Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

24 tháng 7 2012

Một bị cáo vụ Securency nhận tội

Một bị cáo vụ Securency nhận tội

Vụ bê bối hối lộ nước ngoài lớn nhất của Úc đã hé lộ hành vi tội phạm đầu tiên khi một cựu giám đốc công ty con của Ngân hàng Trung ương Úc nhận tội đối với cáo buộc thực hiện khoản thanh toán ma cho một người trung gian người Malaysia.

clip_image001

David John Ellery nói ông sẽ ra làm chứng.

David John Ellery, cựu Thư ký và cũng là Giám đốc Tài chính của Securency International đã nhận tội gian lận sổ sách kế toán liên quan đến khoản thanh toán 79.502 đôla cho người môi giới Abdul Kayum Syed Ahmad, theo báo The Age của Úc.

Tại tòa tối cao bang Victoria, ông Ellery cũng nói với tòa rằng ông đã đồng ý làm nhân chứng chính trong vụ truy tố và sẽ ra khai cung tại phiên điều trần sắp tới với tám bị cáo là đồng nghiệp cũ, những người bị cáo buộc có hành vi hối lộ nghiêm trọng ở nước ngoài.

Giới công tố nói rằng việc "có một nhân chứng chính nắm rõ vụ việc đóng vai trò hết sức quan trọng" trong vụ điều tra cáo buộc hối lộ liên quan tới Securency và công ty in tiền liên đới là Note Printing Australia (NPA).

Securency, công ty mà Ngân hàng Trung ương Australia (RBA) nắm cổ phần 50% và do RBA giám sát, đã bị buộc tội có hành vi bị cho là hối lộ hoặc âm mưu hối lộ quan chức nước ngoài tại Việt Nam, Malaysia và Indonesia.

NPA là công ty in tiền trên nền giấy polymer mà công ty Securency cung cấp.

Vụ bê bối này làm RBA bị mất mặt nhiều, với những câu hỏi chưa có câu trả lời rằng tại sao các quan chức cao cấp ngân hàng trung ương đã không báo cho cảnh sát thông tin rõ ràng để làm sáng tỏ rằng chính các các công ty con của họ có hành vi tham nhũng khi vụ việc hé lộ lần đầu tiên vào năm 2007.

Cảnh sát liên bang đã được yêu cầu điều tra vào tháng 5 năm 2009 sau khi báo The Age đưa tin nghi ngờ rằng các khoản thanh toán nhiều triệu đôla của Securency được chuyển vào tài khoản ngân hàng của các doanh nhân ở nước ngoài có quá khứ không rõ ràng với mục đích tránh nộp thuế.

Giới công tố cho rằng mặc dù ông Ellery có hành vi phạm tội nghiêm trọng và không trung thực, ông không nằm trong mắt xích của âm mưu được cho là do ban giám đốc Securency dàn dựng lên để hối lộ người trung gian có đại lý đặt tại Malaysia.

'Người trung gian'

clip_image002

Securency bị cáo buộc có "âm mưu hối lộ" cho gia đình cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN Lê Đức Thúy.

Hồi tháng Ba năm nay, một thương nhân người Anh đã phủ nhận trước tòa cáo buộc "có âm mưu hối lộ" cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bằng cách chi trả học phí cho con trai ông này đi học ở Anh.

Bị cáo William Lowther, 72 tuổi, đã không nhận tội khi ra Tòa án Southwark Crown ở London, hôm 9/3/2012.

Phiên xử này liên quan cáo buộc ông Lowther cùng năm người khác "âm mưu hối lộ" ông Lê Đức Thuý, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bằng việc thanh toán tiền học và chi phí sinh hoạt cho Lê Đức Minh, con trai cựu quan chức này, tu nghiệp ở trường đại học Durham vào năm 2003.

Ông Lowther bị buộc tội hối lộ quan chức Việt Nam để đổi lấy các hợp đồng in tiền Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam dành cho công ty Securency International.

Phiên trình tòa tiếp theo của ông Lowther, người tiếp tục được hưởng quy chế nộp tiền thế chân để tại ngoại hầu tra, dự kiến diễn ra vào tháng Chín tới.

Bằng giờ này năm ngoái, báo The Age đăng loạt bài dưới tựa đề 'Bê bối hối lộ vươn ra tới một đại tá tình báo' trong đó đề cập tới nhân vật "trung gian" là Lương Ngọc Anh, Tổng Giám đốc công ty TNHH Phát triển Công nghệ CFTD vốn đóng vai trò trung gian trong việc công ty Securency in tiền polymer cho Việt Nam.

Bài báo lúc đó nói ông Lương Ngọc Anh là nhân viên tình báo, cấp bậc đại tá và rằng quan chức thương mại Australia đã tiếp xúc với ông tổng cộng 18 lần trước khi giới thiệu ông cho công ty Securency, chuyên cung cấp giấy và dịch vụ in tiền polymer.

Báo The Age từng cáo giác ông Lương Ngọc Anh, Tổng Giám đốc công ty TNHH Phát triển Công nghệ CFTD, có quan hệ thân cận với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ hồi ông Dũng còn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và quan hệ làm ăn với Securency bắt đầu.

Ông Ngọc Anh và một số lãnh đạo khác củ̀a CFTD, trong có một đại diện của chính phủ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc ở New York, được nói đã thường xuyên tháp tùng ông Thủ tướng và các quan chức khác đi nước ngoài.

Cho tới nay phía Việt Nam nói thông tin trên báo Úc về cáo buộc hối lộ quan chức Việt Nam chỉ có thể được coi là "tin tố giác" chứ không thể dùng làm bằng chứng.

Nguồn: bbc.co.uk


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2012/07/mot-bi-cao-vu-securency-nhan-toi.html

Một giờ với J.B. Nguyễn Hữu Vinh

Một giờ với J.B. Nguyễn Hữu Vinh

Hà Văn Thịnh

Một cuộc gọi khá bất ngờ vào buổi tối làm tôi hơi khó ngủ: Người muốn gặp là J.B. Nguyễn Hữu Vinh, "cựu thù" hồi tôi còn viết cho báo Lao Động, với bài "Sáng tỏ sự cân bằng đúng". Đó là bài báo tôi bị chửi te tua và, cay độc nhất là J.B! Dù sao, chuyện cũng đã qua. Được gặp lại "kẻ thù" ngày nào để có thể nói đôi điều xa xa cũng là điều nên…

Sáng nay, 18.7.2012, tôi đến 1A, Trương Định, Huế. Khi tôi đến, thấy có cả J.B. và Thạch Linh, Mai Xuân Dũng. Câu chuyện quanh ly cà phê và bia thật rôm rả. Té ra, J.B. là người Hà Tĩnh, thảo nào có cái giọng lưỡi vừa chua chát, vừa "đểu" lại vừa cay.

J.B. kể cho mọi người nghe nhiều chuyện – nhưng nhiều nhất là chuyện "làm việc" với công an. Chép sơ ra đây để mọi người cùng ngẫm để cười mà đau, mà xót.

Đầu tiên là chuyện giấy mời. Công an ghi là mời lên "làm việc". J.B. trả lời là đã về hưu, tức là không đủ sức khỏe để làm việc nên không thể đến. Tất nhiên, nếu làm cái "chuyện đó" thì đôi khi, vẫn là có thể? Vừa rồi, mấy ông mặt trận đến khuyên nhủ không nên đi biểu tình chống TQ vì cổ xúy cho cái chuyện yêu nước không theo quy trình do đảng lập trình, toàn là phản động hoặc sắp sửa thành phản động. Ơ hay, có đời thuở nào yêu nước lại là phản động được không?

Một trong những chuyện hay nhất là J.B. được mời đi học lớp đối tượng đảng. Một vị tầm cỡ GS của Học viện Chính trị Quốc gia HCM lên giảng bài, nói rằng, các đồng chí làm ở ngành bưu điện cần phải biết tiếng dân tộc, tiếng Anh. Vừa rồi (cái năm nảo năm nao nỏ nhớ), rất nhiều cuộc gọi từ trong nước ra nước ngoài bàn chuyện kích động biểu tình chống phá, nhiều người nghe mà có hiểu gì đâu. Vì thế, cần phải học "ngoại ngữ" các dân tộc ít người! "Đối tượng đảng" có thâm niên dài cho đến khi về hưu, J.B đứng lên chất vấn: Nói như thế có nghĩa là đảng và nhà nước cổ súy cho việc nghe lén điện thoại của công dân. Luật pháp có cho phép vậy không? Hỏi như thế thì đến tết Công Gô may ra mới được kết nạp.

