Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

02 tháng 1 2011

KHÉP LẠI QUÁ KHỨ


Anh khuyên tôi : "Hãy quên đi thù hận" 
Về quê hương xây dựng nước non nhà 
Bằng tài năng học hỏi chốn phương xa 
Đảng, nhà nước hoan nghênh người viễn xứ !

Anh khuyên tôi : "Hãy khép lại quá khứ" 
Quên những ngày khói lửa dậy trời Nam 
Chiến xa Nga hằn đậm vết hung tàn 
Trên đường phố Sài Gòn ngày quốc hận !

Anh bảo tôi quên những ngày lận đận 
Cha đi tù, mẹ buôn gánh bán bưng 
Nuôi đàn con trong khốn khổ tột cùng 
Tôi phải thôi học, sáng ngô chiều sắn

Vâng, tôi cố quên những ngày mưa, nắng 
Đi mò cua, giúp mẹ buổi cơm chiều 
Quên những ngày nước ngập mái tranh xiêu 
Đêm u tịch hãi hùng :"kinh tế mớ" !

Giờ, tha phương, quê nhà xa dịu vợi 
Tôi sống cuộc đời dân chủ ấm no 
Nhưng dân tôi ĐANG khắc khoải mong chờ 
Ngày sụp đổ của bạo quyền tàn độc

Thương quê hương, bao lần tôi bật khóc 
Thấy lương dân trong kiếp sống khốn cùng 
Thương dân hiền cam chịu kiếp lao lung 
Khổ đến nổi đem con mình đi bán !

Tôi chống anh KHÔNG PHẢI VÌ DĨ VÃNG 
Mà là vì HIỆN TẠI với TƯƠNG LAI 
Vì dân tôi ĐANG sống kiếp dọa đày 
Thế hệ trẻ nhìn TƯƠNG LAI VÔ ĐỊNH !

Thì anh ơi, nói chi lời lừa phỉnh 
Đến bây giờ, ai tin cộng sản đâu 
Nếu thật lòng xin hãy thực hiện mau 
Cuộc hoà giải với người dân quốc nội :

Hãy ngưng ngay những hành động bỉ ổi 
Ngưng đuổi nhà, cưởng chiếm đất nhân dân 
Ngưng đào mồ, sang phẳng những mộ phần 
Xây khách sạn làm giàu cho đảng ủy

Hãy ngưng ngay những ngón nghề phù thủy 
Đạo giáo quốc doanh, dân chủ cò mồi 
Hứa hoà hợp hoà giải ở đầu môi 
Nhưng cộng đảng vẫn độc quyền chúa tể

Nếu thật tình thì hãy mau giải thể 
Đảng độc tài cộng sản (đảng vô lương) 
Người TỴ NẠN bốn bể sẽ hồi hương 
Đem tài sức hiến dâng cho đất nước

Hứa với anh, tôi là người đi trước !!!

Trần Chiêu Yên.


QUÊ HƯƠNG ĐỔI MỚI?


Anh khuyên tôi : "Về thăm lại quê hương 
để nhìn thấy Việt Nam giờ đổi mới !"

Nghe anh nói lòng tôi buồn quá đổi 
Ba mươi năm vẫn một điệu tuyên truyền 
Ba mươi năm vẫn gạt gẫm triền miên 
Ba mươi năm vẫn miệng lằng lưởi mối !

Vâng, nước Việt từ lâu đà "đổi mới" 
"Mới" từ ngày giặc cưởng chiếm Miền Nam: 
Đời yên vui chợt đổ vở điêu tàn 
Đang giàu có bỗng thành tên hành khất

Đời sống mới, ôi cuộc đời súc vật 
Kẻ mang xiềng người lao dịch rừng sâu 
Giặc từ rừng về bắn giết, tịch thâu 
Người trí thức cuối đầu đi "học tập" !

Trên rừng, dưới biển, bóng người tấp nập 
Hẹn nhau đi, không hẹn chuyến quay về 
Dù "công an", hải tặc khắp tư bề 
Người dân Việt vẫn liều mình vượt biển !

Ba mười năm, nước ta còn chậm tiến 
Dân bần cùng đem bán cả con thơ 
Thiếu miếng ăn còn đâu những ước mơ 
Phụ nữ bán thân mình ngoài muôn dặm !

Vâng, tôi biết quê hương thay đổi lắm 
Đạo làm người, liêm sĩ nay còn đâu 
Bọn tam vô chuyên bốc lột, làm giàu 
Trên xương máu của người dân nước Việt!

Nơi viễn xứ, không về, tôi vẫn biết 
Đồng Mỹ kim rất qúi ở quê mình 
Mang nó về mua được chút HƯ VINH 
Trên TỦI NHỤC của đồng bào tôi đó !

Này anh hỡi, xin anh nghe cho rỏ 
Chỉ quay về khi đất nước TỰ DO 
Khi quê hương thay đổi một màu cờ 
Khi DÂN CHỦ phục hồi trên đất mẹ

Trần Chiêu Yên.


Trăm Năm Rồi Đây

1.

Thôi rồi dân tộc tôi một lần nữa cheo leo cuộc đời

Như ngàn năm nổi trôi vẫn chưa thấy ước mơ nhỏ nhoi

máu hồng đã đầy vơi giờ đổi lấy cơn điên trò cười

cho lòng tham mù đui nạo cho hết tinh anh ngàn đời

 

Trăm năm đến rồi đây ngàn năm sẽ không hay

bao lâu ta giãi phá lỗi lầm này?

Minh quân có đâu đây?

hay toàn những không may?

những ác nghiệt giết mòn dân tộc này?

 

Ai người dân tộc tôi còn kiêu hãnh ngước cao nhìn đời

có một phút nghỉ ngơi nhìn cho khắp non sông tả tơi

chỉ là những màu sơn để tô phết bao nhiêu màn tuồng

chỉ là những mượn vay để ve vuốt nỗi đau đoạ đày

 

2.

