Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

16 tháng 3 2010

Trung Quốc – Dã tâm “hữu hảo” và những hành vi trắng trợn nhằm cướp trọn biển Đông


Đối với vấn đề biển Đông, lãnh đạo Trung Quốc đã luôn kêu gọi cần phải có hòa bình, ổn định, phát triển và hợp tác. Tại buổi họp báo sáng 06/1/2010 ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường nói rằng, chúng ta đã thiết lập cơ chế đàm phán vấn đề trên biển, thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thúc đẩy tiến trình đàm phán. Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Tôi nghĩ đây là cách làm phù hợp nhất.

Tuy nhiên, ngay đằng sau lời nói trên của ông Tôn Quốc Tường, thì hoàng loạt các hoạt động cả về kinh tế và quân sự của Trung Quốc vẫn được tăng cường trên biển Đông, đặc biệt có nhiều hoạt động đã vi phạm nghiêm trọng tới chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.

Các tàu cá Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam.

Tin từ Ban tác chiến Bộ đội Biên phòng TP Đà Nẵng cho biết vào hồi 7g30 sáng ngày 03/1/2010, qua mạng thông tin biển, lực lượng biên phòng Đà Nẵng đã phát hiện có đến gần 20 tàu cá Trung Quốc xâm phạm trái phép lãnh hải Việt Nam trên vùng biển Thừa Thiên Huế để đánh bắt trộm hải sản. Ngay sau đó, các lực lượng biên phòng Việt Nam đã phối hợp để đẩy đuổi các nhóm tàu cá này ra khỏi lãnh hải. Theo lực lượng biên phòng Đà Nẵng đây không phải là lần đầu tiên, mà trước đó nhiều lần, lực lượng biên phòng Đà Nẵng đã phải dùng xuồng cao tốc đến ngay ngư trường có tàu cá Trung Quốc đang đánh bắt trái phép để đẩy đuổi ra khỏi vùng biển chủ quyền.

Đặc biệt, hôm 29/1/2010, có đến 100 tàu cá Trung Quốc bị phát hiện đang đánh bắt hải sản trái phép ở vĩ độ 17, kinh độ 108'30, sát bờ biển Quảng Trị – Thừa Thiên Huế; ngày 02/2/2010, Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng đã cử lực lượng xuất kích đuổi 30 tàu cá Trung Quốc đang xâm nhập sâu vào vùng biển miền Trung, chỉ còn cách bờ biển Đà Nẵng – Thừa Thiên Huế khoảng 45 hải lý; ngày 06/2/2010, một số tàu cá Trung Quốc vẫn tiếp tục xâm phạm vùng biển miền Trung đánh bắt cá trái phép. Có tàu do mải mê đi theo luồng cá nên vô tình xâm nhập trái phép vào vùng biển Việt Nam, nhưng cũng có nhiều tàu cá cố tình lấn sâu vào vùng biển miền Trung để khai thác trái phép.

Hoạt động tuần tra ngư trường


Tại buổi mít tinh kỷ niệm 15 năm "xây dựng và bảo vệ" bãi đá Vành Khăn thuộc Trường Sa hôm 09/2/2010, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trung Quốc Ngưu Thuấn phát biểu rằng Trung Quốc sẽ "kịp thời điều chỉnh tư duy về khai thác và quản lý nghề cá" ở khu vực Trường Sa. Vì ông cho rằng "căn cứ theo tình hình mới, tăng cường tuần tiễu ngư chính bảo vệ nghề cá trên vùng biển Trường Sa, là nhằm giữ gìn lợi ích biển quốc gia".

Lời phát biểu trên của ông Ngưu Thuấn thực sự đã đi ngược lại với nhận thức chung của lãnh đạo hai nước và đối nghịch hoàn toàn với quan điểm của ông Tôn Quốc Tường đã phát biểu hôm 06/1/2010 ở Hà Nội. Trong khi đó ông Ngưu Thuấn cũng thừa hiểu rằng, việc đưa tàu tuần tiễu ngư chính tới Trường Sa là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và làm phức tạp thêm tình hình.

Gia tăng các hoạt động quân sự

Các hoạt động quân sự của Trung Quốc tại các khu vực trên Biển Đông cũng thường xuyên được duy trì. Đặc biệt là lực lượng tàu chiến và máy bay thuộc Hạm đội Nam Hải đã liên tục tiến hành các hoạt động tuần tra và tổ chức diễn tập trên Biển Đông. Mới đây nhất vào khoảng giữa tháng 2/2010, Hạm đội Nam Hải đã điều động một đội tàu khu trục tới phối hợp với các tàu của lực lượng Hải quân Đánh bộ và các tàu hậu cần tổ chức 10 khoa mục huấn luyện trên Biển Đông như: Tìm kiếm và cứu hộ, phối hợp chống khủng bố, kiểm soát trên biển và trên không, huấn luyện chiến thuật tác chiến trên biển cho sỹ quan và binh lính và các khoa mục khác.

Đẩy mạnh hoạt động khai thác dầu khí

Kể từ vài tháng gần đây Trung Quốc đã không ngừng đổi mới về công nghệ khai thác, đầu tư sản xuất các phương tiện khai thác, tăng cường mở rộng phạm vi khai thác trên vùng nước sâu ở biển Đông, cụ thể là các mỏ dầu trọng yếu thuộc bồn địa Quỳnh Đông Nam và khu mỏ ở Liwan. Trước đó ngày 18/10/2009, Trung Quốc đã chuyển giao tàu khảo sát băng cháy đầu tiên mang tên "Ocean No 6" cho Cơ quan Khảo sát Địa chất biển của tỉnh Quảng Châu để thực hiện việc thăm dò các mỏ băng cháy trên biển Đông.

Tiếp đó, ngày 26/2/2010, tạp chí Thượng Hải cho biết, Trung Quốc đã hoàn thành giai đoạn lắp ráp chiếc giàn khoan bán ngầm nội địa đầu tiên. Chiếc giàn khoan bán ngầm này do Viện Nghiên cứu 708 thuộc Tập đoàn Đóng tàu Quốc gia Trung Quốc thiết kế và chế tạo với tổng trị giá khoảng 06 tỷ NDT (887 triệu USD), giàn khoan có trọng lượng trên 30.000 tấn và có thể khoan ở vùng nước sâu 10.000 m, đây là một trong những giàn khoan hiện đại nhất thế giới. Giàn khoan sẽ được chuyển giao cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) vào tháng 12/2010 để tiến hành tác nghiệp trên biển Đông.