Chuyện công an mời lên, đưa cho cả xấp bài photo "của ai đó có thể là của J.B.", bắt J.B. xác nhận đáng được đưa vào sách giáo khoa của khóa học… đối phó với… công quyền! J.B nói không thể xác nhận vì chẳng phải nhà văn cũng chưa hề là nhà báo nên viết xong nỏ nhớ. Cũng có thể có ai đó trùng tên cũng nên; với lại, có câu tư tưởng nhỏ hay gặp nhau nên thời này khoa học còn "trùng" hàng đống mà có ai bị làm sao đâu… Cán bộ nói lần sau không được viết như thế nữa, trả lời, tất nhiên là không bởi lần sau viết khác về chuyện khác. Cán bộ nói cần phải tóm tắt ý chính trong từng bài viết; trả lời, không thể tóm tắt vì khi viết tôi đã tính toán đến từng dấu phẩy, bớt một chữ là nhiều hơn cả dấu phẩy rồi. Cán bộ nói rằng anh (J.B.) viết về báo Hà Nội Mới có câu "Phải chăng những người làm sai là hệ quả của những sai lầm trong cách dùng người, trong chính sách của đảng"; như thế là phạm vào điều 79, sử dụng biện pháp mạnh là cái lẽ phải làm. J.B trả lời là không phải như thế, các cán bộ đã đánh cắp của tôi một dấu hỏi. Sau câu đó có dấu hỏi. Vì không biết đúng hay sai nên tôi phải hỏi. Chẳng lẽ vì dốt nên hỏi cũng là có tội sao?...

Nghe J.B kể, cười đau cả bụng. "Phản động" mà vui và dí dỏm thế thì cũng đáng làm "phản động" lắm. Chợt nhớ có hồi có cả một "bè lũ phản động" gặp nhau ở Vinh gồm Lái Gió, Bà Đầm Xòe…, vui như là ngày tết! Chỉ tiếc là trí nhớ của tôi quá tồi, nghe đó rồi quên đó, còn bao nhiêu chuyện cười ra… nước mắt. Nhưng, sau khi chia tay, một nỗi buồn thực sự mới thấm, mới đau trong mọi ngõ ngách của tâm hồn và suy nghĩ của tôi của tôi. Có một câu hỏi không dễ trả lời: Tại sao lại có độ vênh ghê gớm đến thế giữa người có quyền và người dân? Không chịu hiểu đúng về nhau, có lẽ, là đầu mối của không ít tai ương trên mặt đất này. Đến bao giờ thì giữa hai bên mới có thể có cái nhìn cùng chiều về một vấn đề thôi: Bày tỏ dứt khoát nhận thức của mình trước họa ngoại xâm, trước sự chà đạp ngày càng ngang ngược của nhà cầm quyền Bắc Kinh? 3.000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước vẫn chưa đủ để trả lời câu hỏi giản dị ấy!?

Huế, 18.7.2012

H. V. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2012/07/mot-gio-voi-jb-nguyen-huu-vinh.html

Một mạng người, 4 năm tù và sự cổ vũ cho việc lạm quyền trong ngành công an

Một mạng người, 4 năm tù và sự cổ vũ cho việc lạm quyền trong ngành công an

Mẹ Nấm

clip_image002Bản thân mình làm đúng, không có gì sai trái... rất bình tĩnh để xử lý tình huống... – Thái độ của kẻ đánh chết người.

Bị cáo Nguyễn Văn Ninh đã làm đúng, rất đúng – Thái độ của Viện Kiểm sát.

Và đây là kết quả: Y án 4 năm tù cho một hành động giết người rất đúng, rất bình tĩnh.

Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh vẫn khẳng định trước tòa là mình bình tĩnh, không có dấu hiệu hối tiếc gì về cái chết của một con người dưới bàn tay sát thủ của ông ta. Những dân phòng và công an có trách nhiệm liên đới vẫn an toàn đứng ngoài vòng pháp luật nhờ cái vòng xử lý nội bộ che chắn.

Trước phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Ninh một mực khẳng định là mình làm đúng quy trình, hành vi của bị cáo không có gì vi phạm.

Trả lời tiếp câu hỏi của Chủ tọa phiên tòa về việc xử lý tình huống vi phạm có đến mức cần thiết phải ghì nạn nhân xuống đến độ trật đốt sống cổ không?

Bị cáo Ninh đã trả lời: Thái độ của bị cáo lúc ấy rất bình tĩnh, bình thường. Hành vi bắt người là chính đáng do bị cáo đã được học, được trang bị kiến thức để làm sao bắt được đối tượng nhanh nhất nên theo bản án sơ thẩm với tội danh làm chết người trong khi thi hành công vụ là đúng, nhưng theo bị cáo, mức án 4 năm tù là quá nặng.

Thái độ hoàn toàn điềm tĩnh của Nguyễn Văn Ninh, khi nhìn nhận lại hành vi tước đoạt mạng sống người khác, khiến người ta hoàn toàn có thể khẳng định tính "sát thủ chính danh" được đào tạo bài bản của ngành công an.

Sử dụng hành vi bạo lực đối với người không có vũ khí tự vệ trong tay, và chỉ có một mình, dẫn đến hậu quả chết người, mà không khiến bị cáo thay đổi suy nghĩ về chức năng, nghĩa vụ và quyền hạn của ngành công an trong tình huống này, thì quả thật là một mối nguy hiểm cho xã hội, khi mặc nhiên thừa nhận sự uy quyền của những người sở hữu loại "giấy phép sát nhân"  như thế này.

Nguy hiểm hơn là khi có sự đồng tình "đúng và rất đúng" của Viện Kiểm sát.

Tội danh "làm chết người trong khi thi hành công vụ" sẽ luôn là tình tiết giảm nhẹ đối với hành vi giết người của những người thừa hành pháp luật như lực lượng công an. Và điều này có lẽ lý giải được lý do vì sao tình trạng người dân bị đánh đập, bị tước đoạt mạng sống tại đồn công an ngày một gia tăng mà không có biện pháp xử lý triệt để.

Và hôm nay, thêm một lần nữa, điều này đã được bảo kê bởi các quan toà phúc thẩm.

Khi bác bỏ mọi kháng cáo đề nghị hủy bản án phúc thẩm, thay đổi tội danh với bị cáo Nguyễn Văn Ninh từ "làm chết người trong khi thi hành công vụ" sang tội "cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người" (khoản 3, điều 104 Bộ luật Hình sự), bác bỏ yêu cầu xử lý nghiêm minh những dân phòng và công an trực ban có liên đới trong đêm xảy ra sự việc đau lòng của nạn nhân Trịnh Xuân Tùng là thêm một lần nữa những người đại diện pháp luật hôm nay, đã góp phần củng cố niềm tin bất khả xâm phạm cho lực lượng công an "là thanh kiếm và lá chắn bảo vệ chế độ".

4 năm tù cho một mạng người, và còn rất nhiều mạng sống khác bị tước đoạt bởi bàn tay của  lực lượng công an như bị cáo Ninh nữa.

Quyết định của toà phúc thẩm ngày hôm nay chính là hành động nuôi dưỡng và tiếp tay cho việc lạm quyền của ngành công an - trong đó có những sát thủ lạnh lùng như Trung tá Nguyễn Văn Ninh và các dân phòng, cùng công an trực ban có mặt tại đồn Thịnh Liệt vào ngày xảy ra vụ án.

* Và đây là ý kiến của người đi đường sau khi phiên tòa phúc thẩm vụ án trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh chết người kết thúc.