Mõi mòn dân tộc tôi đời nhân bãn như treo nữa vời

chỉ cần chút hà hơi là ngậm lấy nỗi đau làm vui

Thăng trầm bao ngàn năm giờ mệt mỏi máu tim cạn dần

chỉ cần chút bình yên là lam lũ cam thân mọn hèn.

 

Trăm năm đến rồi đây ngàn năm sẽ không hay

bao lâu ta giãi phá lỗi lầm này?

Minh quân có đâu đây?

hay toàn những không may?

những bất hạnh giết mòn dân tộc này?

 

Trăm năm đến rồi đây ngàn năm sẽ không hay

bao lâu ta giãi phá lỗi lầm này?

Minh quân có đâu đây?

hay toàn những không may?

những ác nghiệt giết mòn dân tộc này?


Nhìn Lại Tình Hình Việt Nam Năm 2010

Ngày 29 tháng 12 năm 2010, ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN đã chủ tọa phiên họp chính phủ cuối năm để đánh giá tình hình hoạt động toàn năm 2010. Dựa trên báo cáo của các Bộ, ông Dũng cho rằng chính phủ của ông đã "hoàn thành những nhiệm vụ lớn" như giữ cho nền kinh tế không bị lạm phát cao, kinh tế vĩ mô ổn định, GDP tăng trưởng 6,78% cao hơn mức dự kiến 6,5%, sản xuất công nghiệp và nông nghiêp gia tăng đáng kể, cải cách giáo dục và y tế đạt kết quả cao, công tác phòng chống tham nhũng đạt kết quả tốt. Đặc biệt ông Dũng nhấn mạnh rằng chính phủ của ông ta đã "xuất sắc" trong vai trò chủ tịch khối ASEAN trong năm 2010, khiến cho thế giới thán phục và đánh giá cao.

Hãy gác qua một bên những tiêu cực đầy rẫy và trầm trọng trên đất nước, và xét xem hình ảnh "lạc quan" như ông Dũng đúc kết đến từ đâu:

Thứ nhất là CSVN đã phí phạm gần 84 ngàn tỷ đồng (tương đương 4,5 tỷ Mỹ Kim) cho cái gọi là mừng đại lễ kỷ niệm 1000 Thăng Long diễn ra vào đầu tháng 10 năm 2010 sau hơn 7 năm chuẩn bị.

Thứ hai là đã chi hàng chục triệu Mỹ Kim để "thù tiếp" các quan khách ngoại quốc trong những buổi tiếp tân ngoại giao nhân việc Hà Nội đứng ra triệu tập các Hội nghị cấp cao ASEAN trong suốt năm 2010, với tư cách là chủ tịch ASEAN.

Việc xài tiền một cách phung phí nói trên không những đã không làm cho thế giới thấy Việt Nam là quốc gia giàu có hay tiến bộ như ông Dũng vọng tưởng, mà còn làm thế giới cười chê mai mỉa đối với một tập đoàn lãnh đạo đã "vung tay quá trán" trong tình hình kinh tế suy thoái và sự nghèo khó nói chung của người dân. Ông Dũng và các Bộ đã không hề nhắc đến những dự án phá sản như nhà máy lọc dầu Dung Quất, Thủy Điện Sơn La, tình trạng bội chi ngân sách dẫn đến tiền vay nợ lên đến 56% GDP. Nhất là ông Dũng đã không hề nói đến đồng bạc Việt Nam đang bị tụt giá, khiến cho lòng tin của người dân vào đồng nội tệ bị giảm sút; người dân đổ xô lưu giữ đồng Mỹ Kim, tạo áp lực tăng giá đồng Mỹ Kim và gây bất lợi cho nền kinh tế một cách trầm trọng vì sẽ làm tăng giá nhập cảng hàng loạt với hệ lụy là lạm phát gia tăng phi mã và người dân nghèo lại càng thêm khốn khó.

Ông Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Công thương cũng đã không nói thật về tình hình kinh tế Việt Nam hiện đang bị hàng hóa Trung Quốc khống chế như thế nào trên thị trường Việt Nam. Họ chỉ khoe chung chung rằng nhập siêu hàng hóa đã giảm 5% và bằng 17,3% kim ngạch xuất khẩu. Nhưng những con số báo cáo này không thấm gì với mức nhập siêu hàng hóa từ Trung Quốc là 65% trong năm 2010. Nói cách khác, thị trường Việt Nam hiện đang là sân sau tiêu thụ hàng hóa nhập từ Trung Quốc trong hơn 10 năm qua. Trong khi đó, vào cuối tháng 12 vừa qua, Công ty định mức tín nhiệm Standard & Poor's Ratings Services vừa tuyên bố cắt giảm một bậc điểm tín nhiệm trái phiếu của CSVN, và còn khuyến cáo là có thể cắt giảm nữa nếu không có những biện pháp cải thiện về tình trạng lạm pháp, bội chi ngân sách và nhất là những số nợ tồn đọng chưa thanh toán của Tập đoàn Vinashin.

Bên cạnh những khó khăn nói trên, sự phá sản của tập đoàn Vinashin với 4,5 tỷ Mỹ Kim đã đặt cho CSVN một vấn đề mới rất nghiêm trọng. Đó là nếu không giải quyết rốt ráo vấn đề quản trị và tính hiệu quả của các tổng công ty mà CSVN cho thành lập từ năm 2000 trở đi, và các tập đoàn kinh tế được thành lập từ năm 2006 tới nay như là những cột trụ của nền kinh tế, thì toàn bộ nền kinh tế Việt Nam có thể bị sụp đổ sau hơn hai thập niên đổi mới.