Cũng để tăng cường khả năng khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trên khu vực biển Đông, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc đang có những nỗ lực để đưa Trung tâm Kỹ thuật Dầu khí Chu Hải ở tỉnh Quảng Châu đi vào hoạt động trong đầu năm tới. Trung tâm sẽ được đầu tư khoảng 30 – 50 tỷ yuan để phát triển một số dự án trọng điểm tại Trung tâm chu Hải gồm: Xây dựng dự án khí hóa lỏng (Gaolangang LNG), dự án mỏ dầu Liwan3-1, dự án điện năng Zhuahi 9F, dự án khí hóa lỏng tự động và dự án lọc dầu. Trung tâm này sẽ phục vụ cho các hoạt động khảo sát và thăm dò dầu khí của Trung Quốc trên Biển Đông

Tuy nhiên, việc Trung Quốc liên tục đưa các tàu khảo sát, giàn khoan và các phương tiện phục vụ hoạt động về dầu khí tới Biển Đông mà không được phép của Việt Nam là vi phạm vào chủ quyền của Việt Nam, đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo hai nước và làm phức tạp thêm tình hình trong khu vực.

Bên cạnh việc gia tăng về các hoạt động tàu cá, tàu tuần tra ngư trường, các hoạt động quân sự và hoạt động khai thác dầu khí, thì các hoạt động du lịch của Trung Quốc cũng thường xuyên được đẩy mạnh, Trung Quốc cũng đã tự ý đưa các đoàn du lịch, phóng viên ra đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Bên cạnh đó tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng các công trình phục vụ du lịch tại khu vực đảo Hải Nam.

Nhìn lại toàn bộ các sự việc và hành động của Trung Quốc trong thời gian vừa qua thấy rằng, những lời tuyên bố hay lời kêu gọi về sự hòa bình, ổn định, phát triển và hợp tác trên khu vực Biển Đông của ông Tôn Quốc Tường, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam là hoàn toàn trái ngược, dường như lời nói của ông này không có trọng lượng.

LH
Nguồn: vitinfo.com.vn

14 tháng 3 2010

Tiến bộ bằng tiền của Bắc Kinh tại Đông Nam Á

Vừa phóng tài hóa thu nhân tâm, vừa giở nhiều thủ đoạn thâm hiểm làm kiệt quệ sức lực các nước, làm cho các nước mất hết tài nguyên, bị ngoạm dần lãnh thổ, lại vừa xuất khẩu dân cư nước mình đi bất kỳ một nơi nào làm ăn sinh sống, và khi cần sẽ là đội quân phục sẵn chờ lệnh "nước mẹ", đó là chính sách nhất quán và cũng rất "đa dạng" của Trung Quốc mà ta có thể gọi là những cái răng nanh chó sói đã hiện ra lấp ló sau lưng mấy "cô bé quàng khăn đỏ" đang tấp tểnh nhảy múa trên ngai vàng một vài nước trong vùng Đông Nam Á.

Bauxite Việt Nam
Chỉ vài ngày trước lễ Giáng sinh, Campuchia vội vàng trục xuất 20 người tị nạn Uighur về lại Trung Quốc trước những phản đối mạnh mẽ của các nước phương Tây.

Hai ngày sau, Bắc Kinh tiếp nối bằng sự kiện thông qua kế hoạch đầu tư hạ tầng trị giá 1,2 tỉ USD vào Campuchia, một trong những quốc gia nghèo nhất Đông Nam Á.

Cả hai chính phủ đều chối bỏ mọi cáo buộc cho là đã có qua có lại, song theo nhiều nhà quan sát, những bước đi trùng hợp này chỉ là một dấu hiệu nữa cho thấy Trung Quốc có khả năng sử dụng nền kinh tế khổng lồ của mình làm đòn bẩy, áp đặt các ưu thế ngoại giao tư lợi cho họ.

Nhà chức trách Trung Quốc tin rằng những người Uighur, dân bản địa Hồi giáo tại tỉnh Tân Cương bất ổn, đã tham gia vào các cuộc biểu tình bạo động hồi năm ngoái, đồng thời Campuchia không phải là điểm duy nhất để họ gây áp lực.

Tổ chức Giám sát Nhân Quyền (Human Rights Watch) đưa tin là Nepal, Pakistan và Uzbekistan cũng đã thực hiện việc dẫn độ người Uighur theo chỉ thị của Bắc Kinh.

Andrew Swan, một nghiên cứu gia thuộc Tổ chức các Quốc gia và Dân tộc Không có Đại diện, trụ sở tại Hà Lan, cho rằng hành động trục xuất của Campuchia là một phần của khuynh hướng đầu hàng đang lớn dần trong khu vực trước những đòi hỏi ngoại giao của Trung Quốc, dưới sức nặng cơ bắp về kinh tế của họ.

"Trung Quốc giờ đây có nhiều phương tiện hơn khiến bên ngoài cảm nhận được khả năng vươn xa của họ", Swan phát biểu. "Đồng thời sự tự tin về ngoại giao của họ cũng đang mạnh lên".

Tranh thủ bạn bè

Nhằm nuôi dưỡng nền kinh tế đang bùng nổ của mình, Trung Quốc đã bành trướng sự có mặt của họ tại nhiều nước Đông Nam Á thông qua các dự án về đường sá, đập thủy điện, quặng mỏ, dầu hỏa, thủy lợi và viễn thông.

Ở Campuchia, chẳng hạn, Trung Quốc đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài đứng đầu cũng như là một trong những nước viện trợ hàng đầu.

Ngay sau sự kiện trục xuất người Uighur, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã ký 14 văn kiện trị giá 1,2 tỉ USD liên quan đến hạ tầng, xây dựng, tài trợ và các khoản cho vay tại Campuchia.

Vài ngày trước, Tập Cận Bình đã có mặt ở Miến Điện với Tổng tư lệnh Than Shwe, lãnh đạo chính quyền quân phiệt, để ký một thỏa thuận về đường ống dẫn dầu thô dài 1.240 ki-lô-mét từ mạn Tây Miến Điện sang miền Nam Trung Quốc.

Nền tảng cho nhiều sáng kiến như trên đã được xây đắp trong nhiều năm qua, đặc biệt là thời kỳ khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1996-97, khi đó Bắc Kinh đã xuất hiện trong khu vực nhằm lấp đầy khoảng trống do những nền kinh tế nội địa suy thoái tạo ra và tình trạng tháo chạy của đầu tư nước ngoài, đặc biệt là của Nhật Bản.

Công cụ chủ yếu của Bắc Kinh là giải ngân viện trợ, hiệp định thương mại mới, ngoại giao văn hóa và quan hệ quân sự.

"Một phần trong ngoại giao của họ là bảo rằng họ không cần nhận lại bất cứ điều gì", Joshua Kurlantzick phát biểu, ông là một chuyên gia về Đông Nam Á tại Hội đồng Quan hệ Quốc tế ở Washington và là tác giả quyển sách Thế tấn công quyến rũ: Phương thức biến chuyển thế giới của quyền lực mềm Trung Quốc.