M. N.

Nguồn: Facebook Mẹ Nấm


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2012/07/mot-mang-nguoi-4-nam-tu-va-su-co-vu-cho.html

Tàu Trung Quốc tới Trường Sa không phải đi ‘đánh cá’

Tàu Trung Quốc tới Trường Sa không phải đi 'đánh cá'

HÀ NỘI (NV) - Ðoàn tàu đánh cá 30 chiếc của Trung Quốc được một tàu hải giám hộ tống đến vùng biển quần đảo Trường Sa chỉ chạy lòng vòng từ khu vực này sang khu vực khác chứ không có vẻ gì là đánh cá như họ loan báo.

clip_image001

Ðoàn tàu đánh cá Trung Quốc chạy ngang qua bãi đá ngầm Chử Bích (Zhubi Reef) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam trong mục đích khiêu khích. (Hình: chinadaily)

Hình ảnh được một số báo mạng chính thức của Trung Quốc như 'Trung Quốc Nhật Báo', 'Tân Hoa Xã' đưa ra và tường thuật về chiến dịch biểu diễn đánh cá ở Trường Sa chứng tỏ như thế.

Chúng đi hàng đoàn theo đội hình tàu hải quân di chuyển trên biển hoặc dàn hàng ngang sát nhau để chụp hình chứ không phải đi đánh cá.

Mấy ngày trước, những hình ảnh công bố nói đoàn tàu này đi ngang đảo Vĩnh Thử (Yongshu Island, Việt Nam gọi là đảo Chữ Thập, mà Bắc Kinh chiếm của Việt Nam năm 1988). Ngày thứ Tư 18 tháng 7 năm 2012, 'Trung Quốc Nhật Báo' đưa ra một loạt hình nói đoàn tàu đánh cá này chạy ngang bãi đá ngầm Chử Bích (Zhubi reef) với sự hộ tống của tàu hải giám 310.

Khi được tin đoàn tàu này rời cảng Tam Á (đảo Hải Nam) ngày 12 tháng 7 năm 2012, Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ đưa ra lời phản đối suông như thường lệ. Trong khi đó, những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc bá quyền, bày tỏ lòng yêu nước thì bị nhà cầm quyền khủng bố bằng nhiều cách.

Bắc Kinh tiếp tục chửi bới Hà Nội

Hôm thứ Tư, 18 tháng 7, Bắc Kinh cho tờ Hoàn Cầu Thời Báo (phụ bản Anh ngữ của tờ Nhân Dân Nhật Báo) tiếp tục chiến dịch chửi bới Việt Nam và Philippines.

Bài báo nêu ra những luận điểm mơ hồ để nói mình làm theo đúng Công ước Quốc tế về Luật Biển (UNCLOS) xác định thế nào là chủ quyền lãnh thổ. Trong đó, tự khoe ngư dân Trung Quốc đánh cá ở đây từ thời xa xưa. Trong đó cả việc "các thương thuyền Trung Quốc đi qua biển Nam Trung Hoa ngừng lại" tại các đảo này. Bài báo này lại còn khoe Trung Quốc đã hành xử quyền chủ quyền biển Nam Trung Hoa từ thời nhà Tống (960-1279)" để đối chọi với những tài liệu, sử liệu Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

clip_image002

Ba chiếc tàu đánh cá Trung Quốc chụp gần khi ngang cái hải đăng của bãi đá ngầm Chử Bích. (Hình: chinadaily)

Trong một bài trước, Hoàn Cầu Thời Báo, từng nói họ quản trị quần đảo Hoàng Sa liên tục suốt 50 năm qua. Họ đã gian dối để đánh lừa dư luận quần chúng Trung Quốc trái ngược với sự thật là Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đồn trú và bảo vệ quần đảo này cho tới tháng 1/1974.

Tới năm 1988 thì Bắc Kinh mới xua một đoàn tàu tới chiếm một số đảo nhỏ và bãi đá ngầm của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa. Nay thì dựa vào thế quân sự hùng mạnh, Bắc Kinh muốn nuốt cả nên dựng ra những câu chuyện để biện minh cho hành động hải tặc.

Trong bài bình luận ngày 18 tháng 7 năm 2012, tờ Hoàn Cầu Thời Báo, còn ám chỉ đến công hàm mà Thủ tướng CSVN Phạm Văn Ðồng gửi cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai năm 1958 công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.

Bắc Kinh vin vào điều này để nói Việt Nam công nhận gần hết biển Ðông là của Trung Quốc. Nhà cầm quyền Hà Nội một số lần phủ nhận công hàm đó là công nhận luận điểm của Bắc Kinh về chủ quyền biển Ðông, mà hoàn toàn chỉ nhìn nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc mà thôi.

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo, từ đó vẫn cố nói là "Việt Nam trong quá khứ đã công nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc", đồng thời đổ cho Hà Nội "nuốt lời".

Trong khi đoàn tàu đánh cá tới khiêu khích ở Trường Sa, tờ 'Trung Quốc Nhật Báo' hôm thứ Tư khoe rằng "Một số công ty Hoa Kỳ tỏ ý muốn đấu thầu các dự án dò tìm dầu khí mới được gọi thầu".

Bản tin này thuật lời chủ tịch Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương (CNOOC) nói như vậy bên lề diễn đàn hợp tác đầu tư Trung Quốc - Hoa Kỳ.

clip_image003

Bãi đá ngầm Chử Bích (Zhubi reef) được xây dựng thành một căn cứ/pháo đài kiên cố trên biển. (Hình: chinadaily)

Ít ngày sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển hồi tháng trước trong đó xác định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, Bắc Kinh cho công ty quốc doanh CNOOC loan báo gọi thầu quốc tế 9 lô ngay trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Có lô chỉ cách bờ biển miền Trung Việt Nam gần 40 hải lý hoặc 60 hải lý.

Một số chuyên viên phân tích thời sự tin rằng không một công ty dầu khí quốc tế tầm cỡ nào lại muốn chen vào khai thác ở khu vực tranh chấp chủ quyền nghiêm trọng giữa Việt Nam và Trung Quốc.

CNOOC còn khoe rằng họ sẽ đầu tư khoảng $32 tỉ để khai thác dầu khí biển Ðông trong vòng 20 năm tới. (T.N.)

Nguồn: nguoi-viet.com


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2012/07/tau-trung-quoc-toi-truong-sa-khong-phai.html

100.000 ngư dân Trung Quốc được trang bị vũ khí?

100.000 ngư dân Trung Quốc được trang bị vũ khí?

Tham vọng mở rộng khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông ngày càng tăng cao. Mới đây, một quan chức ngành công nghiệp đánh bắt cá đã thúc giục chính phủ cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự cho 100.000 ngư dân ở vùng biển này.

clip_image001

Tàu cá Trung Quốc ngang nhiên đánh bắt trái phép tại quần đảo Trường Sa, vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Ảnh: AP

Hà Kiến Tân, người đứng đầu tập đoàn đánh bắt Baosha ở tỉnh Hải Nam, đã thúc giục chính phủ Trung Quốc giúp các ngư dân trở thành các dân quân Trung Quốc. "Nếu chúng ta đưa 5.000 tàu cá ra Biển Đông, thì sẽ cần 100.000 ngư dân", tờ Thời báo Hoàn cầu dẫn lời vị này.

"Nếu chúng ta giúp họ trở thành dân quân, trang bị cho họ vũ khí, chúng ta sẽ có một lực lượng quân sự mạnh hơn lực lượng của tất cả các nước khác gộp lại ở Biển Đông", vị này khẳng định.

Quan chức ngư nghiệp họ Hà tự tin tiết lộ rằng, hiện tại, Trung Quốc không gặp khó khăn gì với việc triển khai đồng loạt nhiều tàu cá. "Riêng ở tỉnh Hải Nam, chúng tôi có 23.000 tàu cá, với hơn 225.000 thành viên giàu kinh nghiệm. Mỗi năm từ giữa tháng 5-8, khi hoạt động đánh bắt tạm ngừng, chúng ta nên huấn luyện ngư dân tăng cường kỹ năng trong đánh bắt, sản xuất và cả hoạt động quân sự, giúp họ trở thành một lực lượng dự bị trên biển, và sử dụng lực lượng ấy để giải quyết các vấn đề Biển Đông", vị này tuyên bố.