Do đó, nhận định đầu tiên về tình hình Việt Nam trong năm 2010 chính là sự nổi bật những yếu kém của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam về mặt kinh tế. Đương nhiên trách nhiệm này đổ ập lên đầu ông Nguyễn Tấn Dũng là người nắm trong tay thực quyền về chính trị lẫn kinh tế. Ông Nguyễn Tấn Dũng tuy chỉ là Thủ tướng đứng sau ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư Đảng, nhưng trong thời buổi đảng phải mở cửa vận động đầu tư buôn bán hầu tìm phương tiện từ bên ngoài nuôi sống chế độ, quyền lực của Thủ Tướng theo sự phân nhiệm hiện nay của Bộ chính trị - nắm cả về đối ngoại lẫn kinh tế - đã trở thành một thế lực lớn ở trong đảng. Chính quyền lực vượt trội của Thủ tướng khiến ông Nguyễn Tấn Dũng đã thao túng toàn bộ, từ trong đến ngoài đảng, từ kinh tế đến chính trị và ngoại giao, và trở thành cái đích nhắm của các phe nhóm cũng như là nguyên uỷ của nhiều vấn đề trên đất nước. Có thể nói 2010 là năm ông Dũng bị các phe quyền lực khác tấn công nặng nề nhất.

Với một số những bối cảnh chung được lược duyệt nói trên, tình hình Việt Nam năm 2010 có bốn sự kiện lớn sau đây đáng cho chúng ta quan tâm.

JPEG - 86.8 kb

Thứ nhất là vụ phá sản Tập đoàn đóng tàu Vinashin với sự vỡ nợ 4,5 Tỷ Mỹ Kim, đã là một biến sự tạo một chấn động rất lớn trong năm 2010. Một quốc gia với Tổng sản lượng (GDP) chỉ có gần 100 tỷ Mỹ Kim một năm mà lại để cho một tập đoàn kinh tế phá sản lên đến gần 5 tỷ Mỹ Kim (5% GDP), và chỉ có 5 người mới đang…. bị điều tra là điều không thể tưởng tượng. Ngoài ra, khi một số đại biểu yêu cầu quốc hội biểu quyết về sự tín nhiệm vai trò Thủ tướng và một số cán bộ thừa hành trách nhiệm vụ Vinashin thì Bộ chính trị đã ra lệnh cho Ủy ban thường vụ Quốc hội phải lên tiếng bác bỏ yêu cầu này vì cho là không cần thiết. Thay vào đó, ông Dũng trong cương vị của người trực tiếp chỉ đạo Vinashin chỉ lên tiếng nhận trách nhiệm sai sót quản lý rồi thôi.

Ở những quốc gia dân chủ, ông Nguyễn Tấn Dũng đã phải từ chức và tất cả những cán bộ điều hành Vianshin phải vào tù và bị niêm phong tài sản kể cả của ông Dũng. Thế nhưng ở Việt Nam thì ngược lại: chính những Tổng biên tập của ba tờ báo phanh phui vụ phá sản Vinashin lại bị cách chức hay bị cảnh cáo. Rõ ràng là sự phá sản của Vinashin đã cho dư luận nhìn thấy rõ cấp lãnh đạo CSVN đã bao che và ăn chia tài sản quốc gia ở mức không cần phải che dấu nữa.

Thứ hai là CSVN đã chi 84 ngàn tỷ đồng, tương đương với 5 tỷ Mỹ Kim để tổ chức Lễ Hội Kỷ Niệm 1000 Năm Thăng Long, mang nội dung thần phục Bắc Phương. Đây có thể coi là một công trình chuẩn bị công phu nhất, tốn kém nhất kéo dài trong gần 8 năm; nhưng lại là công trình vô bổ nhất và bộc lộ ý đồ thuần phục Bắc Kinh rõ rệt nhất. Mặc dù CSVN đã cho bộ máy tuyên truyền nói ra rả từ một năm trước đó là họ sẽ dựng lại hào khí dân tộc thời Nhà Lý của Thế Kỷ 14 trên đất Hà Nội để cho thế giới chiêm ngưỡng, nhưng những công trình phô diễn chỉ mang tính bôi bác, chưa khánh thành đã suy sụp, hư hỏng, và phản bội lại lịch sử hào hùng của cha ông. Trong cuốn phim ghi lại một giai đoạn lịch sử của Lý Thái Tổ, tất cả những quần áo, phong cảnh đều là của Tàu, khiến dư luận rất phẫn nộ và Hà Nội đã phải ra lệnh cấm chiếu.

Đặc biệt là CSVN lại chọn ngày 1 tháng 10 làm ngày khai mạc Lễ Hội trùng với ngày quốc khánh Trung Quốc và chọn ngày 10 tháng 10 làm ngày bế mạc Lễ Hội trùng với ngày quốc khánh Đài Loan. Dù CSVN có giải thích cách nào đi nữa, việc chọn ngày khai mạc và bế mạc của một đại lễ mang tính chất sĩ diện của dân tộc lại trùng hợp vào ngày vui của quốc gia từng xâm lược nước ta là một hành vi sỉ nhục tổ quốc không thể chấp nhận được. Chính trong bối cảnh thuần phục Bắc Kinh như vậy, phong trào vẽ sáu chữ vàng HS.TS.VN đã xuất hiện tại nhiều thành phố ở khắp ba miền đất nước đã tạo sự chú ý trong dư luận.

Đặc biệt vào ngày 9 tháng 10, cao điểm của Lễ Hội 1000 Năm Thăng Long, các đảng viên đảng Việt Tân đã xuất hiện tại công viên Lý Thái Tổ, trung tâm thủ đô Hà Nội để phát áo mũ "Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam", công bố bản lên tiếng kêu gọi chống hiểm họa Bắc Thuộc, đồng thời giương biểu ngữ "Vì Thăng Long Ngàn Tuổi, Chống Hiểm Họa Bắc Triều". Hành động nói trên của các đảng viên Việt Tân đã xiển dương tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam, cương quyết bảo vệ bờ cõi và không chấp nhận bất cứ hành vi xâm lược nào của Bắc Phương.

Thứ ba là vụ Quốc hội CSVN đã bỏ phiếu bác bỏ dự án xây dựng con đường sắt cao tốc Bắc Nam với chi phí lên đến 54 tỷ Mỹ Kim do Nhật cho vay và giúp đỡ kỹ thuật xây dựng. Nhật Bản giúp cho CSVN xây dựng vì muốn tìm công ăn việc làm cho những công ty Nhật theo nguyên tắc của ODA. Trong khi đó những cán bộ cao cấp của CSVN cổ võ cho dự án này với hai mục tiêu: bề ngoài thì họ muốn tạo một "thành quả" nào đó khả dĩ có thể khoe là chế độ có khả năng xây dựng và phát triển Việt Nam sau 2 thập niên đổi mới, nhưng thực chất chỉ là một kế sách bòn rút tài nguyên quốc gia của những cán bộ trong guồng máy chính quyền Nguyễn Tấn Dũng.