"Nhưng điều đó không đúng", ông tiếp tục. Đổi lại, Bắc Kinh đã yêu cầu lòng trung thành về ngoại giao trên một số điểm cốt lõi, chẳng hạn Đài Loan, Tây Tạng và gần đây là người Uighur – thay vì những vấn đề về nhân quyền và quản trị tốt.

'Không ràng buộc'

Không như các nước phương Tây, khác biệt của viện trợ kinh tế từ Trung Quốc ở Đông Nam Á là Trung Quốc không ràng buộc những điều khoản về dân chủ hoặc nhân quyền vào các đóng góp của họ – những đòi hỏi mà các chính phủ trong khu vực xem là những trở ngại cho sự cai trị của họ.

"Chẳng có điều kiện nào cả", Thủ tướng Campuchia Hun Sen phát biểu về khoản viện trợ mà quốc gia của ông vừa nhận được từ Bắc Kinh. "Chúng tôi trực tiếp nói chuyện qua lại".

Song chính cuộc đàm thoại trực tiếp này, thoát khỏi sự giám sát của công chúng, đã khiến các quốc gia phương Tây và tổ chức nhân quyền lo ngại.

Theo tổ chức Dịch vụ Nghiên cứu thuộc Quốc hội Hoa Kỳ, kể từ năm 2007, Trung Quốc đã mạnh mẽ vượt qua Hoa Kỳ về khoản chi tiêu tại Đông Nam Á. Tác động của khoản viện trợ này có thể quan sát được trên nhiều mặt trận.

Chẳng hạn vào những năm 1990, khi hầu hết các viện trợ cho Campuchia đều đến từ phương Tây và Nhật Bản, Phnom Penh đã hợp tác chặt chẽ với những cơ quan viện trợ đa phương và Liên Hiệp Quốc.

Nhưng dưới sự bảo trợ của Trung Quốc, Hun Sen đã trở nên mạnh dạn chỉ trích công khai các tổ chức này, tống khứ một nhân viên Liên Hiệp Quốc chuyên trách việc lập báo cáo nhân quyền vì những lời phê bình của ông ta và cấm tổ chức Nhân chứng Toàn cầu hoạt động do một báo cáo của tổ chức này đã chỉ trích các hoạt động kinh doanh của gia đình ông.

Hỗ trợ của Trung Quốc còn giúp duy trì chính quyền độc đảng hẹp hòi ở Lào và Miến Điện.

Đầu tư Trung Quốc vào những dự án giao thông vận tải và thủy điện của Lào đã vượt xa ngân khoản mà Chính phủ Cộng sản này tiếp nhận từ Hoa Kỳ. Tương tự như vậy, Bắc Kinh đã chi gần 5 tỉ USD cho vay và đầu tư vào Miến Điện, một quốc gia giàu có về tài nguyên khí đốt, kể từ khi quân đội lên nắm quyền vào năm 1998.

Đồng thời, một khi Trung Quốc có thể đổ tiền ra, họ cũng có khả năng giữ lại khi cảm thấy bị sỉ nhục. Theo tin đã đưa, Bắc Kinh đã ngưng khoản viện trợ 200 triệu USD cho Việt Nam sau khi nước này mời Đài Loan tham dự hội nghi thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương cách đây vài năm.

Chưa nhanh lắm

Trong khi sự hiện diện dưới dạng hỗ trợ của Trung Quốc tại Đông Nam Á đã khiến một số giới gióng lên hồi chuông báo động, Robert Sutter, Giáo sư thuộc Đại học Georgetown đồng thời là tác giả của một vài quyển sách về sự trỗi dậy của Trung Quốc, cho rằng vai trò của họ trong khu vực bình lặng hơn nhận định của nhiều người.

"Những gì các bạn đang nhìn thấy về cách tiếp cận của Trung Quốc đến Đông Nam Á là một khát khao muốn giữ cho bầu không khí được an bình, muốn tận dụng các mối quan hệ kinh tế, và trấn an những quốc gia đang lo ngại về sức mạnh đang lên của Trung Quốc – đó chưa phải là cuộc tấn công chớp nhoáng", ông phát biểu.

"Đông Nam Á vẫn không phải là nơi quan trọng nhất đối với họ – các nơi như Hàn Quốc và Nhật Bản là quan trọng hơn. Song đó là nơi họ thành công nhất trong những năm gần đây".

Thật vậy, các quốc gia tiếp giáp với Trung Quốc về phía Nam hầu như đã bị lôi kéo hoàn toàn vào quỹ đạo kinh tế của người hàng xóm to lớn, nhiều đường sá – và các doanh nghiệp – đều hướng về Bắc Kinh.

Rõ ràng là Trung Quốc muốn nguyên liệu thô của khu vực đổ về những trung tâm sản xuất của họ. Nhưng cũng rõ ràng không kém, nhiều nước phát triển trong khu vực – như Singapore, Indonesia, Malaysia và Thailand – sẽ tỏ ra hờ hững với mô hình này và muốn duy trì các mối quan hệ với phương Tây của họ.

Nhiều nhà sản xuất Indonesia đã bắt đầu phàn nàn về tình trạng tràn ngập hàng hóa Trung Quốc giá rẻ, trong khi đó, một số người dân Lào và Việt Nam đã lên tiếng chỉ trích về việc giao đất cho người Trung Quốc, về đập thủy điện và mỏ bauxite.

Ngay cả nước Miến Điện xa xôi hẻo lánh, ưu thế của Trung Quốc dường như đã thúc đẩy, mặc dù có giới hạn, chính quyền quân phiệt, với quyền lực có vẻ đã hết thời, quan tâm kết giao với Hoa Kỳ.

Dù sao thì tại đây, cũng như những nơi khác trong khu vực, viện trợ gắn liền với các điều kiện tiên quyết về trách nhiệm nâng cao nền dân chủ sẽ trở thành mối giao kèo bền chặt, so với những gì mà Trung Quốc đang mời chào.

B. B.

BVN dịch

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Nguồn: cbc.ca


Thủ tướng phản hồi về các dự án trồng rừng



Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vừa
nhận huy hiệu 70 năm tuổi Đảng
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên cho BBC hay ông đã nhận được "phản hồi miệng" của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau khi gửi thư kiến nghị về các dự án giao đất cho nước ngoài trồng rừng.

Hồi cuối tháng 01/2010, Trung tướng Nguyên và một vị lão thành cách mạng khác, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (cựu Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh), đã gửi thư lên ông Dũng và Bộ Chính trị về việc 10 tỉnh ký hợp đồng giao 300.000 ha đất đầu nguồn cho các công ty nước ngoài để thực hiện dự án trồng rừng.