Chiến lược sử dụng các tàu cá để mở rộng yêu sách chủ quyền của chính phủ Trung Quốc trong vài tuần gần đây đã gây ra nhiều căng thẳng và phản đối với hầu hết những láng giềng hàng hải bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Philippines. Trong các vụ đụng độ điển hình với tàu hàng hải Nhật Bản và Philippines, các tàu cá Trung Quốc thường giữ vai trò trung tâm, sau đó được một số cơ quan của chính phủ Trung Quốc như lực lượng Hải giám hay Ngư chính hỗ trợ.

Mới đây, bất chấp sự phản đối của Việt Nam, Trung Quốc vẫn điều đội tàu cá lớn ngang nhiên đến đánh bắt cá tại khu vực thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, một đội tàu lớn như vậy của Trung Quốc tới Trường Sa. Đội tàu này gồm một tàu hậu cần trọng tải 3.000 tấn và 29 tàu có thể mang trọng tải hơn 140 tấn/tàu.

Nhật báo Trung Quốc cho hay, đội tàu trên tới bãi Chữ thập và bắt đầu đánh bắt cá từ chiều 15/7. Đến sáng 17/7, họ đổi địa điểm đánh bắt tới bãi Su Bi, cách Chữ thập khoảng 200 km. Các bãi đá này đều đã được Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Sự mở rộng và trỗi dậy của Hải quân Trung Quốc đang khiến cả khu vực quan ngại, nhưng cho tới thời điểm hiện tại, lực lượng này không trực tiếp tham gia vào trong cuộc đối đầu ban đầu với một số tàu nước ngoài. Theo giới phân tích, đây dường như là nỗ lực tránh thách thức trực tiếp với hải quân các nước khác, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc và có thể là cả Mỹ.

Trung Quốc luôn coi hải quân Mỹ là lực cản chính và ghê gớm nhất trong cuộc chơi ở Biển Đông. Theo quan chức Hà, bằng cách giúp các ngư dân thành một lực lượng dân quân hàng hải, "Trung Quốc có thể giảm bớt gánh nặng cho lực lượng hải quân cũng như áp lực ngân sách quốc gia".

Thái An (theo washingtontimes)

Nguồn: vietnamnet.vn


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2012/07/100000-ngu-dan-trung-quoc-uoc-trang-bi.html

Biên tập viên Tân Hoa xã phản đối 'thành phố Tam Sa'

Biên tập viên Tân Hoa xã phản đối 'thành phố Tam Sa'

clip_image001

 

Biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã.

 

TP - Biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã thẳng thắn bày tỏ quan điểm cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là "thành phố Tam Sa" của Trung Quốc.

Gần đây, khi tình hình Biển Đông căng thẳng, nhất là sau khi Trung Quốc có những bước đi ngang ngược, bất chấp lẽ phải và sự thật như khẳng định yêu sách về "Đường Lưỡi bò", lập ra cái gọi là "thành phố Tam Sa", biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là "thành phố Tam Sa"...

Nhà báo Chu Phương sinh năm 1960, Cử nhân Anh văn (1982), Thạc sỹ Báo chí truyền thông (1989), từ 1989 đến nay là biên tập viên công tác tại Ban biên tập đối ngoại của Tân Hoa xã.

Ông là nhân vật nổi tiếng có quan điểm thẳng thắn trong làng báo Trung Quốc, hồi tháng 3 năm nay, từng gây chấn động dư luận bởi là người viết những bài đầu tiên đăng trên Blog Sina.com phê phán Bạc Hy Lai và "mô hình Trùng Khánh" ngay từ khi nhân vật này còn đang trên đỉnh cao danh vọng và quyền lực.

Ngày 17-7, ông cho đăng bài viết "Hiện trạng Nam Hải (Biển Đông) có lẽ sẽ kéo lùi cải cách chính trị của Trung Quốc".

Trong đó ông viết: "Ý nghĩa lớn nhất của việc lập ra "thành phố Tam Sa" là chường cho bàn dân thiên hạ thấy nỗi nhục của Trung Quốc; đồng thời cũng sẽ buộc chính phủ và quân đội Trung Quốc phải giở bài ngửa với các quốc gia xung quanh và quốc tế... Chúng ta từ nhỏ đã được nhìn thấy tấm bản đồ Nam Hải (Biển Đông).

Một đường biên giới đứt đoạn rất thô màu hồng đưa toàn bộ Nam Hải vào trong bản đồ Trung Quốc. Cho đến ngày nay chúng ta mới biết sự thực không phải như vậy. Cái đường biên giới quốc gia ấy không những các nước láng giềng và cả quốc tế không công nhận, mà ngay chính phủ và các học giả nước ta (Trung Quốc) cũng không giải thích rõ được".

Trước đó, ngày 29-6, Chu Phương viết bài: "Thiết lập "thành phố Tam Sa" là trò cười quốc tế, mạnh mẽ yêu cầu hủy bỏ ngay!". Bài này đã được nhiều diễn đàn mạng đăng lại.

Chu Phương viết: "Nhiều người dân nước ta đến giờ vẫn không hiểu Nga tại sao lại lần đầu tiên tham gia cuộc diễn tập quân sự lớn Thái Bình Dương do Mỹ chủ đạo. Kỳ thực, đó chính là sự phản ứng mạnh mẽ của quốc tế trước hành động thiết lập "thành phố Tam Sa" đi ngược lại luật quốc tế và vô trách nhiệm của Trung Quốc.

Nếu giai tầng lãnh đạo Trung Quốc đến giờ vẫn không đọc hiểu được thứ ngôn ngữ quốc tế chung đó thì sẽ kéo nhân dân Trung Quốc sa vào một cuộc chiến tranh không thể thoát ra.

Việc thiết lập "thành phố Tam Sa" là một trò cười quốc tế điển hình. Chính phủ Trung Quốc cần sớm nhận sõ sai lầm to lớn của mình, sớm có hành động sửa chữa sai sót.

Bản thân tôi mạnh mẽ kêu gọi: hãy lập tức hủy bỏ "thành phố Tam Sa", triển khai sớm nhất có thể được việc đối thoại mang tính xây dựng với các nước xung quanh Nam Hải (Biển Đông), dốc sức cho việc làm dịu tình hình căng thẳng ở Nam Hải, loại bỏ nguy cơ chiến tranh, đưa Trung Quốc quay trở lại với đại gia đình quốc tế".

Chu Phương viết: "Trung Quốc đã trải qua kiểu hành động tùy tiện thời "Cách mạng văn hóa", đã tự mình nếm trải thời kỳ "chính trị thống soái", cần phải nhận thức được mình là thành viên của đại gia đình quốc tế, cần phải tuân thủ các chuẩn tắc và quy phạm mà cả cộng đồng quốc tế tuân theo.

Trong xử lý công việc quốc tế, nhất là xử lý các vấn đề phức tạp, tồn tại tranh chấp nghiêm trọng giữa các quốc gia, tuyệt đối không được tự mình hành động một mình theo quan niệm giá trị, quan niệm lịch sử và lập trường của mình, chỉ nói điều mình nghĩ; như thế không những không giúp gì cho việc giải quyết tranh chấp quốc tế, mà còn làm tình hình xấu thêm, gia tăng thêm quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước xung quanh.

Đồng thời cũng làm tổn hại đến hình ảnh và địa vị quốc tế của Trung Quốc, làm suy yếu tiếng nói của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Trong vấn đề ngoại giao, trong xử lý công việc quan hệ quốc tế, chúng ta cần phải có thêm nhiều nhà ngoại giao, nhà chiến lược quốc tế và những chính trị gia thực sự có tầm để tham gia vào việc quyết sách; quyết không nghe theo tiếng gào thét của những "cuồng nhân chiến tranh" hay để cho quân sự chỉ huy chính trị. Kinh nghiệm lịch sử của tất cả các quốc gia cho thấy rõ: quân nhân can dự chính trị chỉ đem lại tai họa cho đất nước".