Nhiều chuyên gia và học giả nghiên cứu cho thấy là với tình trạng kinh tế èo uột, đời sống người dân còn quá khốn khó, người sử dụng đường Shikansen (tên gọi đường sắt cao tốc theo Tiếng Nhật) không là bao nhiêu nên chắc chắn sẽ bị lỗ và trở thành xa xí phẩm. Quốc hội CSVN đã bị tách làm 2 khuynh hướng khi bỏ phiếu biểu quyết. Đa số thì bỏ phiếu bác bỏ dự án, cho rằng cần dành ngân khoản xây dựng này cho người dân nghèo. Sự bác bỏ xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam của quốc hội CVSVN cho thấy là chính trong nội bộ CSVN đã và đang có một khuynh hướng "bất tuân phục" các chỉ thị từ đảng hay từ cơ chế cao hơn mà không có tính thuyết phục.

Thứ tư là lời tuyên bố trở lại Biển Đông sau một thời gian dài bận đối phó cuộc chiến tại Á Phú Hãn và Iraq của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đã tạo những biến chuyển mới tại vùng Á Châu Thái Bình Dương. Tại Hội nghị an ninh khu vực hôm 23 tháng 7 năm 2010, bà Hillary Clinton đã đặt cả Trung Quốc lẫn các nước trong khối ASEAN vào một sự kiện bất ngờ, khi bà tuyên bố rằng Hoa Kỳ đề nghị quốc tế hóa các tranh chấp trên biển Đông, đồng thời coi vấn đề di chuyển trên biển Đông là một sự hợp tác chung không thuộc lãnh hải của bất cứ quốc gia nào. Sự tuyên bố cứng rắn về thái độ của Hoa Kỳ trên biển Đông không những làm cho Trung Quốc tức giận và tạo ra sự căng thẳng giữa hai nước mà còn làm thay đổi mối quan hệ giữa CSVN với Hoa Kỳ và giữa ASEAN với Trung Quốc.

Trong việc trở lại Biển Đông, đối tượng mà Hoa Kỳ tranh thủ chính là CSVN hơn là ASEAN; ngược lại CSVN cũng nhìn thấy Hoa Kỳ là chỗ dựa cần thiết để kềm chế sự bành trướng của Trung Quốc, mặc dù Hà Nội không muốn tạo thế đối đầu với Bắc Kinh. Theo đánh giá của ông Lê Công Phụng, đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ trong một trả lời phỏng vấn gần đây cho rằng quan hệ chiến lược giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn sẽ tiến mạnh hơn nữa trong năm 2011. Hiện chưa có thể thẩm định mối quan hệ chiến lược giữa CSVN và Hoa Kỳ sẽ diễn ra như thế nào, nhất là những quan hệ về quân sự; nhưng có một điều ai cũng thấy là lãnh đạo Hà Nội rất sợ đòn "diễn biến hòa bình" của Hoa Kỳ. Do đó, tuy mở rộng thêm quan hệ với Mỹ, nhưng CSVN sẽ tiếp tục nằm trong vòng kềm chế của Trung Quốc.

Ngoài một số sự kiện nổi bật đề cập bên trên, trong năm 2010 còn có một biến cố đáng chú ý như cuộc tụ họp tự phát của hàng ngàn người dân Bắc Giang từ các quận xã kéo về trước Ủy ban nhân dân Tỉnh phản đối vụ công an đã đánh chết một thanh niên trong lúc điều tra vào tháng 8 năm 2010. Vụ Luật sư Cù Huy Hà Vũ bị công an CSVN dàn dựng bắt giữ hôm mồng 4 tháng 11, từ tội "chơi gái" sang tội "tuyên truyền chống phá chế độ". Vụ Tướng Vũ Hải Triều khoe khoang là đã chỉ thị cho lực công an mạng ngăn chận, phá hoại các trang Blog, Facebook, và một số trang web có nội dung chống chế độ Hà Nội và liền sau đó là hàng loạt các trang Web như Việt Tân, Đàn Chim Việt, Thông Luận, Người Việt, Đối Thoại… đã bị tấn công bằng DOS (Denial of Service Attack) liên tục. Vụ một số cựu đảng viên cán bộ về hưu của đảng CSVN cảnh báo về việc 10 tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… đã cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn một cách dài hạn để nuôi trồng cây công nghiệp, một hình thức bán đất cho Trung Quốc.

Tóm lại, tình hình năm 2010 đã để lại hai dấu ấn đáng chú ý:

Thứ nhất là sau 20 năm mở cửa kinh tế, quyền lực chính trị đang chuyển từ "bộ máy đảng" sang các "bộ phận trực thuộc" như chính phủ, quốc hội. Sự lên tiếng phê phán hay bác bỏ của Quốc Hội đã cho thấy là đảng CSVN không còn khả năng kềm chế nó như trước; đồng thời vị trí của người nắm giữ trách vụ Thủ Tướng đang lấn dần quyền hạn mang tính "thống lĩnh" trước đây của vị trí Tổng Bí Thư đảng về đối ngoại, kinh tế, hành chánh. Hệ quả rõ rệt là những đấu đá trong nội bộ đảng do tình trạng "trâu buộc ghét trâu ăn", phe thân Mỹ chống phe thân Tàu, phe miền Bắc chống phe miền Nam… sẽ càng ngày càng thêm trầm trọng.

Thứ hai là người dân Việt Nam đã vượt qua sự sợ hãi để chủ động đứng lên tranh đấu: tụ họp chống bất công, tham nhũng; đòi nhà đất, tài sản bị cướp; đình công hàng loạt để chống bóc lột; xuống đường đòi tự do tôn giáo; lên tiếng vạch trần những sai trái; đưa những thành phần ác ôn ra công lý… Đồng thời qua Lễ Hội Ngàn Năm Thăng Long, người dân càng nhìn thấy rõ chân tướng tay sai Bắc Kinh của tập đoàn lãnh đạo CSVN.