Ông Đồng Sĩ Nguyên nói ông đã nhận được phản hồi của Thủ tướng Dũng.

"Ông Dũng đã trả lời miệng với tôi, rằng Chính phủ đã gửi đoàn đi kiểm tra và khi nào có kết quả sẽ nói sau."

Tướng Nguyên bác bỏ thông tin nói rằng Thủ tướng Chính phủ đã hứa sẽ cho dừng các dự án trồng rừng của nước ngoài: "Không, cho tới bây giờ thì ông ấy chỉ nói là đã cho đoàn kiểm tra đi tìm hiểu tình hình, xem kết quả thế nào thì sẽ tính sau".

Tuy nhiên, ông cho đây là tín hiệu tốt.

"Phản hồi như thế là cũng tốt, nhanh chứ không quá chậm. Từ xưa tới nay, ít có phản hồi (về các kiến nghị), nhưng lần này có trả lời như vậy là tương đối tốt."

Năm ngoái, cũng chính Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên đã lên tiếng bày tỏ quan ngại về các dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên, khu vực mà ông am tường khi tham gia lãnh đạo hoạt động thời chiến tranh Việt Nam.

Trung tướng cho rằng các dự án bauxite này, nhất là việc đưa công nhân Trung Quốc vào làm việc, không những ảnh hưởng môi trường-xã hội, mà còn có thể gây đe dọa cho an ninh quốc phòng của Việt Nam.

Tuy nhiên các kiến nghị của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên cũng như của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước đó đã gặp phải sự im lặng và các dự án bauxite đang tiếp tục được tiến hành.

Đất Việt Nam cho dân Việt Nam

Nói chuyện với BBC từ Hà Nội, Tướng Nguyên khẳng định vẫn duy trì ý kiến rằng phải đình chỉ ngay các dự án giao đất đầu nguồn cho nước ngoài để trồng rừng.

"Đó là điều tất yếu vì các lý do đời sống, môi trường… Đất đai Việt Nam chúng ta còn rất ít, không có để mà cho nước ngoài thuê."
Đất chúng ta thì ít, dân thì đông. Dân không đủ đất làm nên quan điểm của tôi là đất Việt Nam nên chỉ dành cho dân Việt Nam làm thôi.

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
Ông Đồng Sĩ Nguyên từng phụ trách đề án 327 của Chính phủ về phủ xanh đồi trọc và ông cho rằng người dân Việt Nam cần được tạo điều kiện "vừa trồng rừng, vừa cải thiện đời sống", chứ không thể giao đất cho người nước ngoài.

"Đất chúng ta thì ít, dân thì đông. Dân không đủ đất làm nên quan điểm của tôi là đất Việt Nam nên chỉ dành cho dân Việt Nam làm thôi."

"Tôi không nói người nước nào, vì nước nào thì cũng vậy."

Ông cho hay phản hồi ông nhận được từ các giới xã hội và người dân về bức thư kiến nghị của mình "rất tốt" và nhiều người đã gọi điện cho ông để bày tỏ ủng hộ.

Thư của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên gửi Bộ Chính trị có đoạn: "Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia".

"Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn".

Ông cũng cảnh báo: "Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo."

Nguồn: bbc.co.uk

Ý đồ của Trung Quốc trong việc đưa biên đội tàu số 5 tới Somali

Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc cũng có thể suy ra những ý đồ mà toàn thế giới lấy làm e ngại. Ở ngay bên cạnh ông láng giềng lắm mưu mẹo ấy, Việt Nam chúng ta luôn luôn cần nâng cao cảnh giác là phải. Và "cảnh giác" bây giờ đã thành một tiêu chí để người dân nhìn vào, xét xem người lãnh đạo nào thực sự vì nước vì dân, người lãnh đạo nào chỉ nói năng đầu lưỡi mà thực chất là từ lâu đã quy phụ ông láng giềng "hảo nhi bất hảo". Dân chúng là một số đông thầm lặng, nhưng đừng có tưởng muốn nói gì cái khối im lặng ấy cũng tin vào các vị.

Bauxite Việt Nam


VIT – Cộng đồng thế giới vẫn luôn hiểu rằng, Hải quân Trung Quốc đưa biên đội tàu số 5 tới Somali là để làm nhiệm vụ quốc tế. Tuy nhiên, mặt thật của cái công khai này không đơn thuần chỉ là chống cướp biển.

Nhiều nhà quan sát và nghiên cứu chiến lược đã chỉ ra rằng, việc Trung Quốc đưa các chiến hạm hành trình trên một tuyến đường dài tới Somali không đơn giản chỉ là thực hiện nghĩa vụ quốc tế, mà đằng sau hoạt động này đã lộ rõ về một ý đồ chiến lược của Hải quân Trung Quốc trong thời đại mới.

Để chứng minh cho nhận định trên, các nhà nghiên cứu chiến lược cũng đã chỉ ra rằng trong "Cương lĩnh quân sự Trung Quốc trong thời đại mới" đã đề rõ về đường lối chiến lược trên biển của Hải quân bao gồm có chiến lược "phòng ngự tích cực" mang tên "cận hải phòng ngự" với ba nhiệm vụ chính: kiềm chế đối phương từ ngoài khơi và ngăn chặn không cho đổ bộ; bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự vẹn toàn lãnh thổ; bảo vệ sự thống nhất quốc gia và quyền lợi trên biển cả. Đối với chiến lược "cận hải" ở đây tức là mở rộng khả năng đưa các lực lượng đến tận những nơi xa xôi trên biển cả cùng với sự chi viện và bảo đảm an ninh cần thiết.



Tàu khu trục Quảng Châu-168 (Ảnh ifeng.com)


Trên thực tế của các đợt thay quân tại Somali cũng đã thể hiện rõ nét về chiến lược "cận hải" của lực lượng Hải quân nước này thông qua hoạt động trên tuyến đường hành trình tới Somali và sự gia tăng quân số so với những lần trước đó.



Tàu hộ vệ tên lửa-568 (Ảnh ifeng.com)


Trong đợt triển khai lực lượng tới Somali hồi tháng 10/2009, cả biên đội tàu số 4 có khoảng 700 quân và nhân viên phục vụ. Tuy nhiên, trong đợt triển khai lần này (04/3/2010), biên đội tàu số 5 được biên chế gồm tàu khu trục Quảng Châu-168, tàu tiếp tế Vi Sơn Hồ-887, tàu hộ vệ tên lửa Sào Hồ-568, 02 máy bay trực thăng và đặc biệt quân số được biên chế lên tới 800 lính (tăng 100 so với biên đội 4).