Về việc chính phủ Trung Quốc vội vàng tuyên bố lập ra cái gọi là "thành phố Tam Sa" bao gồm toàn bộ vùng biển trong "Đường biên giới 9 đoạn" mà họ tự vạch ra một cách vô căn cứ, Chu Phương thẳng thắn bày tỏ quan điểm: "Việc thiết lập "thành phố Tam Sa" là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông), khiến cả quốc tế chê cười những nhà quyết sách Trung Quốc thiếu kiến thức về luật quốc tế muốn thông qua việc thiết lập "thành phố", ngang nhiên đưa công hải (vùng biển quốc tế) vào lãnh hải của nước mình.

Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc. Quá trình thiết lập "thành phố Tam Sa" thể hiện sự nóng vội và cẩu thả, rõ ràng là quyết định được đưa ra thiếu luận chứng khoa học và không sáng suốt.

Hành động này không chỉ đi ngược lại luật pháp và tập quán quốc tế, mà cũng trái với những quy định pháp luật của chính Trung Quốc về việc thành lập thành phố, càng đi ngược lại quốc sách và chiến lược phát triển hòa bình phù hợp mà Trung Quốc cần có".

Việc thiết lập "thành phố Tam Sa" là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông). Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc

Biên tập viên Tân Hoa Xã Chu Phương

Ông phân tích: "Hành động sai lầm nguy hiểm vô trách nhiệm của một số người trong việc thiết lập "thành phố Tam Sa" đang đẩy nhân dân Trung Quốc sa vào miệng hố chiến tranh. Nhân dân Trung Quốc cần hòa bình, không cần chiến tranh. Trong việc xử lý vấn đề quốc tế và xử lý vấn đề quan hệ với các nước, Trung Quốc cần phải tỉnh táo, không được cuồng nhiệt. Trung Quốc cần làm một dân tộc có trách nhiệm, đứng thẳng giữa khu rừng các dân tộc thế giới; quyết không thể làm một "cô nhi thế giới" hành động ngang bướng. Trong việc giải quyết công việc quốc tế, Trung Quốc cần phải học cách tuân theo quy tắc trò chơi đã được cả quốc tế công nhận, tránh một mình một kiểu, mình khen mình hay, đừng để trở thành Triều Tiên thứ hai".

Chu Phương thẳng thắn đề xuất ý kiến cá nhân: "Đối với vấn đề "thành phố Tam Sa", chính phủ Trung Quốc cần sớm nhận ra sai lầm lớn lao của mình, xin đừng ngại mất thể diện mà bỏ lỡ thời cơ. Trung Quốc cần sớm hành động, sửa chữa sai sót...

Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy, một Trung Quốc cô lập sẽ không có tiền đồ. Việc Nga tham gia cuộc diễn tập quân sự Thái Bình Dương vẫn chưa khiến một số chính khách và quân nhân của ta tỉnh ra.

Trong thế giới ngày nay, sự phát triển của một quốc gia càng cần có sự quan tâm, tham dự và giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Đừng nói gì Trung Quốc đang tự coi mình là "quốc gia đang phát triển", mà ngay cả Mỹ, "Siêu cường quốc duy nhất thế giới" hiện cũng đang ngày càng biết cách lợi dụng và dựa vào cộng đồng quốc tế để đạt được mục đích của mình".

Ông kết luận: "Thiết lập "thành phố Tam Sa" là hành động tự cô lập mình của Trung Quốc, là một sai lầm chiến lược to lớn cần phải nhanh chóng sửa chữa!".

Thu Thủy

Theo Sina.com, Zhoufang.blshe.com

Nguồn: tienphong.vn


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2012/07/bien-tap-vien-tan-hoa-xa-phan-oi-pho.html

ASEAN vấp ngã tại Phnom Penh

ASEAN vấp ngã tại Phnom Penh

Donald K. Emmerson, Asia Times, 13-7-2012

Trần Ngọc Cư dịch

Chưa bao giờ trong 45 năm của các cuộc họp định kỳ, luôn luôn được nối tiếp bằng những thông cáo chung nhạt nhẽo, mà các vị bộ trưởng ngoại giao của ASEAN lại không đồng thuận một tuyên bố chung đúc kết những bàn thảo kín đáo của họ để thế giới tùy nghi sử dụng. Nhưng lần này, nghĩa là cho đến bây giờ, họ vẫn chưa làm được điều đó.

Tại buổi bế mạc của hội nghị cấp bộ trưởng vừa mới kết thúc tại Phnom Penh, một sự im lặng đã làm ù tai mọi người. Nguyên nhân gần là các ngoại trưởng đã không đạt được một đồng thuận về việc bản tuyên bố có nên hay không nên nhắc đến Bãi cạn Scarborough, vị trí đang diễn ra một cuộc đối đầu căng thẳng bắt đầu vào tháng Tư giữa Trung Quốc (TQ) và Philippines. Philippines muốn nhắc đến sự kiện này trong bản tuyên bố. Nhưng Cambodia phản đối. Cả hai bên đều không nhượng bộ. "Phương cách đồng thuận của ASEAN" đã thất bại.

Chi tiết về những gì diễn ra mới đây sau những cánh cửa khép tại Phnom Penh cho đến nay vẫn còn mù mịt. Những ảnh hưởng của chúng vẫn chưa được biết rõ. Nhưng cũng không phải là quá sớm để tiên đoán rằng, đối với TQ, hậu quả của việc không tuyên bố có thể được coi như một thắng lợi trước mắt mặc dù về lâu về dài thắng lợi này có thể tỏ ra mong manh.

Cambodia và Trung Quốc

Nguyên nhân chính của sự tan vỡ có liên quan sâu sắc với Bắc Kinh và nỗ lực của nó nhằm bảo vệ tuyên bố quyền chủ quyền nhằm độc chiếm gần như toàn bộ Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông]. Tuyên bố đó được thể hiện trong đường đứt đoạn chín khúc khó hiểu trên các bản đồ TQ, gợi nên hình ảnh một lưỡi bò khổng lồ trùm sâu lên vùng giữa biển Đông Nam Á.

Bất luận nó còn có ý nghĩa nào khác chăng nữa, đường lưỡi bò này bác bỏ các quyền chủ quyền chồng lấn được tuyên bố bởi các nước Brunei, Malaysia, Philippines, và Việt Nam, tức các quốc gia đã cùng với Cambodia, Indonesia, Lào, Myanma, Singapore, và Thái Lan là thành viên của ASEAN.

Trong vai trò chủ tịch ASEAN năm 2012, Cambodia là nước chủ nhà cuộc họp bộ trưởng của nhóm, và lẽ ra đã đọc bản tuyên bố chung cuối cùng nếu có được một bản văn như thế. Theo chỗ tôi biết, Thủ tướng Cambodia, ông Hun Sen, chưa bao giờ công nhận tuyên bố chủ quyền TQ trên toàn Biển Đông. Nhưng không một lãnh đạo ASEAN nào lại bén nhạy đối với quan điểm và đòi hỏi của TQ như ông. Bằng cách từ chối đọc một tuyên bố có nhắc đến Bãi cạn Scarborough, ông đã hành động trong một đường lối phù hợp với lập trường của TQ trong cuộc xung đột chủ quyền tại Biển Đông.

Theo quan điểm của Bắc Kinh thì ASEAN không việc chi mà phải cố gắng giải quyết các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông; những tranh chấp này chỉ có thể dàn xếp song phương giữa TQ với từng nước một trong 4 quốc gia ĐNA có tuyên bố chủ quyền tại đó, và chỉ khi nào thời gian đủ chín muồi để làm việc đó mà thôi. Trong bối cảnh này, bằng cách từ chối đưa ra một thông cáo chung, chính phủ Cambodia tỏ ra đã làm những gì mà TQ muốn họ làm.

TQ là quốc gia đầu tư lớn nhất tại Cambodia. Bắc Kinh đã chi tiền rất hào phóng trong các dự án viện trợ hoành tráng tại nước này, kể cả việc chi trả việc xây cất Dinh Hoà Bình (Peace Palace) [gồm văn phòng Hội đồng Bộ trưởng Cambodia và trung tâm hội nghị quốc tế – người dịch] tại Phnom Penh, nơi các bộ trưởng ASEAN họp. Ngay trước khi khai mạc hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Phnom Penh vào tháng Tư 2012, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đến viếng thăm Cambodia bốn ngày, chuyến viếng thăm đầu tiên của một vị Chủ tịch nước TQ trong vòng 12 năm. Thật khó tin rằng việc chọn thời điểm của họ Hồ chỉ là một sự trùng hợp tình cờ.