Hai dấu ấn nói trên vừa là những thuận lợi vừa nói lên sự lớn mạnh của Phong Trào Dân Chủ Việt Nam với những bước tiến mới trong năm 2011, đặc biệt trong tình hình của đảng CSVN sau Đại hội XI, sẽ ngày một suy yếu và lúng túng đối phó với nhiều vấn đề xảy ra trong chính nội bộ đảng và bên ngoài xã hội.

Lý Thái Hùng
31/12/2010


01 tháng 1 2011

Hứa với anh, tôi là người đi trước!


Anh khuyên tôi: "Hãy quên đi thù hận"
Về quê hương xây dựng nước non nhà
Bằng tài năng học hỏi chốn phương xa
Đảng, nhà nước hoan nghênh người viễn xứ!

Anh khuyên tôi hãy "khép lại quá khứ"
Quên những ngày khói lửa dậy trời Nam
Chiến xa Nga hằn đậm vết hung tàn
Trên đường phố Sài Gòn ngày quốc hận!

Anh bảo tôi quên những ngày lận đận
Cha đi tù, mẹ buôn gánh bán bưng
Nuôi đàn con trong khốn khổ tột cùng
Tôi phải thôi học, sáng ngô chiều sắn

Vâng, tôi cố quên những ngày mưa, nắng
Đi mò cua, giúp mẹ buổi cơm chiều
Quên những ngày nước ngập mái tranh xiêu
Đêm u tịch hãi hùng: "kinh tế mới"!

Giờ, tha phương, quê nhà xa dịu vợi
Tôi sống cuộc đời dân chủ ấm no
Nhưng dân tôi ĐANG khắc khoải mong chờ
Ngày sụp đổ của bạo quyền tàn độc

Thương quê hương, bao lần tôi bật khóc
Thấy lương dân trong kiếp sống khốn cùng
Thương dân hiền cam chịu kiếp lao lung
Khổ đến nổi đem con mình đi bán!

Tôi chống anh KHÔNG PHẢI VÌ DĨ VÃNG
Mà là vì HIỆN TẠI với TƯƠNG LAI
Vì dân tôi ĐANG sống kiếp dọa đày
Thế hệ trẻ nhìn TƯƠNG LAI VÔ ĐỊNH!

Thì anh ơi, nói chi lời lừa phỉnh
Đến bây giờ, ai tin cộng sản đâu
Nếu thật lòng xin hãy thực hiện mau
Cuộc hòa giải với người dân quốc nội:

Hãy ngưng ngay những hành động bỉ ổi
Ngưng đuổi nhà, cưởng chiếm đất nhân dân
Ngưng đào mồ, sang phẳng những mộ phần
Xây khách sạn làm giàu cho đảng ủy

Hãy ngưng ngay những ngón nghề phù thủy
Đạo giáo quốc doanh, dân chủ cò mồi
Hứa hòa hợp hòa giải ở đầu môi
Nhưng cộng đảng vẫn độc quyền chúa tể

Nếu thật tình thì hãy mau giải thể
Đảng độc tài cộng sản (đảng vô lương)
Người TỴ NẠN bốn bể sẽ hồi hương
Đem tài sức hiến dâng cho đất nước

Hứa với anh, tôi là người đi trước!


Trần Chiêu Yên

Đấu tranh giành Tổ quốc.

Chúc ai xa vạn Lý,

Mừng Hội lớn quê nhà.

Năm nay là quyết định,

Mới thỏa chí dân ta.

 

Vạn gian nan quyết lòng,

Sự việc sẽ hanh thông.

Như sức mạnh toàn dân,

Ý dân là ý Trời.

 

Đấu tranh giành Tổ quốc.

Tranh vẽ bức Tiên Long,

Thăng hoa hồn đất nước.

Tiến bước theo tiền nhân,

 

Diễn đạt tấm chân tình.

Biến đau thành sức mạnh,

Hòa máu nóng liệt oanh.

Bình an cho dân tộc,

 

Nhân ái trải tấm lòng.

Quyền làm người ta quyết,

Giành giữ dãy non sông.

Lại một trang sử mới,

 

Tiến tới xây hòa bình.

Hành động trong tiên quyết,

Giải phóng vạn sanh linh.

Thể theo lời kêu gọi,

Đảng ác phải tiêu vong.

Cộng nô phải trả lại,

Sản nghiệp của Núi Sông.

 

Lê Chân

19 tháng 12 2010

Vì sao Trung Quốc không muốn quốc tế hóa Biển Đông (*)

Chien-peng Chung

clip_image001Trung Quốc không muốn quốc tế hóa vấn đề Trường Sa vì e ngại làm loãng ảnh hưởng khu vực của họ và thêm phức tạp các bước tiến giải quyết vấn đề tận gốc.

Cấp độ 2:

Cùng lúc đó các nỗ lực xây dựng lòng tin và hợp tác an ninh cũng đã được tiến hành thông qua các tổ chức phi chính phủ nhờ các kênh "cấp độ 2" trong khu vực Đông Nam Á. Song song với các đối thoại về an ninh mà các bộ trưởng của các nước ASEAN đang tiến hành với giới chức của các nước Châu Á- Thái Bình Dương tại các cuộc hội đàm sau bộ trưởng (PMCs), các buổi gặp gỡ tư vấn đa phương không chính thức "cấp độ 2" tập trung vào các vấn đề an ninh và chính trị vốn được xem như quá nhạy cảm và các tranh cãi không thể đưa ra tại các bàn họp cấp độ 1.