Tàu tiếp tế Vi Sơn Hồ-887 (Ảnh ifeng.com)


Điều đáng lưu ý, trên trang tin quân sự Trung Quốc cho biết, trong quá trình hành trình từ Căn cứ Tam Á, biên đội tàu số 5 có tổ chức những hoạt động đặc biệt như diễn tập chống hải tặc và triển khai hoạt động chống cướp biển ở những vùng "biển nóng".



Hoạt động chống cướp biển (Ảnh ifeng.com)


Tiếp đó, ngày 07/3/2010, trước khi hành trình vào eo biển Singapore, tại khu vực biển gần đảo Anambas phía Nam Biển Đông, biên đội tàu số 5 đã bắt đầu triển khai các hoạt động chống cướp biển. Trong các hình ảnh thấy rõ về việc tổ chức một hoạt động quy mô với sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa các tàu với máy bay trực thăng, cùng binh lính của biên đội.



Hoạt động chống cướp biển (Ảnh ifeng.com)


Tuy nhiên, trang tin quân sự nước này không nêu rõ các hoạt động diễn tập và khu vực diễn tập cụ thể, nhưng ta có thể thấy rằng, trong quãng đường từ Tam Á đến đảo Anambas biên đội số 5 đã tổ chức các hoạt động diễn tập.



Hoạt động chống cướp biển (Ảnh ifeng.com)

Vậy, căn cứ vào những cơ sở nêu trên của các nhà phân tích chiến lược và căn cứ vào các hoạt động thực tế của các biên đội tàu Trung Quốc khi được điều động tới Somali, ta có thể thấy rằng, việc đưa lực lượng hải quân đi làm nhiệm vụ quốc tế có thể chỉ là một màn che phủ cho những ý đồ chiến lược của lực lượng hải quân nước này. Qua đó cũng nhằm để khuếch trương sức mạnh quân đội, nâng cao khả năng tác chiến dài ngày trên biển, tăng cường khả năng tác chiến và khả năng tiếp cận địa hình ở những nơi xa xôi trên biển cả.

Lan Hương

Tin tổng hợp

Nguồn: vitinfo.com.vn

Truy cập Internet: một quyền căn bản của con người

Truy cập in ternet là một quyền căn bản của con người, BVN hoàn toàn khẳng định điều ấy. Nhưng thế giới hôm nay còn năm bè bảy mối, một vài nước cộng sản ít ỏi còn sót lại trên quả địa cầu vẫn quen lối tư duy cũ, lại không hoặc chưa nghĩ được như thế. Cũng như các nước độc tài, họ muốn dân chúng càng ít biết thì càng tốt. Họ bưng bít thông tin, dựng tường lửa, và cho hacker đánh phá ác liệt các trang mạng dám có ý tưởng truyền cho dân chúng những tin tức mà họ những muốn giấu biến như chú mèo giấu… BVN đã là một nạn nhân của thói bưng bít vô ích nói trên. Bài viết này đã nói giùm BVN những điều mà lẽ ra BVN cần phải tường trình với Nhà nước Việt Nam về một bất công mà mình không đáng phải chịu từ cuối tháng 12-2009 đến nay.  Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Bauxite Việt Nam

Hầu như bốn trong số năm người trên thế giới tin rằng: truy cập internet là một quyền căn bản, một cuộc thăm dò của BBC World Service gợi ý.
Cuộc khảo sát – với hơn 27.000 người trưởng thành trên khắp 26 quốc gia – cho thấy sự hỗ trợ mạnh mẽ cho việc truy cập net của cả hai phía đối với sự phân chia kỹ thuật số.
Các nước như Phần Lan và Estonia đã phán quyết rằng truy cập internet* (* – chú thích của ViAn)  là một quyền con người cho công dân của họ.
Các cơ quan quốc tế như Liên Hợp Quốc cũng đang thúc đẩy cho việc truy cập net phổ quát. "Quyền được giao tiếp không thể bị bỏ qua", Tiến sĩ Hamadoun Toure, Tổng thư ký Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), nói với BBC News."Internet là nguồn lực tiềm năng mạnh nhất của sự giác ngộ từng được tạo ra".