Bắc Kinh cảm ơn Cambodia vì đã hậu thuẫn các lợi ích cốt lõi của TQ, một ý niệm mập mờ gồm cả tuyên bố chủ quyền của TQ trên hầu hết Biển Đông vốn gây ra nhiều tranh cãi. Và nếu sự bày tỏ lòng biết ơn của TQ thậm chí có cường điệu lòng trung thành của Cambodia đối với Bắc Kinh đi nữa, không nghi ngờ gì nữa rằng Hun Sen đã lợi dụng vai trò chủ tịch ASEAN trong năm 2012 của nước ông để tránh đưa Biển Đông vào chương trình nghị sự của nhóm.

Bất cứ một quan sát viên nào cũng có thể kết luận rằng TQ đã thực sự thuê Cambodia làm những điều mình sai khiến, kể cả việc ngăn cản các vị bộ trưởng ASEAN thông qua một tuyên bố chung về Biển Đông. Bây giờ TQ có thể nêu sự thất bại của ASEAN như một bằng chứng củng cố lập trường riêng của mình. Chẳng hạn, Bắc Kinh sẽ nói: "Chúng tôi không chống lại ASEAN, nhưng nếu các nước này không thể đồng ý với nhau ngay cả các từ ngữ trên một thông cáo chung, làm sao chúng ta có thể kỳ vọng họ ngồi lại đàm phán các vấn đề chủ quyền trên Biển Đông? Thôi, hãy để vấn đề đó cho chúng tôi bàn thảo trong các cuộc đàm phán song phương với những quốc gia trực tiếp liên hệ, khi thời gian cuối cùng đến lúc chín muồi". Hay những lời lẽ có đại ý như thế.

Để được công bằng với Bắc Kinh và Phnom Penh, phải nói rằng chúng ta chưa biết được, ví có bao giờ biết được, mức độ trách nhiệm mà Philippines phải chịu một phần trong cuộc đấu tranh nội bộ (infighting) – mỉa mai thay – tại Dinh Hoà Bình. Manila quyết tâm thúc đẩy phải nhắc đến Bãi cạn Scarborough trong thông cáo chung. Tại sao phải bức thiết nhắc đến vụ việc trên biển? Tại sao không thể ám chỉ bãi cạn ấy mà thôi? Phải chăng Hun Sen đã nổi giận, như ông từng nổi giận trong quá khứ, và dẹp bỏ bản tuyên bố thay vì nhượng bộ nhau trong cách dùng từ.

Một sự bấp bênh nghiêm trọng hơn nữa là thế này: Sự rạn nứt tại Phnom Penh đã phá hoại khả năng của ASEAN trong việc bảo trợ một bộ qui tắc ứng xử có tính ràng buộc tại Biển Đông một cách tồi tệ như thế nào?

Việc soạn thảo bộ qui tắc ứng xử

Năm 2002, TQ và các quốc gia ASEAN ký một Tuyên bố không có tính ràng buộc về Cách ứng xử của các bên tại Biển Đông. Một vài lãnh đạo ASEAN đã hi vọng sẽ tổ chức kỷ niệm năm thứ 10 của bản tuyên bố nói trên vào năm nay bằng cách soạn thảo, giữa họ với nhau, một bộ qui tắc ứng xử có tính ràng buộc. Kế hoạch của họ là phải hoàn tất nhiệm vụ này kịp thời để các bộ trưởng ASEAN công bố bản dự thảo tại cuộc họp tại Phnom Penh.

Điều lạc quan là bản dự thảo bộ qui tắc đã có sẵn rồi, mặc dù nội dung của nó chưa được công bố. Rõ ràng là, nó không phải là một văn bản chải chuốt, nhưng nó đã liệt kê các điểm mà, theo sự phán đoán chung của ASEAN, văn bản cuối cùng phải thể hiện. Người ta có đủ lý do để tin rằng bản dự thảo ấy gồm có những điều khoản dùng để dàn xếp các tranh chấp. Nếu điều này có thực, nó sẽ làm hài lòng các nhà phân tích vốn không tin rằng ASEAN sẽ sẵn sàng hoặc có thể đi ra ngoài bổn phận thông thường: biết ứng xử tử tế, biết giúp đỡ, và không làm cho tình hình xấu hơn.

Chính sự kiện các quốc gia tuyên bố chủ chuyền thường vi phạm các điều khoản đầy lạc quan của văn kiện 2002 mà không bị trừng phạt đã làm cho việc đòi hỏi một bản qui tăc rõ ràng nói lên tính khả thi trở thành cấp bách. Người ta có thể cảm thấy phấn khởi một cách dè dặt trong bối cảnh này, rằng tại Phnom Penh ASEAN đã trao cho TQ một bản dự thảo qui tắc ứng xử để cứu xét – một sự kiện mà các ký giả đã bỏ quên vì quá bận tâm về sự huyên náo của các vị bộ trưởng.

Điều bi quan là, nếu có một thông cáo chung ghi nhận thành quả mà các vị bộ trưởng đã đạt được, thì nó có thể sẽ nhắc đến sự thành công của họ trong việc soạn ra một bản dự thảo qui tắc ứng xử và sẽ mô tả nó như một bước tiến quan trọng. Thiếu sự nhìn nhận đó, văn bản dự thảo có thể chịu một số phận hẩm hiu trong tình trạng đợi chờ, không có một địa vị rõ ràng và có thể bị xem như chỉ là một bản liệt kê các điều nguyện ước. Dù có cố tình hay vô ý, khi Hun Sen hủy bỏ bản thông cáo chung, ông đã chặn đứng việc ASEAN công khai đề cao giá trị của nó như một cơ sở đàm phán chính thức của nhóm này.

Nếu TQ thực tâm muốn tránh bị ràng buộc bởi một bộ qui tắc ứng xử, thì những gì xảy ra tại Phnom Penh đã nói lên chính sách chia để trị mang đặc tính TQ – chia rẽ khối ASEAN để ngự trị sóng nước Biển Đông. Nhưng nói cho ngay, người ta cũng phải ghi nhận rằng TQ không tạo ra sự chia rẽ nội bộ ASEAN từ con số không.

Bắc Kinh gần như không chịu trách nhiệm về việc ASEAN không quyết tâm hay không thể hoặc là thuyết phục bốn thành viên của mình nhượng bộ nhau trong các tuyên bố chủ quyền, hoặc là chặn đứng họ trong việc tạo ra những động thái gây bất ổn trên và trong Biển Đông. Nếu bốn quốc gia có tuyên bố chủ quyền trước tiên chịu giải quyết các mâu thuẫn trong lập trường của họ với nhau, ASEAN đã có thể đưa ra một mặt trận thống nhất trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc.

Những cuộc thảo luận giữa ASEAN và TQ về bản dự thảo qui tắc ứng xử theo chương trình sẽ diễn ra vào tháng 9 này. Vì bản dự thảo là một sản phẩm của ASEAN, những cuộc thảo luận sẽ mang tính cách đa phương từ trong bản chất. Nếu chịu tham dự, TQ sẽ phải để những đòi hỏi song phương của mình ở ngoài phòng họp. Kế hoạch của ASEAN là muốn cùng TQ ký vào một văn bản cuối cùng tại vòng hội nghị thượng đỉnh sắp đến có liên quan tới ASEAN vào tháng 11 này.