Hai trong số các dàn xếp cấp 2 quan trọng và cũng đã củng cố lâu đời ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương là hội đồng hợp tác an ninh Châu Á- Thái Bình Duơng ( CSCAP) và bàn tròn Châu Á- Thái Bình Dương tổ chức thường niên do viện nghiên cứu Quốc tế và chiến lược ASEAN (ASEAN ISIS) tổ chức. Các quy trình cấp 2 này đựơc đồng tài trợ bởi cả nhà nước và các viện hàn lâm tư nhân, các quỹ, các nhóm tư vấn và thường là liên quan đến các trao đổi giữa các viện sĩ, nhà báo, doanh nhân, quan chức từ các Bộ Quốc Phòng và Ngọai Giao đến tham dự với tư cách cá nhân.

Liên quan đến tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã bày tỏ ý muốn thương thuyết song phương, vì tại bàn đàm phán tay đôi họ sẽ thấy mình có thế mạnh hơn các đối phương. Một nhiệm vụ quan trọng của các cuộc đàm luận phi chính thức này là thuyết phục Trung Quốc chấp nhận các cuộc dàn xếp đa phương.

Những dàn xếp cấp 2 can hệ nhất đối với chúng ta là các hoạt hội thảo thường niên về "Xử lý các xung đột tiềm tàng tại Biển Đông" do Vụ Nghiên cứu Phát triển Bộ Ngoại Giao Indonesia khởi xướng và do cơ quan phát triển quốc tế Canada tài trợ. Indonesia đã đảm bảo năng lực vai trò một nhà trung gian bởi vì họ là nước rộng và đông dân nhất ASEAN và đây là nước không dính dáng trực tiếp vào các tranh cãi lãnh thổ trên Biển Đông.

Cuộc hội thảo đầu tiên nhóm họp tại Bali vào tháng 01 năm 1990, cơ bản là một dịp để các quan chức học giả và các giới khác từ ASEAN và các cá nhân nghiên cứu của Canada gặp gỡ một cách riêng tư và trình bày các quan điểm cá nhân về xúc tiến hợp tác tại Biển Đông.[1] Khi hội thảo lần 2 nhóm họp vào tháng 07 năm 1991 người tham dự đến từ các nước bao gồm cả Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và Lào bên cạnh các quốc gia ASEAN và Canada.

Do Trung Quốc là một bên tranh chấp quan trọng và Đài Loan vẫn là một thế lực quân sự tại Trường Sa, Indonesia cho rằng mời cả hai nước là phù hợp và thực tế cho hội thảo này. Trung Quốc thường kiên quyết phản đối Đài Loan tham gia trong các diễn đàn chính thức. Đó là lý do chính đáng để tiếp tục chế độ cấp 2 cho các cuộc hội thảo. Indonesia cũng muốn mời thêm các tham dự viên từ Nhật Bản. Bởi 70% lượng dầu của Nhật nhập khẩu đi qua Biển Đông và nguyên do nữa là Nhật Bản quan ngại sẽ có những cuộc tấn công nhằm vào đội thương thuyền và tàu dầu của họ nếu xung đột xảy ra.[2] Tuy nhiên Trung Quốc đã phản đối Nhật Bản tham gia với lý do là Nhật Bản không phải là một nước Đông Nam Á, và do vậy Nhật không có quyền quyết định các vấn đề về khu vực, ý kiến này của Trung Quốc đã chưa  ai phản bác được.

Trung Quốc không muốn quốc tế hóa vấn đề Trường Sa vì e ngại làm loãng ảnh hưởng khu vực của họ và thêm phức tạp các bước tiến giải quyết vấn đề tận gốc. Như tại hội thảo trước đây, vấn đề chủ quyền và xác nhận ranh giới đã lại một lần nữa được né tránh mặc dù các bên tham gia đã khẳng định sẽ tìm đến các phương pháp ôn hòa để giải quyết bất đồng và tại bản kết luận của hội thảo họ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau khai thác tài nguyên khu vực.[3] Việc thông qua đạo luật về lãnh thổ trên Biển vào tháng 02 năm 1992 trong đó tuyên bố các đảo ở Biển Đông đều là lãnh thổ của Trung Quốc đã khiến Trung Quốc bị săm soi kỹ lưỡng từ các tham dự viên của các nước tại hội thảo năm 1992.

Hai nhóm công tác được thành lập nhằm thực thi việc đánh giá nguồn nguyên liệu và khảo sát khoa học hải dương Trường Sa tại hội thảo năm 1992, tuy nhiên chưa có một hoạt động nào tiếp theo sau khi họ báo cáo những tìm kiếm tại hội thảo năm 1993.[4] Đến hội thảo lần thứ 8 vào tháng 12 năm 1997, tất cả năm nhóm làm việc trong đó có hai nhóm đã nêu và ba nhóm về bảo vệ môi trường hải dương, an toàn hàng hải và các vấn đề pháp lý đã được thành lập.[5]

Dẫu vậy, cho đến nay, vấn đề chủ quyền vẫn chưa được đưa ra và bàn thảo nghiêm túc tại hội thảo. Bởi mục đích của các hội thảo tại Indonesia là xây dựng lòng tin và phát huy các hoạt động hợp tác giữa các nước Đông Nam Á, những nhà tổ chức đã cố hết sức cẩn trọng tránh thảo luận hay tranh cãi về chủ quyền với ý thức rằng những tranh luận đi cùng sẽ chỉ tạo ra sự kích động chứ không có những thảo luận duy lý. Cách làm này có thể là một chiến thuật khôn ngoan để giảm nhiệt tại các hội thảo, bằng không có thể gây lúng túng cho các bên, song việc né tránh vấn đề chủ quyền có nghĩa là các bên tham dự vẫn chưa thể mang các căn nguyên về xung đột tại Biển Đông ra mổ xẻ. Những tranh cãi về chủ quyền lẽ ra và nên là việc chính của các hội thảo.

