiến lược – một tình trạng mà một quốc gia lâm vào khi nó không đủ ngân sách để tài trợ những cam kết đã đưa ra – là phải cung cấp nguồn lực thích đáng cho các kế hoạch đã được Bộ Quốc phòng đề xuất. Nhưng điều đáng lo ngại là, chính quyền Obama không chịu tài trợ các khả năng quân sự mà quân đội cho là cần thiết để thực thi các sứ mệnh mà các chủ nhân ông dân sự (civilian masters) đã giao phó cho họ.

Chẳng hạn, Hải quân Mỹ cần 328 chiến hạm so với con số 284 hiện nay, nhưng Văn phòng Ngân sách Quốc hội đã tuyên bố mục tiêu đó nằm ngoài khả năng thực hiện. Nói rõ hơn, đội tàu ngầm tấn công hạt nhân chắc chắn sẽ chịu thêm nhiều sức ép. Yêu cầu mà Hải quân đã công bố là 48 tàu loại này. Tuy nhiên, nếu kế hoạch đóng tàu 30 năm của Hải quân không nhận thêm ngân sách, Hải quân Mỹ sẽ khó đạt đủ số 48 tàu ngầm. Ngoài ra, không có một điều khoản nào trong kế hoạch đóng tàu cho phép gia tăng sản xuất khẩn cấp để đáp lại việc TQ càng ngày càng có thêm nhiều tàu ngầm. Trong 16 năm liền, trung bình mỗi năm TQ đưa vào hoạt động trên hai tàu ngầm. Hiện nay TQ có trên 60 tàu ngầm tấn công trong đội tàu ngầm của mình, và đang đóng thêm nữa. Và khác với Mỹ là nước đang phân tán mỏng đội tàu ngầm của mình khắp Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, và Ấn Độ Dương, TQ tung tất cả tàu ngầm sẵn có vào Đông Á và Đông Nam Á.

Trong khi đó, theo ước tính của Không quân, binh chủng này sẽ thiếu hụt một số lượng chóng mặt là 800 máy bay chiến thuật trong vài năm tới. Hải quân và Thủy quân Lục chiến Mỹ ước tính sẽ sẽ thiếu hụt 200 máy bay chiến đấu trong cùng một giai đoạn. Hãy so sánh sự kiện này với việc TQ tăng cường lực lượng máy bay chiến đấu, kể cả chiếc máy bay chiến đấu tàng hình mới ra mắt đã khiến giới quan sát tình hình TQ (kể cả chúng tôi) thêm một lần nữa phải ngạc nhiên.

Bộ Quốc phòng đã ước tính những thiếu hụt của mình trước khi Chính quyền Obama và Quốc hội đề nghị cắt thêm 1.000 tỷ đôla trong các chương trình quốc phòng trong 5 năm tới. Những cắt giảm ngân sách này không những có ý nghĩa là Bộ Quốc phòng sẽ không thực hiện được những chương trình đầu tư hiện tại. Nếu được thực thi, những cắt giảm mới này còn có ý nghĩa là mọi hệ thống thiết bị mà quân đội cho là cần thiết trong tương lai sẽ bị lâm nguy (chẳng hạn, một loại máy bay ném bom hiện đại hơn, những hệ thống không gian, có lẽ cả tàu sân bay).

Những người đề nghị cắt giảm ngân sách quốc phòng không bao giờ trả lời câu hỏi này: Sẽ có những thiệt hại nào do việc không cung cấp đủ nguồn lực để thực hiện các kế hoạch và chính sách Mỹ? Mỹ sẽ rút lui những cam kết nào, và bằng cách nào? Với Đài Loan? Với Nhật Bản? Với quyền tự do tiếp cận Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông]? Có cách nào để Mỹ nhường châu Á lại cho TQ một cách tế nhị không? Có cách nào để làm việc này một cách hòa bình, không thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa nhiều nước trong khu vực? Với tư cách một quốc gia, liệu chúng ta có thể khấm khá được không nếu phải cầu xin TQ cho phép sử dụng những tuyến đường mậu dịch châu Á?

Traub so sánh bài nghiên cứu của chúng tôi với tư duy của các Lý thuyết gia Chiến tranh Lạnh như Herman Kahn và ông sử dụng từ ngữ của thời Chiến tranh Lạnh như "đẩy lùi" (roll back). Nhưng bài nghiên cứu của chúng tôi dứt khoát tránh xa một sự so sánh nào với Chiến tranh Lạnh. Chiến tranh Lạnh là một ẩn dụ quá thô thiển để mô tả quan hệ Mỹ-Trung hiện nay. TQ là một đối tác kinh tế, và Washington đã dấn thân sâu sắc vào một chính sách ngoại giao thân thiện, cố tình thuyết phục TQ chấp nhận địa vị đại cường của mình một cách hòa bình. Đồng thời, chúng ta cũng đang cố gắng quân bình lực lượng với TQ và có những biện pháp đề phòng nhằm chống lại một TQ hiếu chiến. Bài nghiên cứu của chúng tôi đề xuất một chiến lược nhằm thực hiện thành công hai điều vừa nói (các tác giả khác đã viết nhiều về những điều kiện cầu thân [engagement's requirements] với TQ). Chính vì sự kềnh cựa an ninh quốc phòng Mỹ-Trung hiện nay rất khác với Chiến tranh Lạnh trước đây khiến chúng tôi nhận thấy rằng nước Mỹ đang bức thiết cần đến một nghệ thuật quản lý nhà nước tinh vi (sophisticated statecraft). Chúng ta cần phải kết hợp đúng đắn cùng một lúc vừa cầu thân, vừa quân bình lực lượng vừa đề phòng TQ.

Chiến lược quân bình lực lượng và đề phòng TQ cần đến nhiều lựa chọn khác nhau để tránh điều mà Traub mô tả đúng đắn là "Armageddon" [trận Đại chiến trước ngày Tận thế]. Chúng tôi kêu gọi những lựa chọn mang tính [chiến tranh] quy ước, để khỏi đánh vào một Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có trang bị vũ khí hạt nhân, với hy vọng rằng một chiến lược như thế trước hết sẽ tăng cường khả năng ngăn chặn và tránh trận Đại chiến hủy diệt nhân loại nếu chính sách ngăn chặn có thất bại đi nữa. Chiến lược này có mục đích làm trì hoãn tiến trình leo thang quân sự hơn là thúc đẩy nó.

Ý kiến cho rằng chúng ta đang biến hoang tưởng thành hiện thực – đang biến TQ thành quốc gia thù nghịch bằng cách ứng xử với TQ như một kẻ thù – gợi lên hình ảnh con rồng, một con vật tưởng tượng mà vẫn có người tin. Mỹ đã cố gắng làm nhiều điều hơn bất cứ quốc gia nào khác để "biến TQ thành một người bạn" bằng cách chào đón TQ gia nhập cộng đồng quốc tế. Nhưng than ôi, cho đến nay TQ vẫn chưa biến "lời tiên tri của Mỹ về tình hữu nghị" thành hiện thực. Thay vào đó, TQ đã tiên tục xây dựng cái mà tất cả các nhà quan sát khả tín gọi là một quân đội gây bất ổn (a destabilizing military), một hành động đã thay đổi nguyên trạng (the status quo) bằng cách dí súng vào đầu Đài Loan thậm chí cả khi Đài Loan có những nỗ lực hòa bình, bằng cách tuyên bố chủ chuyền thêm nhiều lãnh thổ hơn bao giờ hết trên Biển Đông, và bằng các âm mưu ức hiếp và hù dọa Nhật Bản.

Traub thắc mắc là liệu các quốc gia đồng minh và đối tác của chúng ta có muốn tham gia một "liên minh chống Trung Quốc" hay không, như từ ngữ ông dùng để mô tả. Theo nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các quốc gia đồng minh, đối tác, và có tiềm năng đối tác với Mỹ đều đã hiện đại hóa quân đội của mình để phản ứng lại TQ. Và các quốc gia này sẽ tiếp tục làm như thế bất chấp Mỹ có theo đuổi cái mà Traub sẽ coi là một chiến lược "chống TQ" hay không. Ngay cả một nước có thái độ thư giãn như Australia cũng đã lên kế hoạch tăng gấp đôi đội tàu ngầm của mình – Australia không làm điều này nhằm đẩy lui sự tấn công của đảo quốc tí hon Fiji.

Bài nghiên cứu của chúng tôi lý luận rằng đã đến lúc Mỹ phải đưa ra sự hỗ trợ nghiêm chỉnh hơn [với các nước trong khu vực] để tình hình khỏi rơi ra ngoài vòng kiểm soát. Chẳng hạn, một sự hiện diện và cam kết mạnh mẽ của Mỹ đối với nền an ninh của khu vực này có thể giúp các nước tránh được một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Mỹ có thể là một lực lượng "hà hơi tiếp sức" (a force multiplier)  bằng cách cung cấp tin tức tình báo, tuần tra, và thám thính, những khả năng chỉ một mình Washington có được, và bằng cách huấn luyện và trang bị quân đội của các đồng minh và các nước bạn.