Nếu các đàm phán về bản dự thảo không diễn ra tại Cambodia vào tháng 9, các hội nghị thượng đỉnh chắc chắn sẽ diễn ra tại quốc gia này. Tại Phnom Penh vào tháng 11 này, với một người khó lường như Hun Sen, tình hình có thể trở nên tồi tệ thêm một lần nữa. Tuy vậy, Bắc Kinh cũng sẽ suy nghĩ chín chắn trước khi cho phép mình một lần nữa dính dấp tới việc công khai làm hổ mặt ASEAN trước sự hiện diện của các vị quốc trưởng nước ngoài tề tựu tại đó trước khi lên đường tham dự Thượng đỉnh Đông Á. Một khả năng lớn hơn có thể là, từ nay đến đó, nếu thực sự muốn cản trở bộ qui tắc ứng xử, TQ sẽ phải làm việc gắt gao trong các cuộc thảo luận với ASEAN hoặc là để đình hoãn sự hoàn tất văn bản hoặc là, nếu không làm được chuyện đó, để đảm bảo rằng nội dung văn bản sẽ là nhạt nhẽo tầm thường.

Nếu việc này xảy ra, ASEAN gần như không còn một tự do lựa chọn nào cả vào tháng 11 tới: hoặc là phải thú nhận không thể cùng TQ soạn thảo một văn bản, hoặc là sẽ đưa một văn bản không có sức mạnh gì cả (a toothless edition). Trong sự tính toán việc gì nên (hay không nên) làm và thời điểm nên (hay không nên) làm việc đó, TQ cũng sẽ phải nhìn lên tấm lịch, vì biết rằng vào ngày 1-1-2013, Cambodia, một nước không tranh chấp chủ quyền trên Biển Dông, sẽ nhường vai trò chủ tịch ASEAN cho Brunei, một quốc gia có tranh chấp chủ quyền.

Bản dự thảo của ASEAN không thể ở trong tình trạng được giấu kín mãi. Nếu nó thực sự vẫn là một bí mật, thì không ai ngoài những chính phủ trực tiếp liên quan có thể điểm mặt TQ là nguyên nhân của bất cứ sự thay đổi nào trên văn bản, bao gồm cả những nhượng bộ để thỏa mãn đòi hỏi của Bắc Kinh. Nhưng nếu bản dự thảo được lưu hành trong dạng thức hiện nay, và TQ đòi hỏi một số thay đổi, và nó được thay đổi, thì những chỗ khác biệt với bản gốc cuối cùng sẽ được mọi người biết đến. Các nhà ngoại giao ASEAN sẽ có nguy cơ bị lên án là khuất phục trước con rồng Đại Hán.

Cái rủi ro để việc này xảy ra sẽ tùy vào mức độ Bắc Kinh có quyền theo dõi việc soạn thảo bản qui tắc tương lai ngay từ bên trong ASEAN, và đã sử dụng khả năng tiếp cận này để ảnh hưởng lên việc chọn từ ngữ theo ý mình. Nhưng nếu TQ không đóng vai trò nào bên trong tiến trình soạn thảo của ASEAN, thì bất cứ một người ĐNA nào có quyền tiếp cận bản dự thảo mà muốn ngăn chặn khả năng TQ thay đổi nó sẽ có động lực làm rò rỉ bản dự thảo ra ngoài.

So với các hội nghị thượng đỉnh, các cuộc họp ở cấp thấp hơn sẽ ít khả năng thu hút sự chú ý và nâng cao các kỳ vọng. Một nơi hội họp cấp dưới bộ trưởng dành cho các cuộc thảo luận của ASEAN-cộng-TQ (ASEAN-plus-China) đã được lựa chọn. Trong bối cảnh ít nổi bật đó, có lẽ TQ dễ tìm cách đình hoãn bất cứ một kết quả nào không vừa ý.

Nếu TQ quyết chặn đứng bản qui tắc ứng xử Biển đông, bằng cách đưa nó vào quên lãng vĩnh viễn, liệu các nước ASEAN có thể xúc tiến ký kết với nhau hay không? Việc này không thể xảy ra trong bầu không khí các nước đang cáo buộc lẫn nhau như hiện nay. Nhưng nếu thời gian có thể hàn gắn những vết thương hiện tại mặc dù đồng thời có bào mòn sự kiên nhẫn của ASEAN, người ta cũng quan niệm được khả năng ký kết ấy có thể xảy ra.

Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác tại châu Á 1976 của khối ASEAN có thể là một tiền lệ. Những quốc gia thành viên của khối này thoạt đầu đã tự mình soạn thảo và chấp nhận một văn kiện, trước khi mời TQ và các nước khác ký kết. Gần 20 chính phủ bên ngoài Đông Nam Á, kể cả TQ, đã ký kết văn bản đó. Nhưng, lần này Bắc Kinh sẽ chống lại việc bị đặt trước một sự đã rồi (a fait accompli) – bị dí vào tay một văn bản, một cây viết, và một hàng có đánh dấu sẵn để ký lên đó – nhất là một văn bản có ngụ ý quốc tế hóa Biển Đông.

Tuy nhiên có một khả năng là, TQ có thể thay đổi ý kiến. Bắc Kinh có thể sẽ quyết định chấp nhận một nỗ lực đa phương dưới sự bảo trợ của ASEAN nhằm soạn thảo một bản qui tắc ứng xử để chế ngự hành vi của các quốc gia trên Biển Đông. TQ thậm chí có thể chấp nhận một cơ chế giải quyết tranh chấp ở một dạng thức nào đó. Nếu vào năm 2013, đôi song ca Tập-Lý – Tập Cận Bình làm Chủ tịch nước và Lý Khắc Cường làm Thủ tướng – tại vị hẳn hoi ở Bắc Kinh, chế độ có thể cảm thấy đủ tự tin để chuyển "chính sách ngoại giao bặm trợn" của mình thành một nụ cười dễ dãi.

Tuy nhiên, chúng ta không nên nín thở chờ đợi một sự chuyển hoá như thế. Vì trong chính trị thực dụng (realpolitik, thường là mạnh được yếu thua), các lãnh đạo TQ vẫn bị cám dỗ cần nhắc nhở lãnh đạo các nước ASEAN về sự bất tương xứng giữa nước họ với người láng giềng vĩ đại nhất.

Kích cỡ là quan trọng

Ta hãy so sánh nước giữ ghế chủ tịch kết tiếp của ASEAN là Brunei Darussalam với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bề ngoài, tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, hai nước là thành viên bình đẳng; mỗi nước có một phiếu biểu quyết. Nhưng dân số Brunei chỉ bằng 0,0003% dân số TQ. Thảo nào, TQ chỉ muốn thương thuyết với Brunei trong một phòng hội chỉ có hai ghế, hơn là đối diện với 10 thành viên Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền ở trong cùng một phòng họp vào cùng một lúc.

Mặc dù toàn bộ dân số được đại diện bởi 10 nhà thương thuyết ASEAN vẫn ít hơn nửa khối dân số TQ (một chút xíu), họ sẽ là đa số đối với một nhà ngoại giao đơn độc của TQ với tỉ lệ 10 trên 1. Những dạng thức khác nhau của cái logic bất bình đẳng này đã tạo cơ sở để TQ nhiều lần đòi hỏi đàm phán song phương riêng biệt, và với chỉ mỗi một trong 4 nước ĐNA có tuyên bố chủ quyền mà thôi.

Nhưng kích cỡ của một quốc gia cũng mang lại những nỗi bất bình. Mặc dù việc dùng sức mạnh hùng hậu để diễu võ dương oai trên Biển Đông có thể đưa những quốc gia nhỏ bé hơn vào thế bị động, nhưng hành vi này sẽ khẳng định hình ảnh của TQ như một kẻ bắt nạt. Nếu chỉ dùng quyền lực địa-kinh tế và địa-chính trị của mình như một khí cụ thô bạo – "tao lớn con còn này thì không" – TQ sẽ nhanh chóng kích động sức đề kháng chung giữa các dân tộc ĐNA đồng thời chuốc lấy sự khinh bỉ của họ.

Quyền lực thông minh trong một thế giới nối mạng gồm các liên hợp, các dòng chảy thông tin, và các phát kiến cực nhanh ngụ ý phải biết khi nào việc sử dụng sức mạnh cơ bắp quá đáng là phản tác dụng. Kích cỡ quả là quan trọng, nhưng biết cách sử dụng nó lại càng quan trọng hơn. Dựa vào những bằng chứng của chính sách ngoại giao TQ tại Biển Đông, bài học đó chưa được quán triệt hoàn toàn.