Dù các chính phủ của những tham dự viên luôn tuyên bố rằng họ không buộc phải hành động theo những lời gợi ý của các hội thảo, nhưng bất kỳ các giải pháp nào do tham dự viên đề ra đều cần sự ủng hộ từ phía chính phủ của họ để có cơ biến thành hiện thực. Những cá nhân liên quan trong hội thảo thường là những nhà lãnh đạo tinh thần tiềm năng của đất nước họ với những mối quan hệ đạt được vì đang còn hay đã từng phục vụ trong guồng máy nhà nước với những mối liên hệ thân tình với các lãnh đạo nhà nước. Dẫu họ tham gia với tư cách cá nhân, tầm quan trọng của những người tham dự sẽ gia tăng sức nặng cho các báo cáo và đề xuất mà các tham dự viên sẽ đệ trình cho chính phủ của mình. Ý kiến của họ có thể sẽ có tính quyết định khi các khi các lãnh đạo chuyển ưu tiên từ mưu kế đối đầu sang mưu cầu hợp tác, dù hiện nay cả hai khuynh hướng này đều khó có khả năng hiện thực. Chí ít, các vận động cấp 2 này có thể cung cấp một diễn đàn hợp pháp và có uy tín cho phép tất cả mọi tiếng nói phi chính phủ thường yếu và chẳng mấy ai biết, được tham gia những vấn đề an ninh và đối nội đối ngoại khác.

Các hội thảo tại Indonesia đã định hình phương pháp được mệnh danh là "cách ASEAN" trong xử lí các vấn đề có thể tránh né kiểu cách chính thống- kiểu mà châu Âu và Bắc Mỹ thường làm khi chạm đến giải trừ binh bị hay tạo dựng lòng tin. Tập thể ASEAN đã phát triển một phương pháp tư vấn phi chính thức và phi cấu trúc để các lãnh đạo và giới ra quyết sách có thể trì hoãn một đề tài khó khăn hoặc lướt qua một tình thế gay cấn hơn là cố giải quyết, cùng lúc vẫn có thể hy vọng rằng các vấn đề quan trọng đó sẽ coi như không liên quan hay vô thưởng phạt, tùy cơ mà ứng biến.

Kể từ khi họ tập hợp nhau lại vào 1967 các quốc gia ASEAN đã có thể gạt ra ngoài mọi bất đồng và cùng nhau hợp tác mà không cần phải giải quyết các bất đồng ấy vì 2 lý do tương quan. Thứ nhất họ biết là những nước nhỏ, yếu, những mâu thuẩn nội tại sẽ khiến họ phơi thân làm mồi ra cho các mưu đồ kích động bất ổn tiềm tàng từ các siêu cường và các chiến hữu ý thức hệ của họ tại khu vực. Kế đó họ nhận thức được lợi ích của việc gia tăng ảnh hưởng tập thể bằng cách tạo vẻ ngoài và thậm chí tạo nội lực của một mặt trận đoàn kết để mặc cả với nhân tố bên ngoài. ASEAN thực sự đã trở thành một thể chế an ninh, kinh tế bền vững bên ngoài Châu Âu trong 30 năm qua chính xác là nhờ họ gồm những nước yếu cùng đối diện với nguy cơ chung bên ngoài. Tuy nhiên trước thềm thế kỷ 21 những gì ASEAN phải xử lí không phải là mối đe dọa từ siêu cường, từ các phong trào cộng sản địa phương có ngoại viện, hay từ Việt Nam, vốn trước đây là đối thủ chính của ASEAN khi tiếp quản Campuchia vào những năm 1980, nhưng nay đã là một thành viên của hiệp hội.

Thay vì vậy những gì mà ASEAN phải quan tâm xử lí là sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc hùng mạnh, cường quốc Biển Đông. Những cuộc hội thảo tại Indonesia đầu tiên đặt nền trên cách tiếp cận ASEAN, chủ yếu dựa vào các tiếp xúc phi chính thức tránh tranh luận, và tiến tới kết quả "tha lâu đầy tổ"[6]. Tuy vậy Trung Quốc vừa không phải là thành viên ASEAN vừa không phải là một quốc gia đối mặt với mối đe dọa bên ngoài hoặc chí ít là không lộ ra như vậy. Ngoài ra Trung Quốc còn là một cường quốc quân sự với kinh tế đang lên. Do vậy khó mà thuyết phục Trung Quốc về các mối quan tâm của ASEAN và ràng buộc họ vào các quy trình dĩ hòa vi quý và tư vấn lẫn nhau liên tục của ASEAN. Ngoài ra hợp tác an ninh đa phương chưa bao giờ là một chuẩn ngoại giao trước nay của cả Trung Quốc và ASEAN mãi đến thời gian gần đây, mà lòng tin và hợp tác giữa các nhà nước và dân tộc thì cần thời gian để xây dựng.

Các rối rắm tầng trên

Đây là một quan sát lâu dài vào lý thuyết trò chơi 2 cấp và các lý thuyết mặc cả khác, thuyết này cho rằng các lợi ích và ý muốn của giới quan chức thường thay đổi để ứng phó với các mối đe dọa hay cơ hội đến từ bên ngoài. Cuộc tranh đấu về các đảo ở Biển Đông kéo theo sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các thiết chế ngoại giao và quân sự, vốn là 2 thế lực chính yếu trên chính trường Trung Quốc, có liên quan đến việc soạn thảo luật của Trung Quốc về lãnh thổ trên biển đầu năm 1992.

Những tranh luận gay gắt được thuật đã xảy ra giữa các thành viên cao cấp của quân đội và giới ngoại giao Trung Quốc ngay khi đạo luật này được đưa ra bàn thảo tại Quốc Vụ Viện- Cơ quan Lập pháp Trung Quốc.[7] Quân đội Trung Quốc khi đó đã có hai đại diện trong Bộ Chính trị và kể từ giữa thập kỷ 1950 đã có ít nhất một thành viên của quân đội có mặt trong tiểu ban đối ngoại của Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc.[8] Tuy nhiên ý muốn của giới quân sự nhằm gia tăng hơn nữa vai trò trong guồng máy an ninh quốc gia rõ ràng không chỉ giới hạn trong tháp cao quyền lực mà thôi. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã chọn cách không nói đến các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền nhằm tránh đụng chạm về ngoại giao với các nước đang tranh chủ quyền với Trung Quốc, tuy vậy các trung tâm tham mưu lục quân, hải quân, Quân khu Quảng Châu  và tỉnh Hải Nam cho rằng cần phải duy trì nguyên tắc sao cho những tranh cãi sau này sẽ dẫn đến lợi thế cho Trung Quốc.[9]

Một học giả đã từng tuyên bố rằng hành động lập tỉnh Hải Nam là một tuyên ngôn của Bắc Kinh nhằm quyết tâm xác định chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông vì theo như "Nghị quyết thành lập tỉnh Hải Nam" được thông qua kì họp lần thứ 7 của Quốc Vụ Viện Trung Quốc vào tháng 4 năm 1988, quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) Trung Sa(Macclesfield) và Trường Sa (Nam Sa) và khu vực xung quanh là nằm trong địa giới tỉnh Hải Nam.[10] Dù gì thì ý kiến của giới quân sự vẫn đang thịnh thời.

Những áp lực đều đặn của Trung Quốc tại Biển Đông chứng tỏ giới quân sự tương đối thành công  trong các vận động chính trị và xác định ngân sách. Sau khi trở thành lãnh đạo của Hải Lục Quân Trung Quốc (HLQTQ-PLAN) năm 1982, Đề Đốc Lưu Hoa Thanh đã trở thành một phát ngôn nhân mạnh mẽ cho việc tiến ra Trường Sa.

Ông ta đã phát biểu với báo giới rằng một trong những mục tiêu chính của HLQTQ là xác lập chủ quyền trên các vùng biển giàu tài nguyên xa xôi kia.[11] Vào năm 1994 Phó Tư lệnh Hải Quân Trung Quốc (HQTQ) Zhang XuSan đã lập luận tương tự để xin tăng thêm kinh phí quốc phòng khi tranh cãi về ngân sách tại Quốc Vụ Viện. [12] Việc họ Lưu thăng tiến cao hơn vào Thường trực Trung Ương trong kỳ họp lần thứ 14 của đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tháng 10 năm 1992 đã gia tăng hơn nữa ảnh hưởng của HQTQ trong việc tạo dựng chính sách.

Kể từ năm 1983 HLQTQ đã hộ tống các tàu khảo sát của Cục Hải Dương Quốc Gia và Viện Khoa học Trung Quốc để đo đạc thời tiết và mực nước tại các vùng xa của Trường Sa.[13] Trong những năm đầu thập kỷ 1990, nhiều bài báo của Quân Đội Trung Quốc (QĐTQ-PLA) đã sử dụng việc tranh cãi tại Trường Sa để kêu gọi nâng cấp Hải Quân nhanh chóng hơn nữa.[14] Các tác giả này luôn nhấn mạnh khoảng cách xa giữa Trung Quốc Đại lục và Trường Sa để yêu cầu mua nhiều chiến hạm hơn, chiến đấu cơ  Su-72 bay đường dài, nâng cao khả năng tiếp nhiên liệu trên không và xây dựng các căn cứ hải quân ở Biển Đông. Dĩ nhiên một kịch bản xung đột giữa hai bờ Đài Loan cũng đã hiện lên rõ ràng  thông qua các nỗ lực sở hữu Su-72 tàu khu trục lớp  Soremeny và tàu ngầm lớp Kilo từ Nga.

Tuy nhiên vai trò chính yếu của HQTQ trong việc tổ chức và thực hiện các tác vụ tại Biển Đông luôn song hành cùng các quan tâm về công tác tổ chức của HQTQ. Điều này đã khiến HQTQ trở thành một nhóm lợi ích nội bộ mạnh mẽ trong bất kỳ thương thuyết nào về chủ quyền hải đảo. Có khả năng rất cao là đã có yếu tố này cấu thành quyết định của HQTQ tại Biển Đông như tổng thống Philippines từng xác nhận khi ông tin việc đánh chiếm Đảo Vành khăn đã được tiến hành bởi các cấp thấp hơn mà không có sự đồng ý của chính quyền Trung Quốc.[15]

Nguồn: Tuanvietnam


(*) Đây là phần tiếp theo của bài Vai trò các tác nhân trong tranh cãi Biển Đông là gì? (chú thích của BVN).

[1] Lee Lai To, "Defusing Rising Tension in the Spratlys: An Analysis of the Workshops on Managing Potential Conflicts in the South China Sea," American Asian Review, winter 1994, vol. XII, no. 4, 189-190.

[2] Lam Peng Er, "Japan and the Spratlys Dispute," Asian Survey, October 1996, vol.XXXVI, no. 10, 998.

[3] Lee, "Defusing Rising Tension in the Spratlys," 192.

[4] Ibid., 193.

[5] "Alatas Opens Workshop on Spratlys 3 Dec" FBIS East Asia, 4 December 1997, 4, Jakarta Media, Indonesia.

[6] Jose T. Almonte, "Ensuring Security the 'ASEAN Way'," Survival, winter 1997/1998,81.

[7] "New Law Claims Sovereignty over the Spratly Islands," FBIS China, 27 February1992, 15, Tokyo KYODO.

[8] The CCP's Central Committee Foreign Affairs Leading Small Group is headed by the premier and functions as a key policy coordination and supervision mechanism between the Politburo Standing Committee and the Foreign Ministry establishment. See Michael D. Swaine, The Role of the Chinese Military in National Security Policymaking(Santa Monica CA: RAND, 1996), chapter 3, "Foreign Policy Subarena," 19-36.

[9] "Foreign Ministry Opposes Law," FBIS China, 27 February 1992, 15-16, Tokyo KYODO.

[10] Daojiong Zha, "Localizing the South China Sea Problem: The Case of China's Hainan," Pacific Review, 2001, vol. 14, no. 4, 580-581.

[11] John W. Garver, "China's Push Through the South China Sea: The Interaction of Bureaucratic and National Interests," China Quarterly, December 1992, no. 132, 1022.

[12] Ibid.

[13] Garver, "China's Push Through the South China Sea," 1008-1009.

[14] You Ji and You Xu, "In Search of Blue Water Power: The PLA Navy's Maritime Survey in the 1990s," Pacific Review, 1999, vol. 4, no. 2, 137-149.

[15] Frank Ching, "Manila Looks for a Slingshot," Far Eastern Economic Review, 9 May 1995, 40.