Ông nói rằng chính phủ phải "quan tâm đến internet như là hạ tầng cơ bản – giống như đường sá, chất thải và nước".
"Chúng ta đã hội nhập vào xã hội tri thức và tất cả mọi người phải có quyền truy cập để tham gia".
Cuộc khảo sát, được thực hiện bởi GlobeScan cho BBC, cũng tiết lộ sự phân hóa trên các câu hỏi về sự giám sát chính phủ đối với một số khía cạnh của mạng.
Những người dùng web đã được hỏi ở Đại Hàn và Nigeria, đã cảm thấy mạnh mẽ rằng chính phủ không bao giờ nên được tham gia vào các quy định về internet. Tuy nhiên, đa số những người ở Trung Quốc và nhiều nước châu Âu không đồng ý.
Ví dụ, tại Anh, 55% tin rằng đã có một trường hợp đối với một số quy định của chính phủ về internet.
Sự rút lui ở nông thôn
Việc phát hiện này được nhìn nhận khi Chính phủ Anh cố gắng thúc đẩy để đạt Dự luật kinh tế kỹ thuật số, gây tranh cãi của mình.
Cũng như triển vọng để cung cấp băng thông rộng phổ thông tại Vương quốc Anh năm 2012, dự luật này cũng có thể cho thấy một cái gọi là "Quy tắc quá tam ba bận" trở thành luật.
Điều khoản này sẽ trao cho các nhà điều chỉnh thêm quyền hạn mới để ngắt kết nối hoặc làm chậm quá trình kết nối mạng lưới của những kẻ chia sẻ thông tin bất hợp pháp ngoan cố. Các quốc gia khác, như Pháp, cũng đang xem xét các luật tương tự.
Gần đây, Liên hiệp Âu Châu đã thông qua một quy định quyền tự do internet, nói rằng bất kỳ biện pháp của các nước thành viên mà có thể ảnh hưởng đến quyền truy cập của công dân hoặc sử dụng internet "phải tôn trọng các quyền cơ bản và các quyền tự do của công dân".
Đặc biệt, nó chỉ ra rằng các công dân EU có quyền được hưởng một thủ tục "công bằng và khách quan" trước khi bất kỳ biện pháp nào có thể được dùng để giới hạn truy cập vào mạng lưới của họ.
Liên hiệp Âu Châu cũng cam kết cung cấp phổ cập băng thông rộng. Tuy nhiên, giống như nhiều khu vực trên thế giới, lĩnh vực mà họ đang vật lộn khó khăn là làm thế nào để cung cấp tốc độ cao để truy cập vào mạng lưới tới các khu vực nông thôn, nơi mà thị trường không muốn tới.
Các nhà phân tích nói rằng, đó là một vấn đề ngày càng nhiều quốc gia sẽ phải đối phó khi người dân đòi hỏi quyền truy cập vào mạng.
Cuộc khảo sát của BBC cho thấy 87% người sử dụng Internet cảm thấy truy cập internet nên là "quyền cơ bản của tất cả mọi người".
Hơn 70% số người không sử dụng internet* (* – chú thích của ViAn) cảm thấy rằng họ cần phải có quyền truy cập vào mạng.
Nhìn chung, gần 79% những người được hỏi cho biết họ đã đồng ý mạnh mẽ hoặc hơi đồng ý với những mô tả về Internet như là một quyền cơ bản – cho dù họ đang có quyền truy cập hay không.
Tự do ngôn luận
Những quốc gia như Mexico, Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ một cách mạnh mẽ nhất ý tưởng về việc truy cập net như một quyền của người dân, cuộc khảo sát cho biết.
Ví dụ, hơn 90% những người được khảo sát tại Thổ Nhĩ Kỳ, nói rằng truy cập internet là một quyền cơ bản – hơn những người ở bất cứ quốc gia châu Âu khác.
Đại Hàn – đất nước mà hầu như đã được kết nối toàn bộ, trên trái đất này – đã có đa số lớn nhất của người dân (96%), người ta tin rằng truy cập net là một quyền căn bản. Gần như tất cả các công dân của đất nước này đã được thưởng thức với việc truy cập net tốc độ cao.
Cuộc khảo sát cũng cho thấy rằng internet đã nhanh chóng trở thành một phần sinh động của cuộc sống nhiều người trong một phạm vi đa dạng của các quốc gia.
Tại Nhật Bản, Mexico và Nga khoảng ba phần tư số người được hỏi, cho biết họ không thể đương đầu mà không có nó.
Phần lớn những người được hỏi cũng nói rằng họ tin rằng các trang web đã có một tác động tích cực, với gần bốn trong năm người nói rằng nó đã mang lại cho họ quyền tự do hơn.
Tuy nhiên, nhiều người dùng web cũng bày tỏ mối quan tâm. Sự nguy hiểm của gian lận, sự dễ dàng truy cập đến nội dung bạo lực và quá cởi mở, và những mối lo lắng về quyền riêng tư là hầu hết các khía cạnh mà những người được đặt câu hỏi quan tâm đến .
Phần lớn người sử dụng ở Nhật Bản, Đại Hàn và Đức đã cảm thấy rằng họ không thể bày tỏ ý kiến của mình trực tuyến một cách an toàn, mặc dù tại Nigeria, Ấn Độ và Ghana có nhiều hơn nữa về sự tự tin nói trên.
Đề tài từ BBC NEWS
Nguồn: news.bbc.co.uk

12 tháng 3 2010

Kính gửi các bác Đồng Sỹ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Hữu Anh!

Cánh rừng cắt cho dự án cho nước ngoài thuê tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Cháu là một phụ nữ, không am hiểu sâu sắc nhiều về lĩnh vực quốc phòng, an ninh quốc gia lớn lao như các bác. Tuổi trẻ của cháu đã sống trong những ngày khí thế hào hùng khi mà "tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới…", nên cháu rất thấm thía cái chân lý "vì một lẽ sống cao đẹp cho mọi người: ĐỘC LẬP – TỰ DO". Cháu lại còn là con của một người lính (là đồng đội cùng thời với các bác nhưng Ba cháu đã qua đời năm 2006), nên cháu thường được nghe Ba cháu giáo huấn (Ba cháu từng là Chính ủy Sư đoàn mà) về tầm quan trọng của lĩnh vực quốc phòng, an ninh quốc gia, cái giá của chiến tranh, cái giá của hòa bình, cái giá của độc lập, tự do… Vì thế, sau khi đọc những kiến nghị tâm huyết của các bác trên trang Bauxite Việt Nam, VietNamNet, cháu vô cùng cảm phục. Mặc dù tuổi đã cao, sức khỏe có hạn nhưng trách nhiệm đối với vận mệnh của dân tộc, đất nước và tương lai của thế hệ con cháu mai sau của các bác thật là lớn lao vô bờ.

Thưa các bác! Việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê đất rừng 50 năm đã là con số cuối cùng chưa ạ? Việc cho nước ngoài thuê đất ven biển 50 năm liệu có gây hậu họa như việc cho thuê đất rừng 50 năm không? Cảng Đà Nẵng là vị trí chiến lược quân sự cực kỳ quan trọng, thực dân  Pháp và đế quốc Mỹ đều chọn để đổ bộ vào xâm lược Việt Nam. Vậy mà hiện nay, đất ven biển Đà Nẵng cũng đã cho nước ngoài (có cả Trung Quốc, Đài loan…) thuê 50 năm. Cháu mong rằng việc các tỉnh, thành phố cho  nước ngoài thuê đất ven biển 50 năm ở những địa bàn hiểm yếu về quốc phòng, an ninh, kinh tế cũng cần được Trung ương kiểm tra, thống kê và ngăn chặn kịp thời vì vấn đề Biển Đông của chúng ta đang "rất nóng".
Việc cho nước ngoài thuê đất rừng, đất ven biển hình như mang lại siêu lợi nhuận về kinh tế cho nên các tỉnh, thành phố đã coi nhẹ vấn đề an ninh quốc gia, hay còn một lý do nào khác nữa mà sao cháu thấy họ đua nhau cho thuê nhiều đến thế…? Một vị lãnh đạo cao nhất của thành phố trực thuộc Trung ương đã trả lời và phân tích cho cử tri, khi họ thắc mắc về việc thành phố cho nước ngoài thuê 50 năm quá nhiều đất ven biển: chúng ta chẳng phải làm gì cả mà lại có tiền thu được từ việc cho thuê đất và từ các dịch vụ kinh doanh của họ thì sướng quá chứ còn kêu ca, thắc mắc cái gì. Thành phố chỉ cho thuê có 50 năm chứ có bán đâu mà sợ mất Nước! Cháu thấy câu trả lời, phân tích của vị lãnh đạo này sao mà giản đơn quá, và hình như là còn chưa xứng tầm nữa phải không các bác?
Cháu chỉ xin phép và mạo muội nói lên những lo lắng, trăn trở của mình có thế thôi, vì dù sao cháu cũng chỉ là một người phụ nữ như nhà thơ Xuân Quỳnh đã viết :
"Chúng tôi chỉ là những người đàn bà bình thường không tên tuổi
Quen với việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày
Chúng tôi chẳng có tàu ngầm, tên lửa máy bay
Càng không có hạt nhân nguyên tử
Chúng tôi chỉ có chậu có nồi có lửa
Có tình yêu và có lời ru
".
Cháu xin cầu chúc cho các bác thật mạnh khỏe. Các bác là điểm tựa, là niềm tin, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam!

http://boxitvn.blogspot.com/2010/03/thu-ban-oc-kinh-gui-cac-bac-ong-sy.html

NH

11 tháng 3 2010

Vì sao người Trung Quốc “máu” thuê rừng Việt Nam đến thế?

Trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước, rừng đối với dân tộc Việt Nam có một vị trí vô cùng trọng yếu không chỉ bởi đây là nơi cung cấp lâm thổ sản mà còn là cái nôi để nhiều triều đại sinh cơ lập nghiệp, gây dựng cơ đồ chống lại các thế lực ngoại bang lớn mạnh hơn mình nhiều lần…

Trong cuộc họp báo chiều ngày 3/3/2010, ông Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng tuyên bố với báo giới: "Việc đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đều tuân thủ theo các quy định của pháp luật. Nước ta đất chật người đông, giải quyết việc làm và đảm bảo thu nhập cho dân là vấn đề rất quan trọng. Các địa phương cần tính toán chặt chẽ với các dự án đầu tư, nhất là ở những vùng liên quan đến an ninh quốc phòng", ông Phúc nói. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ lưu ý, đây là lý do để yêu cầu lãnh đạo các tỉnh phải xem xét từng dự án. Liên quan đến các kiến nghị của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, ông Phúc cho biết, Chính phủ đã họp cả ngày hôm qua để thảo luận và sẽ tiếp tục họp vào ngày mai để thống nhất biện pháp giải quyết.



"Cái chính là phải thực hiện đúng pháp luật. Còn điều chỉnh thế nào, cấp mới ra sao đều phải tính toán cụ thể, chi tiết", ông Phúc cho hay…"

Cho đến hôm nay đã hết ngày 4/3 và sau hai ngày thảo luận của Chính phủ, chưa thấy một mẩu tin nào được thông tin cho báo chí về các biện pháp giải quyết của Chính phủ về việc 10 tỉnh cho phép người Trung Quốc thuê  305.354 ha rừng khiến cho dư luận không khỏi không lo lắng? Liệu Chính phủ rồi sẽ hợp thức chuyện này không, coi như chuyện đã rồi không? Trong tuyên bố với báo giới, ông Nguyễn Xuân Phúc đã hé lộ ra hướng này: "Cái chính là phải thực hiện đúng pháp luật. Còn điều chỉnh thế nào, cấp mới ra sao đều phải tính toán cụ thể, chi tiết…"

Như vậy Chính phủ sẽ điều chỉnh giống như các đại biểu Quốc hội tham gia sửa chữa các lỗi chính tả, các dấu chấm dấu phẩy khi thông qua một văn bản luật là một ứng xử rất có khả năng sẽ xảy ra đối với vụ việc động trời này không?

Đứng về mặt luật pháp thì cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào quy định cấm không cho phép các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư thuê đất rừng để trồng rừng. Như vậy nếu như ông Nguyễn Xuân Phúc nói thì 10 tỉnh đã cho thuê kia họ đâu có làm sai pháp luật? Do vậy, khi họ không vi phạm thì việc xử lý họ cũng lại căn cứ theo pháp luật hiện hành chứ không thể nghe theo áp lực dư luận được. Đó là kịch bản của các giải pháp xử lý mà rất có khả năng Chính phủ đã suy nghĩ tính toán trong 2 ngày qua chăng?

Đài BBC đã tỏ ra nhanh nhạy về vấn đề này hơn so với báo giới Việt Nam, mới đây Đài đã có cuộc phỏng vấn ông Dean Wu, người Đài Loan, Tổng Giám đốc InnovGreen Việt Nam. Xin trích nguyên văn một vài đoạn quan trọng của buổi phỏng vấn:

"BBC: Trước tiên chúng tôi xin hỏi thẳng, công ty của ông có khai thác rừng đầu nguồn ở Việt Nam, thí dụ như Lạng Sơn hay bất cứ nơi nào khác hay không ạ?

Ông Dean Wu: Chúng tôi không bao giờ đụng tới rừng đầu nguồn hay bất kỳ cái gì khác mà không có sự chuẩn thuận của chính quyền. Báo chí viết về các dự án của chúng tôi nhưng không hề cho chúng tôi cơ hội giải thích.

Chúng tôi cũng không hề mua đất, mà chỉ được thuê đất trồng rừng thôi. Chúng tôi không lấy đất canh tác của nông dân và cũng không lợi dụng sức lao động của nông dân mà không trả tiền họ. Tuy nhiên, chúng tôi thuê nhân công qua một số nhà thầu, và có thể nhà thầu không trả tiền công đúng hạn.

Việc này chúng tôi sẽ chấn chỉnh.

BBC: Thưa ông, công ty của ông trồng loại cây gì ở Lạng Sơn?

Ông Dean Wu: Chúng tôi trồng bạch đàn, là loại cây rất phổ biến tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).

BBC: Chúng tôi muốn hỏi ông về địa điểm của các dự án. InnovGreen có dự án ở nhiều nơi, như Lạng Sơn, Kon Tum, Quảng Ninh vv…, được cho là các tỉnh xung yếu. Tại sao InnovGreen lại chọn các nơi đó để lập dự án?

Ông Dean Wu: Thực ra chúng tôi có được chọn đâu. Chúng tôi chỉ được phép đầu tư vào một số vị trí nhất định. Thí dụ, chúng tôi không muốn lập dự án ở những nơi biên giới xa xôi mà muốn những địa điểm gần cảng biển, thuận tiện cho việc vận chuyển.

Thế nhưng Nhà nước chỉ cho phép chúng tôi đầu tư vào các địa điểm mà theo tôi nghĩ nhiều nhà đầu tư trong nước không muốn nhận.

BBC: Một trong các quan ngại là quá trình thực hiện dự án quá dài – 50 năm. Liệu phía Việt Nam có thể kiểm tra kiểm soát chặt chẽ được hoạt động của phía nước ngoài trong thời gian dài như thế hay không?

Ông Dean Wu: 50 năm quả là rất dài. Chúng tôi muốn tạo dựng một mô hình mà các bên đều có lợi. Chúng tôi không làm điều gì sai để có thể ảnh hưởng tới uy tín của ông Chủ tịch công ty Steve Chang.

BBC: Một câu hỏi ngoài lề đôi chút, ông là người ở đâu ạ?

Ông Dean Wu: Tôi là người Đài Loan.

BBC: InnovGreen có mang lao động nước ngoài vào các dự án ở Việt Nam hay không, thưa ông?