Chiến lược này là một phương cách để bắt đầu đưa châu Á trở lại quân bình lực lượng trong khi TQ tìm cách thay đổi nguyên trạng. Chúng tôi chỉ sợ rằng, nếu không làm được như thế thì sẽ dẫn đến một cuộc Chiến tranh tận diệt.

T. N.C

Nguồn: http://shadowgovernment.foreignpolicy.com

Dan Blumenthal và Michael Mazza là những học giả của trung tâm nghiên cứu American Enterprise Institute. Mark Stokes là giám đốc điều hành của Viện Nghiên cứu Dự án 2049 (the Project 2049 Institute)

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/tranh-chien-tranh-tan-diet-voi-trung.html


04 tháng 10 2011

Mong manh số phận nông dân!


Mong manh số phận nông dân!

Hai Kim

clip_image014  

Hình 7. Mái đầu bạc nhấp nhô dưới nước.

 

4 giờ sáng ngày 28/9, đê bao bờ bắc kinh Cả Mũi bị bể, 460 ha lúa chìm vào biển nước.

Nông dân, cán bộ, bộ đội tập trung gia cố đê bao ở bờ Nam.

12 giờ trưa ngày 2, về lại kinh Cả Mũi, đứng bên chiếc cầu gãy nghe tiếng nước réo ầm ì, đưa mắt nhìn về phía bờ Nam đồng lúa xanh mơn mởn. Biết rằng, chỉ có phép lạ cầm nước không lên, mới cứu nổi đồng lúa xanh mơn mởn này khỏi chìm sâu vào lòng nước như phía bờ Bắc. Tôi thấy lòng bùi ngùi xúc động: số phận của nông dân mới mong manh làm sao!

Đi vào khoảng 200 mét, nhìn thấy một mái đầu bạc đang lặn hụp dưới lòng kinh để buộc tràm đóng cọc. Đó là bác Phạm Văn Ổi. Tuổi đã ngoài 70. Lên bờ, Bác Ổi cho tôi biết:

- Gia đình làm được 20 công, 10 công ở bờ Bắc đã bị chìm, còn lại 10 công này ráng mà giữ, bể đê nữa là trắng tay".

Tôi hỏi:

- Tình hình đê mình ra sao hả bác?

- Còn nước còn tát cháu ơi! – Bác lắc đầu, đưa mắt ra xa.

Ở một đoạn đê khác, tôi gặp một người còn trẻ, ngồi một mình, tôi hỏi:

- Sao cháu ngồi đây?

- Cháu đợi mấy anh mang bao tới đắp cao lên nữa, chỗ này còn 1 tấc là nước tràn vào. Cháu đáp.

- Cháu có ruộng ở đây hả?

- Gia đình cháu có ba chục công.

- Cháu lập gia đình chưa?

- Chưa chú ơi, nhưng hẹn ngày rồi, chờ cắt lúa xong có tiền là làm đám cưới.

Im lặng một hồi, cháu nói ngập ngừng:

- Không biết… có lúa để cắt hay không?

50 nông dân và cán bộ xã, huyện thường xuyên gia cố bờ đê bằng bao đất và đóng cừ, hàng trăm bộ đội sẵn sàng ứng cứu, máy Gô-be túc trực đêm ngày.

Thế nhưng, đoạn đê yếu dài gần 2 km, mực nước trên kinh cao hơn mặt ruộng khoảng 4 m, nước đã mấp mé bờ đê.

Nước cầm, hộ đê đã khó! chỉ cần nước lên vài tấc nữa, việc hộ đê sẽ lâm vào tuyệt vọng!

Lạy ơn trên. Xin ban cho chúng con phép lạ.

Hình ảnh để minh họa bài viết:

clip_image002

Hình 1. 28/9/2011, 460 ha lúa ở bờ Nam kinh Cả Mũi.

clip_image004

Hình 2. Đã biến thành biển nước.

clip_image006

Hình 3. Tập trung sức cứu bờ Nam.

clip_image008

Hình 4. 29/9, Chiếc cầu gãy, nước réo ầm ì.

clip_image010

Hình 5. Nhìn về phía bờ Nam.

clip_image012

Hình 6. Đồng lúa xanh mơn mởn.

 

clip_image016

Hình 8. Đó là bác Phạm Văn Ổi.

clip_image018

Hình 9. Cháu trai mà tôi quên hỏi tên.

clip_image020

Hình 10. Đang hy vọng có tiền cưới vợ.

clip_image022

Hình 11. Gô-be túc trực đêm ngày.

clip_image024

Hình 12. Đê yếu dài gần 2 Km.

clip_image026

Hình 13. Tin vui 5 giờ chiều ngày 30/9: bên bờ Nam lúa vẫn còn xanh.

H.K.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2011/10/mong-manh-so-phan-nong-dan.html