Chẳng hạn, vào đầu năm nay, TQ đề nghị thành lập một Nhóm không chính thức (Kênh II – Track II) gồm các Nhân sĩ và các Chuyên gia (Eminent Persons and Expert Group, gọi tắt là EPEG) và giao cho họ nhiệm vụ thảo luận bản dự thảo qui tắc ứng xử và đưa ra các đề nghị thích hợp.TQ đề nghị thêm rằng nhóm ấy sẽ gồm có 10 người, 5 từ TQ và 1 từ mỗi một trong 5 quốc gia ASEAN.

Đối với nhiều giới trong khối ASEAN, sự phân phối này hình như đã minh họa một cách trắng trợn một não trạng đế chế chỉ biết dựa vào kích cỡ quốc gia: "Vì chúng tôi là nước lớn, chúng tôi có quyền chiếm một nửa số ghế của EPEG. Vì các anh là nước nhỏ, các anh phải chia nhau nửa số ghế còn lại. Và, tiện đây cũng xin nhắc nhở, 5 trong 10 thành viên của quí vị dứt khoát sẽ không được ngồi trong phòng họp". Hoặc những tư duy tương tự của TQ.

Cũng có thể là TQ chỉ thả nổi đề nghị EPEG nhằm trì hoãn bộ qui tắc ứng xử. Một khi EPEG được thành hình, Bắc Kinh có thể đình hoãn các quyết định về một văn bản với lý do nhóm cố vấn chưa hoàn tất bản báo cáo của họ. Với nửa số thành viên của EPEG đại diện cho TQ, bản báo cáo này có thể được triển hạn qua nhiều năm.

Tin tức cho biết, trong các cuộc thảo luận sau đó, TQ đã giữ 5 ghế của mình trong khi đồng ý để ASEAN chiếm 10 ghế. Để giảm bớt khả năng của Bắc Kinh trong việc lợi dụng cơ quan cố vấn này để che mắt thế giới và kéo dài việc soạn thảo bộ qui tắc ứng xử, các thành viên ĐNA đã đòi hỏi rằng nhóm EPEG chỉ được triệu tập sau khi việc thương thuyết một văn bản với TQ đã bắt đầu. Nếu một bản thông cáo chung đã được đưa ra tại Phnom Penh, có thể nó đã nhắc đến EPEG. Vì thiếu nó, chúng ta chỉ có thể đoán mò về số phận của cái đề nghị do TQ đưa ra.

Việc TQ âm mưu kiểm soát một nửa số thành viên EPEG chứng tỏ đường lối của TQ ngày càng trở nên cứng rắn. Vào năm 2005, một Nhóm Nhân sĩ ASEAN-TQ đã được triệu tập để duyệt xét các quan hệ ASEAN-TQ và đưa ra các đề nghị cải thiện. Cơ quan đó đã tuân theo qui tắc mỗi-nước-một-ghế, nghĩa là 10 nhân sĩ ĐNA ngồi cùng tham gia thảo luận với 1 nhân sĩ TQ.

Nếu EPEG thực sự nhóm họp với TQ chiếm 1/3 trong 15 ghế, những cuộc bàn thảo của nhóm sẽ dễ dàng chịu sự kiểm soát của Bắc Kinh, nhất là nếu những chia rẽ giữa các nước ASEAN làm suy yếu thêm nhóm đa số. Kể từ tháng 7 năm 2012 TQ tỏ vẻ không muốn chấp nhận một nguyên tắc bình đẳng nào giữa các quốc gia, điều mà 7 năm về trước họ sẵn sàng chấp nhận.

Ít có người dân ĐNA nào chịu theo dõi những diễn biến trong các tổ chức ngoại giao kênh II không chính thức. Một số người có theo dõi sẽ lấy làm nhẹ nhõm khi biết rằng chí ít TQ đã rút lui nỗ lực tước bỏ số ghế của một nửa ASEA. Nhưng nếu công thức 10 + 5 được giữ lại, sự chuyển biến chính trị có đạo lý sang chính trị thực dụng từ công thức 10 + 1 kể từ năm 2005, dù có khiêm nhượng đến đâu, cũng sẽ làm xuống cấp tính chính đáng (legitimacy) của Bắc Kinh trong giới ngoại giao tại Đông Nam Á.

Một quan niệm đã được phổ biến rộng rãi trên các sách báo, viết về lối ứng xử của các quốc gia, cho rằng "cái họa tài nguyên" (a resource curse) có thể làm xáo trộn nền kinh tế chính trị của các nước giàu về dầu khí nhưng nghèo [yếu kém] trong việc quản trị đất nước. Có thể có chăng "cái hoạ kích cỡ" đã xui khiến nước đông dân nhất thế giới đi diễu võ dương oai bằng sức nặng vô địch của mình?

Có bao nhiêu trách nhiệm của chế độ độc tài TQ trong việc gây ra nạn "thâm thủng quyền lực mềm" (soft power deficit) của nước này trước mắt nhân dân Đông Nam Á? Liệu việc dân chủ hoá đất nước, nếu xảy ra, có làm cho TQ được ưa chuộng hơn hay không? Hoặc liệu việc dân chủ hóa có làm tăng thêm sự độc hại của cái họa kích cỡ, khiến nhóm lãnh tụ chóp bu TQ đang bị bưng bít khó hạn chế ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc dân túy đang thịnh hành lên chính sách đối ngoại?

Bất luận với câu trả lời nào cho những câu hỏi nói trên đi nữa, có hai điều rõ rệt: Bắc Kinh cảm thấy mình có quyền làm chủ Biển Đông, và tham vọng chủ quyền đó đã giới hạn khả năng phóng chiếu quyền lực mềm của TQ trong khu vực.

Ta hãy xét đến việc TQ đang gọi tuyên bố chủ quyền của mình trên Biển Đông là "không thể tranh cãi". Phải chăng không có ai trong Bộ Ngoại giao TQ nhận ra sự lố bịch của lối mô tả này? Bất luận người ta có nghĩ gì về đường đứt đoạn chín khúc trên bản đồ TQ đi nữa, một điều không thể hoài nghi là, đường biên giới biển đó đang bị tranh cãi. Có bốn quốc gia trong khối ASEAN bác bỏ nó, đấy là chưa nói đến sự bất bình của nhiều nước khác.

Manila đưa ra đề nghị phải tách những phần của Biển Đông đang bị "tranh chấp" ra khỏi những vùng không bị tranh chấp. Có lẽ Bắc Kinh nghĩ rằng trong việc mô tả tuyên bố chủ quyền của mình trên hầu hết Biển Đông là "không thể tranh cãi", Bắc Kinh chỉ còn một việc là bảo vệ lập trường của mình mà thôi. Nhưng trong lãnh vực quyền lực mềm, nơi lời nói có giá trị quan trọng, việc TQ nhất quyết nhấn mạnh tính không thể tranh cãi sẽ làm suy yếu đòi hỏi của mình.

Sự bế tắc tại Phnom Penh có thể làm trì hoãn bộ qui tắc ứng xử Biển Đông. Nhưng nó cũng có thể thúc đẩy tinh thần bất khuất ít ra của một số nước ASEAN không chịu cúi đầu trước nước láng giềng khổng lồ, đồng thời tăng cường động lực của họ trong việc hợp tác một cách khôn ngoan với các nước ngoài khu vực, kể cả Mỹ, vì để bảo vệ nền độc lập quốc gia và của toàn khu vực. Trong khi đó, bốn nước ĐNÁ có tuyên bố chủ quyền phải đảm bảo rằng chính họ, vốn chịu một phần trách nhiệm trong vấn đề, sẽ có một phần trách nhiệm tìm ra giải pháp.

D. K. E.

Donald K. Emmerson là chủ nhiệm Diễn đàn Đông Nam Á tại Đại học Stanford. Bài viết mới nhất của ông là "Southeast Asia: Minding the Gap between Democracy and Governance," Journal of Democracy (tháng Tư, 2012).

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.


Original Page: http://boxitvn.blogspot.com/2012/07/asean-vap-nga-tai-phnom-penh.html