Ông Dean Wu: Công ty chúng tôi có 350 nhân viên, thì chỉ có 26 người là người nước ngoài làm công việc quản lý và chuyên gia. Chúng tôi không sử dụng nhân công nước ngoài, như nhân công Trung Quốc.

Trong đó 23 chuyên gia, nhân viên kỹ thuật Đài Loan và Trung Quốc đang làm việc tại các tỉnh.

Chúng tôi không có kế hoạch mang nhân công nước ngoài vào Việt Nam"…

Căn cứ vào các ý kiến trả lời của ông Dean Wu, những ý kiến rất kín kẽ và chắc chắn ý kiến này đồng thời cũng đã được trình bày với các cơ quan chức năng của Việt Nam; vậy dư luận trong những ngày qua liệu có quá lo xa trong đó bao gồm ý kiến của cả hai vị tướng về chuyện cho người Trung Quốc thuê  hang ngàn ha đất rừng?

Với những lập luận của ông Dean Wu và cách giải thích của một vị đại diện cho UBND tỉnh Lạng Sơn thì quả thật các nhà hành chính vốn dĩ quen hành xử theo kiểu dò luật, " tầm chương trích cú " các văn bản pháp luật sẽ rung đùi mà cho rằng: Họ đã không vi phạm pháp luật, họ đã chưa làm gì làm tổn hại đến chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, đến an ninh quốc gia.

Trước hết chúng tôi muốn thưa lại với Chính phủ và các cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm tham mưu cho Chính phủ về việc này mấy ý kiến sau đây:

1/ Hiện nay, mặc dù Nhà nước có rất nhiều cố gắng, song hệ thống văn bản pháp luật của chúng ta vẫn có nhiều điểm bất cập so với hiện tình phát triển kinh tế – xã hội – an ninh quốc phòng của đất nước. Do vậy, nếu ai đó chỉ căn cứ vào những văn bản pháp luật hiện hành để giải thích những việc làm của mình chưa vi phạm pháp luật, chưa làm tổn hại tới quyền lợi quốc gia mà không căn cứ vào tình hình thực tế phát triển kinh tế – xã hội-an ninh quốc phòng là một cách trả lời thiếu trách nhiệm.

Bởi bất cứ một nền hành chính của bất cứ quốc gia có nền luật pháp tiên tiến nhất, bao giờ luật pháp cũng chạy đuổi theo thực tế cuộc sống chứ hiếm khi đặt ra trước khi thực tế cuộc sống diễn ra!

Luật pháp đã đi sau, các cơ quan áp dụng lại đi sau nữa và coi đó mình đã hoàn thành nhiệm vụ là không được phép, là nguy.

2/ Bất cứ một nền luật pháp của bất cứ quốc gia nào cũng đều phải dựa trên một nguyên lý: đó là các nguyên tắc ứng xử, kiến tạo nên lẽ sống còn đối với một quốc gia, của dân tộc đó. Trong lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của chúng ta: rừng trở thành cái nôi để dựng nghiệp và bảo vệ sự nghiệp kiến tạo đất nước.

Nhà nước sơ khai Vạn Xuân, cuộc khởi nghĩa giành độc lập của Mai Hắc Đế, Ngô Vương Quyền, Nhà  Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần, nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn và cả thời đại Hồ Chí Minh đều dựa vào thể hiếm trở của sông, của núi, của rừng để vừa sinh cơ lập nghiệp, vừa để tự bảo vệ mình và chống lại các thế lực thù địch mạnh hơn mình nhiều lần: " Rừng nuôi bộ đội, rừng vây quân thù…-Thơ Tố Hữu.

Đó là một nguyên lý, một định đề sống còn của dân tộc Việt, của quốc gia Đại Việt đã được xác lập hàng ngàn năm nay chứ không phải mới được xác lập trong dăm bữa nửa tháng nay. Không phải ngẫu nhiên mà người Việt Nam khi nói tới quốc gia mình thường hay sử dụng hình tượng "sơn hà, xã tắc" liên kết với nhau. Xã tắc: chính thể của một chính quyền bao giờ cũng phải liên kết với Sơn Hà ( Núi –Sông) thì mới vững bền, mới bảo vệ được mình; một chính thể nào, một Chính phủ nào không tự đặt mình gắn kế với Sơn-Hà của đất nước này thì chính thể đó sẽ không có sức sống lâu bền. Đó là một nguyên lý, một định đề có tính lịch sử.

Không phải ngẫu nhiên mà năm 2006, ông Hồ Cẩm Đào nói trực tiếp với ông Nguyễn Tấn Dũng câu: do Trung Quốc và Việt Nam có Sơn Hà liên thông nên có điều kiện hợp tác toàn diện với nhau đó sao?

3/ Một dấu hỏi cuối cùng: chúng ta có cả một Dự án 327, nhà nước cấp giống, cấp gạo cho dân, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm đối với các dự án trồng rừng mà dân vẫn không mặn mà, phấn khởi lắm với việc trồng rừng? Vậy thì những nhà doanh nghiệp từ Đài Loan, Hồn Kông, Trung Quốc mang tiền của sang để trồng rừng, để rồi ngồi chờ hàng chục năm sau mới có kết quả? Họ có quá yêu cái đất nước này hơn cả Chính phủ Việt Nam không? Họ có quan tâm tới dân nghèo Việt Nam đang thiếu công ăn việc làm hơn cả Chính phủ Việt Nam không? Tại sao họ lại quan tâm tới dân nghèo ở miền rừng rú của ta, trong khi ngư dân ta ra biển thì họ dùng lực lượng hải quân chính quy đánh cho ngư dân ta sặc gạch ra ?

Họ thu lợi cái gì ở những cái dự án này ?

Tại sao họ lại hành xử trái với các nguyên tắc, quy luật giá trị của thị trường, chợ búa đến vậy?

Tại sao họ lại máu thuê rừng của Việt Nam để trồng bạch đàn đến vậy? Hy vọng những bộ óc ngu tối nhất cũng nhận ra rằng: người ta đổ tiền, đổ của ra để mưu cầu, nuôi cấy một dã tâm hiểm độc nào đó. Còn nghĩ rằng họ mang tiền đến để cưu mang dân nghèo Việt Nam ở những nơi khỉ ho cò gáy thì đừng có mà nằm mơ?

Việc người ta có tuyên bố  những câu đại loại như: "50 năm quả là rất dài. Chúng tôi muốn tạo dựng một mô hình mà các bên đều có lợi. Chúng tôi không làm điều gì sai để có thể ảnh hưởng tới uy tín của ông Chủ tịch công ty Steve Chang…"

Đó thật sự chỉ là những lời ngụy trá đường mật mà thôi !

P.V.Đ

Nguồn: vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv