Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

15 tháng 9 2010

Người quyết cải cách lại không sống bằng lương

Lê Nhung

clip_image003

 

Các diễn giả trao đổi tại hội thảo do Viện các vấn đề phát triển và UNDP tổ chức. Ảnh: Lê Nhung

 

Nhiều vấn đề đặt ra trong cuộc hội thảo cải cách tiền lương này đã chạm đến mục tiêu tối hậu của yêu cầu cải cách, như ý kiến của GSTS Bùi Thế Vĩnh tường thuật lại câu trả lời của Bộ trưởng Tài chính Hồ Tế trước Quốc hội cách đây 15 năm: "Ta không tăng lương được vì phải nuôi ba bộ máy: Đảng, Chính phủ, Mặt trận và các đoàn thể. Nếu ta chỉ tập trung nuôi bộ máy Chính phủ như các nước thì lương tôi cũng sẽ tăng 3 lần… Thực hiện việc này khó quá, phải có lộ trình. Đảng và các đoàn thể dần dà phải tự lo". Nhưng cách đây 15 năm đã đặt ra mà nay lại nhắc lại nghĩa là sau 15 năm, mọi việc vẫn giẫm chân tại chỗ. Vậy "lộ trình" sẽ là bao nhiêu năm đây? Rõ là đặt ra để mà ngầm chấp nhận với nhau là không bao giờ giải quyết cả chừng nào mà ĐCSVN còn nghiễm nhiên đóng vai đảng thống trị ngồi lên đầu Nhà nước với đủ các loại mặt trận, đoàn thể, hội hè "tít mù nó chạy vòng quanh".

Thực tế thì so với 15 năm trước, bây giờ vấn nạn công chức Nhà nước lại còn khủng khiếp hơn nhiều. Các bộ máy thi nhau phình ra vô tội vạ vì chuyện con ông cháu cha chạy vào hai nơi – cơ quan Đảng và cơ quan chính quyền – ngày càng phơi bày trắng trợn, bất chấp liêm sỉ, mà con ông cháu cha thì thường đều thuộc hạng ngu dốt bậc nhất. Câu nói ngày nào của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến nay thấy rất rõ: "Đem một con bò sang Liên Xô khi trở về nó cũng trở thành Phó tiến sĩ" (thê thảm hơn, những con bò ấy giờ đây không cần đi đâu hết mà vẫn có bằng Tiến sĩ của Mỹ hẳn hoi). Thử tưởng tượng hàng nghìn bò Tiến sĩ ngự trị trên các ghế này ghế kia ở khắp mọi cơ quan Đảng và chính quyền mà chức năng công việc đang chồng lấn lên nhau không sao tách bạch được thì hiệu quả hoạt động công vụ của đất nước trì trệ, lộn xộn như thế nào và hoạt động xoay xở đấu đá của những con bò không tim không óc nhưng có sừng nhọn hoắt ấy sôi nổi và ma mãnh như thế nào, chúng ta đều thấy cả. Đó là nói một dạng công chức điển hình của thời đại hôm nay, dạng này thì việc cải cách tiền lương đối với họ hoàn toàn vô nghĩa và họ sẽ bám chặt lấy bộ máy công quyền như đỉa bám trên "cái đùi" tổng thu nhập và vay nợ hàng năm của đất nước để hút được càng nhiều càng hay, làm cho đất nước kiệt quệ hẳn mới thôi.

Còn có một dạng nữa sau khi học xong cũng chạy vạy được một chân hợp đồng rồi vào biên chế song lại chẳng có chút "nhất thân nhì thế" gì thì sao? So với đầu những năm 60 thế kỷ trước, khi mà sinh viên ra trường với 60 đồng lương không cần lo nghĩ về kiếm sống, chỉ toàn tâm toàn ý cho công việc thì giờ đây, các cô cậu ấy sẽ đói rã họng ngay lập tức nếu cứ dựa vào đồng lương Nhà nước dù chỉ là sống độc thân. Bởi thế, các cô cậu ấy sẽ suốt ngày kiếm việc làm thêm, việc gì cũng làm, làm đến kiệt lực, và tất nhiên, phận sự chính của người công chức đối với các cô cậu ấy dù muốn hay không cũng trở thành rất phụ. Than ôi, đấy lại là loại người phải làm những công việc nghiệp vụ chuyên môn sâu kể cả ở các viện nghiên cứu khoa học và các trường đại học công, chứ không phải những con bò hành chính nói trên kia. Song so với loại "người bò" thì họ thấp kém đến nhiều bậc, không bao giờ họ dám mơ đặt chân vào những nấc thang quyền lực.

Như vậy, triển vọng của một đất nước được điều hành bởi loại "người bò" cha truyền con nối và được chuẩn bị mặt bằng học vấn bởi loại "người đói" mà tôi vừa phân tích rốt cuộc sẽ đi đến đâu? Xin để bạn đọc tự suy đoán.

Nguyễn Huệ Chi

clip_image001 – Viện trưởng Viện KH Lao động Nguyễn Hữu Dũng đem đến diễn đàn "cải cách tiền lương 2011 – 2020" một so sánh thú vị, đó là vào năm 1960, lương tối thiểu của công chức chỉ có 27 đồng 3 hào nhưng vẫn giá trị hơn số tiền 730 nghìn đồng của năm 2010, bởi 27 đồng vẫn còn mua được hai chỉ vàng trong khi lương tối thiểu hiện nay không thể mua nổi một phần ba chỉ.

Nhiều vấn đề về lương công chức đã được các chuyên gia mổ xẻ tại hội thảo diễn ra ngày 11/9.

Chẳng hạn, lương tăng hay giảm so với tăng giá? Lương cao hay thấp so với hiệu quả công việc? Thu nhập hiện nay của công chức liên quan gì đến nạn tham nhũng, tiêu cực và vì sao những cuộc cải cách tiền lương mấy chục năm qua luôn trong vòng luẩn quẩn, chắp vá?

Và điểm chung được các diễn giả thống nhất, là cải cách tiền lương phải được làm cấp tập, ráo riết, làm thực chất chứ không chỉ là dăm ba cuộc "cải tiến" cầm chừng.

Lương chỉ chiếm 30% thu nhập

Như TS Trần Thị Thu Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Hành chính sự nghiệp Bộ Tài chính tính toán, từ 2001 – 2010, GDP tăng 2,17 lần trong lúc lương tối thiểu tăng 1,94 lần.

Tính chung, lương tối thiểu đã tăng 6 lần, bình quân tăng 20%/năm.

Nhưng, hầu hết chuyên gia đều thống nhất rằng lương thực tế không tăng. Công chức không ai sống bằng lương. Có người còn ví von chuyện tăng lương vừa qua chỉ như "tăng phụ cấp kéo dài".

TS Mai Thế Cường (ĐH Kinh tế quốc dân) dẫn kết quả một cuộc điều tra mới đây cho thấy lương của nhóm công chức hành chính chỉ chiếm 25 – 30% thu nhập. Trong khi đó,  mức sống của công chức có ngạch, bậc thấp nhất phải ở mức trên trung bình của xã hội.

Nhiều nguyên nhân được chỉ ra, như ngân sách hạn hẹp (lại ôm đồm). Rồi bộ máy cồng kềnh, biên chế cứ "nới" rộng theo năm. Có người còn so sánh, chừng nào Nhà nước vẫn phải tái cơ cấu cho nhiều "Vinashin" thì chừng đó lương công chức còn ì ạch.

Một nguyên nhân khác liên quan đến tổ chức nhà nước, được GSTS Bùi Thế Vĩnh nhắc lại khi tường thuật câu trả lời của Bộ trưởng Tài chính Hồ Tế trước Quốc hội cách đây 15 năm: "Ta không tăng lương được vì phải nuôi ba bộ máy: Đảng, Chính phủ, Mặt trận và các đoàn thể. Nếu ta chỉ tập trung nuôi bộ máy Chính phủ như các nước thì lương tôi cũng sẽ tăng 3 lần… Thực hiện việc này khó quá, phải có lộ trình. Đảng và các đoàn thể dần dà phải tự lo".

Thu nhập "ngầm" phình ra

Một điều quan trọng là nếu lương chỉ chiếm 30% thu nhập thì công chức kiếm đâu 70% còn lại bù đắp nhu cầu cuộc sống đang ngày một cao?

Triệu chứng được nhận diện là tình trạng "đi đêm", vòi vĩnh, nhũng nhiễu. TS Nguyễn Hữu Dũng phân loại các biểu hiện: biếu xén, xin – cho, ăn chia, sân sau. Thu nhập ngầm ngày càng phình ra.

Khu vực cán bộ dân cử có 10 hệ số mức lương. Thấp nhất 4,3 và cao nhất 13 (khoảng 10 triệu đồng).

Tổng Bí thư và Chủ tịch nước có hệ số cao nhất (13).

"Tình trạng tham nhũng diễn ra phổ biến trầm trọng… Công chức chỉ xem hoạt động công vụ là phương tiện tăng thu nhập", TS Dương Quang Tung, nguyên Viện phó Viện Khoa học quản lý Nhà nước nói.

Ông Tung cũng "bắt bệnh" công chức ăn bớt thời gian làm việc. Cơ quan Nhà nước chỉ thu hút được những người năng lực yếu kém không thể tìm được việc ở khu vực tư. Nhiều người vào Nhà nước chỉ để mưu cầu lợi ích riêng "có điều kiện tham nhũng hoặc tiến thân theo con đường quan chức với động cơ không đúng đắn"…

Theo ông Tung, lương nói ra tuy có vẻ thấp so với nhu cầu thiết yếu nhưng lại không thấp nếu so với kết quả, hiệu quả lao động thực tế. Hiện, đa số công chức làm việc chưa tốt, thậm chí nhiều người còn gây rắc rối, phiền toái cho nền công vụ. Vì vậy, không thể tiếp tục tăng tiền lương cho cả những người làm việc kém hiện đang chiếm đa số.

Không thể tăng ngân sách vô hạn để chi cho tiền lương mà cần phải giảm mạnh số người hưởng lương từ ngân sách.

Tuy vậy, nhiều cuộc cải cách tiền lương vừa qua chưa được làm triệt để và "bắt" trúng cội rễ vấn đề.

Người quyết định lại… không sống bằng lương

Nhiều sáng kiến đã được đưa ra tại diễn đàn, chẳng hạn trả lương theo vị trí công việc chứ không nên trả theo đầu người, Nhà nước không nên làm thay việc của thị trường và xã hội dân sự. Hoặc, triệt để tiền tệ hóa mức lương (TS Trần Thu Hà). Rồi, đột phá cải cách tiền lương phải song song với đột phá ngoài lương (TS Đặng Đức Đạm)…

Không ít chuyên gia cơ cấu lại ngay đội ngũ công chức, tách khu vực sự nghiệp và những người làm việc trong các cơ quan Đảng, hội, đoàn thể. Lại có chuyên gia cho rằng, tổng đầu tư cho phát triển ở nước ta chiếm tới 42%, nên giảm bớt đi để dành chi cho tiền lương. Muốn có tiền tăng lương, việc cần làm ngay là cơ cấu lại chi tiêu công.

TS Bùi Thế Vĩnh tha thiết muốn thay đổi tư duy từ tính mức lương tối thiểu sang mức lương trung bình, đơn giản hóa thang bậc lương. Nhà nước không nên tiếp tục bao cấp, ôm đồm, thậm chí giảm 30 – 50% phần việc hiện nay; tách tiền lương khỏi bảo hiểm xã hội…

Đưa ra sáng kiến rồi, nhưng tựu trung lại, các chuyên gia đều chỉ mong điều cốt tử vẫn phải là "quyết tâm chính trị của các cấp cao nhất, của những cá nhân có trọng trách". Giải pháp đúng nhất cho mọi quyết sách lại là "tạo áp lực dư luận xã hội".

Nói như Viện trưởng Viện Kinh tế Trần Đình Thiên, "những người có quyền quyết định cải cách triệt để chế độ tiền lương thì lại không sống bằng lương. Nên mới chỉ có những đợt cải tiến tiền lương chứ chưa có những cải cách thiết thân, sát sườn".

Một khảo sát của ĐH Kinh tế Quốc dân từng chỉ ra, có vị chức sắc ghi tên trong 90 đầu việc khác nhau, việc nào cũng được trả tiền.

Nguyên Phó ban nghiên cứu của Thủ tướng Đặng Đức Đạm dẫn tích xưa trong Tam quốc: "Gia Cát Lượng có lần nói với Lưu Bị: "Chúa thượng có gan đến đâu thì Lượng này có mưu đến đấy"".

Ông Đạm kết lại, "lãnh đạo quyết tâm chính trị đến đâu thì anh em chuyên môn chúng tôi quyết tâm và tham gia tư vấn đến đấy".

Cả nước có 1,6 triệu viên chức sự nghiệp. 370 nghìn công chức hành chính cơ quan Đảng, đoàn thể Trung ương đến cấp huyện. 300 nghìn cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách và công chức cấp xã. Hưu trí 1,4 triệu người. Người có công 1,6 triệu.

Hàng năm, ngân sách chi khoảng 200.000 tỷ đồng trả tiền lương.

Lương tối thiểu ở VN thấp hơn các nước trên thế giới 40%.

L. N.

Nguồn: Vietnamnet


http://boxitvn.wordpress.com/2010/09/14/ng%c6%b0%e1%bb%9di-quy%e1%ba%bft-c%e1%ba%a3i-cch-l%e1%ba%a1i-khng-s%e1%bb%91ng-b%e1%ba%b1ng-l%c6%b0%c6%a1ng/


Nước Việt của ai?

Lê Phú Khải

image Sẽ có người phẫn nộ muốn mắng ngay vào mặt kẻ viết bài này khi đặt một vấn đề như thế! Nhưng xin quý vị hãy bình tĩnh để cho tôi "được mở mồm" (chữ dùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dân chủ là để cho dân được mở mồm").

Xin thưa: trong suốt chiều dài lịch sử, khi đất nước bị ngoại bang xâm lược, những kẻ cầm quyền đất nước đồng lòng với nhân dân đánh giặc giữ nước thì người Việt Nam là những thiên thần của lòng yêu nước. Lịch sử đã chứng minh điều này bằng những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ… Nước Việt chúng ta ở ngay bên cạnh kẻ xâm lăng thường trực 4000 năm, còn được đến hôm nay là nhờ xương máu của những người yêu nước đó.

Nhưng khi giặc xâm lăng đã cút rồi thì với chủ thuyết Khổng giáo, nước là của vua, yêu nước là phải trung với vua (trung quân ái quốc) – dân ta cứ hồn nhiên nhiễm phải tà giáo này suốt chiều dài lịch sử. Tất nhiên vua chúa thì minh quân rất hiếm, đa số là hôn quân bạo chúa, có ông vua là thằng bé con mồm còn hơi sữa, mẹ nó buông mành nhiếp chính đằng sau, làm bao điều hại nước hại dân, thế thì nhân dân đâu có thể yêu cái nước của vua ấy được. Nhân dân phải đi tìm một con đường yêu nước kiểu khác cho mình. Kẻ sĩ có liêm sỉ thì đi ở ẩn! Còn dân thì "quan có cần nhưng dân không vội, quan có vội quan lội quan sang!".

Nhà nước với nhân dân hiện thân trong câu ca dao như thế nên nước yếu! Nước yếu thì giặc ngoại xâm lại tới! "Giặc đến nhà đàn bà phải đánh"! Đó là lỗi tại vua chúa, vì chức năng của đàn bà là sinh con đẻ cái, không phải để đánh giặc! Giặc đã đến nhà rồi thì còn gì nữa, nó đốt phá giết chóc, cướp bóc tha hồ! Nếu nước mạnh thì phải đánh giặc khi nó mới lấp ló ở biên cương kia!

Đọc những câu ngạn ngữ như thế, chúng ta thấy thương người phụ nữ Việt Nam quá! Thấy đau cho dân tộc Việt Nam quá! Thấy bà mẹ Việt Nam trong lịch sử ngàn đời của đất nước vĩ đại quá, vừa làm lụng, vừa nuôi con và đánh giặc. Còn có phụ nữ nào trên trái đất này gian truân như các bà mẹ Việt Nam .

Trong dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, một vị tướng ở Hà Nội đã nói với người viết bài này rằng: Không phải chỉ có Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện… là anh hùng, mà tất cả các chiến sĩ Điện Biên Phủ đều là anh hùng, vì họ đã xung trận mà không tiếc xương máu!

Nhưng sau trận đánh "không tiếc xương máu" đó, là đấu tranh giai cấp, là cải cách ruộng đất, là cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, là đấu tố Nhân văn Giai phẩm… từ đó đất nước là của Đảng, của Chủ nghĩa Xã hội. Cái CNXH phải xếp hàng cả ngày ấy, bắt nhân dân "Yêu nước là yêu CNXH" thì nhân dân lảng tránh!

Ngày xưa vua chúa dạy dân "Trung quân ái quốc". Vua ở trên nước. Nay khẩu hiệu của Cụ Hồ: "Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân" người ta đổi là: "Trung với Đảng, hiếu với dân", thì dân hiểu ngay nước bây giờ là của Đảng! Cơ quan công an còn trưng khẩu hiệu "Công an nhân dân chỉ biết còn Đảng còn mình" thì sự trắng trợn đã lên đến tột đỉnh! Đảng đã thành vua, dân là đầy tớ cho Đảng! Đất nước lại suy vi! Sau năm 1975, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi! Đất nước đứng bên bờ vực thẳm. Công cuộc đổi mới, mở cửa để Đảng tự cứu lấy mình đó, mở đầu bằng cải cách kinh tế. Đất nước như người bệnh được hồi sức. Nhưng kinh tế thị trường định hướng XHCN đã dẫn đất nước đến tình trạng tiền maphia. Đất nước không còn là của nhân dân nữa. Đất nước bây giờ là của các nhóm lợi ích, của Tập đoàn Than và Khoáng sản để dẫn người Tàu vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, của Tập đoàn Vinashin ném hàng núi tiền của dân xuống biển, của dự án đường sắt cao tốc toan bắt dân khoác lấy cả một hàng núi nợ nần… Trong lúc các bệnh viện hai, ba cháu thiếu nhi phải nằm một giường, các bà mẹ phải nằm dưới đất mà ông Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khoa tay, lớn tiếng trên diễn đàn Quốc hội rằng: "Không thể không làm đường sắt cao tốc" thì nhân dân biết rõ, đất nước này không phải là của mình nữa rồi. Vì thế, mạnh ai người ấy sống, mọi chính sách của Nhà nước họ bỏ ngoài tai. Vì thế người người trốn thuế, nhà nhà trốn thuế. Đến nỗi nhà xã hội học Nguyễn Trần Bạt phải đau xót thốt lên rằng, trốn thuế là "sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam!". Ở các nước văn minh, trốn thuế là một tội rất lớn, cầm chắc ra tòa và ngồi tù. Ở nước ta, lần đầu tiên có một người phải ra tòa vì tội trốn thuế là anh Điếu Cày! Khi xử anh, công an gác bốn bề, khiến nhiều người rất ngạc nhiên! Vì tội chính của anh là "tội" biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa! Vì tội chính của anh là "tội" yêu nước Việt Nam của mình! Lịch sử Việt Nam bây giờ lại có "tội danh yêu nước"!

Năm 2001, tôi có hỏi một thanh niên Pháp ở Paris rằng, vì sao một năm nay anh không về quê thăm bố mẹ? Anh ta trả lời rất tự tin: Tôi mải làm ăn, và tôi đóng thuế rất đầy đủ cho Chính phủ, như thế là tôi có hiếu với cha mẹ tôi, tôi đã làm đầy đủ bổn phận của một người con!

Ở các nước dân chủ, người ta biết rằng, tiền thuế của mình đóng cho nhà nước thì quỹ phúc lợi xã hội sẽ chăm sóc người già yếu bệnh tật, chăm sóc cho chính gia đình, cho bố mẹ họ, nên họ không trốn thuế. Ở các nước đó, đóng thuế là biểu hiện rõ rệt nhất của lòng yêu nước.

Vậy dân ta trốn thuế thì phải nghĩ thế nào đây? Ai làm nên nông nỗi này với một dân tộc đã chiến thắng ở Điện Biên Phủ mở đường cho các dân tộc nô lệ vùng lên, chấm dứt một thời đại các dân tộc nhược tiểu còn bị nô dịch ở cuối thế kỷ XX. Đau xót quá! Chính vì biết rõ đất nước không phải của mình nên nhân dân lao động lầm lũi đi tìm con đường sống cho mình ở khắp nơi, kể cả đi lấy chồng, đi làm ô-sin ở ngoại quốc. Chỉ vì biết đất nước không phải của mình nên một số người tìm cách luồn lách, tìm một chỗ yên thân, thậm chí đi định cư ở nước ngoài. Nhưng khi "mất nước trong lòng", khi nền "độc lập chẳng còn ý nghĩa gì" (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nước độc lập mà dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì!") thì hạnh phúc của người Việt Nam không bao giờ trọn vẹn, nếu không muốn nói là bi kịch truyền kiếp! Tôi có một anh bạn, có con định cư và nhập quốc tịch nước sở tại. Anh tâm sự với tôi: "Con tôi làm công cho một công ty nước ngoài, phải nhập quốc tịch nước đó để đi lại khắp nơi cho dễ, thế thôi. Chứ nó buồn lắm, và rất muốn về làm ăn tại quê nhà. Tôi cũng mong nó về lắm, và tôi chắc thế nào nó cũng đưa vợ con về nước." Tôi có một ông bạn vong niên rất thân là nhà báo lão thành Trần Minh Tân ở báo Nhân dân. Ông quê ở Hải Dương, đậu Tú tài toàn phần trước 1945. Ông chỉ có một thằng con trai định cư ở Úc. Vì thế ông đã quyết định dọn cả bàn thờ tổ tiên sang Úc. Rồi vợ ông cũng sang Úc đoàn tụ, ông quyết chết ở bên đó. Nhưng rồi ông lại về nước sống một mình tại Hà Nội. Tôi đến thăm ông, tự tay ông lọ mọ nấu ăn. Lúc ngồi vào mâm cơm dọn ở đầu hè, ông vừa so đũa vừa kể: "Tao đã định chết ở bên đó. Nhưng một hôm tao đang ngồi trong vườn biệt thự của thằng con, bỗng dưng một đàn bồ câu ở đâu sà xuống sân kiếm ăn. Nhìn đàn chim kiếm ăn trong sân tao nhớ nhà quá, nhớ nước quá, thế là đành bỏ vợ con lại, về nước." Hớp một hớp rượu, rồi mắt ông bỗng rưng rưng, tay vỗ xuống chiếu than với tôi: "Mình không phải là Cụ Hồ mà cũng yêu nước, nên mới khổ thế này!". Tôi chưa bao giờ thấy ai than thân trách phận một cách xót xa mà lại humour đến thế! Cụ Hồ mà nghe được câu than này, chắc Cụ cũng ngậm cười nơi chín suối!

Ít lâu sau ông lại vô TP HCM thăm cô con gái đầu lòng, rồi đến chào từ biệt vợ chồng tôi để lại sang Úc với thằng con trai. Ông nói: "Vĩnh biệt vợ chồng cậu, mình đành gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người vậy thôi!". Nói rồi ông già rưng rưng nước mắt.

Bẵng đi một thời gian tôi không có tin tức gì về ông. Tháng Tư vừa rồi, tôi đang ngủ gật trong phòng đợi tại sân bay Nội Bài để về TP HCM, bỗng có một bàn tay vỗ nhẹ vào bụng tôi. Mở mắt ra thì là anh Tạ Quang Ngọc, con trai cụ Tạ Quang Đạm ở báo Nhân dân. Cụ Đạm xưa kia là bạn thân với bác Minh Tân, cũng là bạn vong niên với tôi. Anh Ngọc kéo tôi vào phòng VIP uống trà rồi nói: "Đã biết tin ông Minh Tân mất chưa?". Tôi sửng sốt: "Mất ở bên Úc à?!". Anh Ngọc kể: Lúc lâm chung, cụ Tân nhất định đòi về chết tại Việt Nam. Cụ bảo con trai: "Ở bên này chúng nó đều nói tiếng Anh, tao chết xuống âm phủ không ai nói tiếng Việt với tao cả, buồn lắm, cho tao về quê chết, để còn được trò chuyện với bạn bè!". Thằng con thương bố nên đã đem cụ về Việt Nam để chết! Nghe đến đây tôi bỗng nhớ đến câu chuyện trong lịch sử nước nhà. Lê Chiêu Thống là một tên vua bán nước, theo quân xâm lược chạy về bên Tàu. Nhưng trước lúc chết còn dặn gia nhân rằng, khi nào có điều kiện thì bốc hài cốt của ông về đất Việt. Riêng chi tiết này, người đời sau có thể ngậm ngùi cho ông vua lỡ bước!

Thì ra lòng yêu nước của thần dân nước Việt chúng ta nó nhiều cung bậc, nhiều gam màu đến như thế. Nó sâu thẳm vô bờ! Đất nước ta hiện nay lại đang đứng trước nạn ngoại xâm biển đảo, nạn thâm nhập đất liền, mà nhân dân lại thấy đất nước càng ngày càng không phải là của mình thì hiểm nguy cho dân tộc khôn lường!

Chỉ có con đường dân chủ hóa đất nước, nhân dân hiểu đất nước là của mình, tiền đóng thuế của dân không phải để rót vào con thuyền không bến Vinashin, không phải để làm đường sắt cao tốc cho ông Nguyễn Sinh Hùng và phe nhóm ông, không phải để mở rộng Thủ đô một cách vô lý và láo xược… thì nhân dân và nhà cầm quyền mới thành một khối, lòng yêu nước của nhân dân sẽ thăng hoa trở lại và không một kẻ thù nào có thể "đến nhà" chúng ta được. Người Việt chỉ biết có nước Việt Nam dân chủ cộng hòa của Cụ Hồ năm 1945. Cái XHCN làm cho dân xa nước, nước không phải của dân, nước của một chủ nghĩa đã bị nhân loại ruồng bỏ, ném vào sọt rác lịch sử thì bỏ hẳn nó đi, đừng gắn nó vào hai chữ Việt Nam thiêng liêng của dân tộc nữa, chỉ làm cho nhân dân thêm đau buồn và phẫn nộ, chỉ làm cho thế giới người ta cười cho. Đến nước Tàu cũng đâu có gắn XHCN vào tên nước. Nước người ta là Cộng hòa nhân dân Trung Hoa kia mà! Hồn thiêng sông núi bốn nghìn năm sẽ phù hộ cho dân tộc ta trên mỗi bước đường để vượt qua cơn hiểm nghèo này. Việt Nam dân chủ sẽ tồn tại và hùng cường! Tôi tin là tuyệt đại đa số nhân dân và đảng viên cộng sản Việt Nam đều khát vọng như thế. Đó là điều nhiều đêm tôi không ngủ để suy nghĩ về đất nước tươi đẹp và đau khổ của mình./.

TP HCM 9/2010

L.P.K.

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Bài do tác giả gửi trực tiếp cho BVN

http://boxitvn.wordpress.com/2010/09/14/n%c6%b0%e1%bb%9bc-vi%e1%bb%87t-c%e1%bb%a7a-ai/


Nước còn nhục bởi sĩ phu chỉ biết cúi mình

Hà Đình Sơn

image Nhân dịp sinh nhật thượng thọ của một sĩ phu nọ ở đất Bắc Hà được "vua" ban vải đào, lại nghĩ về cái liêm sỉ của kẻ sĩ phu. Tấm vải đào thêu chữ "Biết khôn chọn chủ khi nước loạn. Biết ngoan ngậm miệng khi nước bình".

Thiết tưởng xưa nay, chỉ sĩ phu là kẻ tặng chữ để nhắc đời, khuyên người và vua thì thường "ít chữ". Nay sự ngược đời, sĩ phu thì "ngậm miệng" nên vua lại truyền chỉ cái "đạo sống" cho sĩ phu. Đúng là vua ta "văn, võ song toàn", chỉ có hèn kém là đám sĩ phu vô dụng.

Nước vinh hay nhục chẳng phải là do tài nguyên nhiều, ít hay địa lý, khí hậu mà do văn hóa nước nhà. Cái văn hóa làm cho nước vinh hay nước nhục thì nhìn vào đám kẻ sĩ là biết ngay một phần của cái văn hóa ấy. Cái văn hóa mà kẻ sĩ có dám nói nên sự thật không, hay hèn hạ, chỉ biết cúi mình để được gặm khúc xương.

Bản thân học vị, học hàm tiến sĩ, giáo sư, viện sĩ … không giúp ích gì cho đời. Kẻ sĩ phải là tai, là mắt, là trí trong xã hội mới xứng danh kẻ sĩ. Kẻ sĩ với hiểu biết của mình phải nói cho dân biết, phải thuyết phục, can gián vua về sự tình của đất nước, nếu vua không nghe thì dám từ quan mà về với dân, về với nước. Trong lịch sử Việt Nam không thiếu gương các sĩ phu đã không quản ngại hy sinh dám xả thân vì nhân dân, vì đất nước.

Kẻ vô liêm sỉ là bởi ngu dốt, do bất lương, hoặc cả hai mà ra. Những việc liên quan đến sự tình đất nước thì giới sĩ phu phải biết, phải có trách nhiệm lên tiếng. Do vậy, hành vi vô liêm sỉ của kẻ sĩ là cố ý và bất lương. Nếu văn hóa kẻ sĩ của nước nhà chỉ biết học để được làm quan, học để phục vụ vua bất cần vua đấy là ai kể cả loại hôn quân, bạo chúa.

Đất nước đầy dẫy bất công, để cho nước ngoài khai thác bauxit, tài nguyên hủy hoại môi trường; rừng, biển nơi trọng yếu thì cho nước ngoài thuê đe dọa đến an ninh – quốc phòng, lãnh thổ bị chiếm đoạt, tệ nạn văn hóa, giáo dục, y tế tràn lan, con người bị khinh rẻ, ngư dân bị cướp, giết… ấy thế mà kẻ sĩ vẫn cứ "ngậm miệng" làm thinh, "nhắm mắt" trước bất công, đau khổ của nhân dân. Nhưng đến ngày lễ lạt, sinh nhật…, vẫn hớn hở đón nhận hết thưởng ban này, đến các vinh danh phù phiếm khác, coi như đất nước, xã hội không có chuyện gì đáng nói, đáng bàn.

Phải chăng nước còn nhục bởi kẻ sĩ nước nhà chỉ biết cúi mình để hưởng lợi, mà không nghĩ đến phận dân, vận nước.

Hà Nội, ngày 13/9/2010

H. Đ. S.


Nỗi ưu tư của một người dân

Hồ Vui

image Tôi là công dân Việt Nam, đang sống trên đất nước của mình, là một người trong số 95% dân số Việt Nam "không có gì …", không có kể cả quyền nói ra ý nghĩ và tư tưởng của mình.

Tôi đã đi gần hết cuộc đời mình, không tham gia đảng phái nào, không tranh giành quyền lợi, danh vọng với ai. Tôi chỉ là một công dân bình thường, như người ta thường gọi: "công dân hạng hai".

Tôi đã là bô lão, nên nếu có Hội nghị Diên Hồng ngày nay thì tôi đủ điều kiện tham dự. Nhưng có lẽ sẽ không có đâu.

Dân tộc Việt Nam ngày nay gồm 95% dân số dường như bị bỏ quên, 5% dân số có đặc quyền, đặc lợi – đang tranh giành quyền lợi phe nhóm với nhau, chống đỡ bảo vệ cho nhau, tổ chức lễ lạc hội hè, phô trương hoành tráng, theo dõi 95% nhân dân còn lại… 

5% dân số nắm quyền lực, quân đội, nhưng không thể chống xâm lăng (!!!) cho nên càng lúc Việt Nam ta càng co cụm, bất lực, bịt tai, bịt mồm, nhắm mắt đưa chân trước âm mưu thôn tính (cố hữu cả nhiều ngàn năm) của nước láng giềng, phương lạ.

Còn bao lâu nữa thì đất nước ta "không có gì"?

Câu trả lời theo tôi là không lâu đâu!!!

Vì nước lạ đã ăn sâu, bám rễ chắc chắn trong quyền lợi phe nhóm và cả tư tưởng của lãnh đạo ta rồi. Không một ai dám bảo vệ nhân dân ta, khi người dân bị kẻ lạ bắn ngay trên lãnh hải của ta; chiến sỹ Hải quân ta bảo vệ chủ quyền biển đảo bị kẻ lạ bắn như tử tù, rồi tung lên mạng cho mọi người xem, mà báo chí truyền thông của ta không hề nói gì! Các lãnh đạo thân yêu và đáng kính của chúng ta có ai xem những đoạn phim đó không?!!!

Rồi những chuyện buồn ở biên giới phía Bắc, Tây Nguyên…

Lãnh đạo ta biết rõ hơn ai hết, nhưng không dám nhắc đến, và cũng không cho ai nhắc đến cả. Vì dù lãnh đạo không nói, nhưng nếu nhân dân nói thì lãnh đạo cũng có lỗi với nước lạ!

Và cũng vì vậy, lãnh đạo ta ai cũng phải thuộc lòng bài học 16 chữ vàng và 4 tốt do nước lạ ban cho và luôn bị khảo bài khi gặp người nước lạ, dù người nước lạ chỉ là chức nhỏ teo!

Tôi là người dân. Lãnh đạo nói gì, làm gì là quyền của cá nhân họ – vì tôi có được bầu ra họ đâu! Nhưng họ đem dân tộc Việt Nam lồng ghép vào đó thì tôi không đồng ý.

Nếu vì sự tồn vong của dân tộc, tôi sẽ theo họ, cống hiến chút lực tận này; nhưng nếu vì quyền lợi phe cánh, cá nhân, bè đảng… thì… tùy họ. Nhưng xin hãy để dân Việt chúng tôi còn chút tự hào dân tộc bất khuất 4000 năm!

Những điều chúng tôi muốn là: Hãy đoàn kết dân tộc, tạo nội lực toàn dân, từ đó từng bước ngoại giao khôn khéo, dần lấy lại vị thế bình đẳng cùng có lợi với lân bang. Trong thời điểm ê chề này, không quyết tâm làm thì e rằng quá trễ.

Bác Hồ có dạy rằng: "Dễ trăm lần, không dân cũng chịu. Khó trăm điều dân liệu cũng xong"…

Quý vị lãnh đạo không bao giờ muốn biết sự thật là: còn rất nhiều người dân không có tiền chữa bệnh đành chịu chết trong đau đớn tận cùng. Quý vị có biết người dân ước mong sống trong chế độ có nhà thương "thí" – chữa bệnh không tốn tiền; muốn có trường "nhà nước" – nơi học sinh không phải đóng các loại học phí mà người dân không kham nổi, đành đau đớn cho con thôi học? Quý vị có thể nói đây là thời kỳ quá độ lên… cái chưa từng ai thấy, nên dân phải chịu khó. Quí vị cũng có thể nghĩ đấy chỉ là những trường hợp cá biệt. Quý vị chắc không có thì giờ để xem các chương trình chiếu đầy trên ti vi: căn nhà mơ ước, những mảnh đời bất hạnh, vòng tay nhân ái…, nhưng những việc cướp đất, dân oan, nhạy cảm… thì hệ thống truyền thông không được phép loan tải, tuy nó sờ sờ đó ai cũng thấy. Nhân dân chúng tôi thấy xấu hổ giùm quý vị!

Chúng tôi biết trong số quý vị còn nhiều người "có tâm, có tầm" nhưng cơ chế không cho quý vị có cơ hội đưa ra quyết sách làm ích nước lợi dân. Vậy ai đã tạo ra khuôn mẫu cơ chế đó?

Từng tuổi này, tôi đã phải cố gắng lắm để tập đánh vi tính, vì đây là phương tiện duy nhất có thể gửi đến quý vị những ý nghĩ của người dân hạng hai chúng tôi!

Tôi đã từng muốn nói, nhưng rồi lại thôi, vì sợ, vì hèn và cả vì ngu dốt nữa.

Nhưng bây giờ tôi đã nói lên được điều mình muốn nói, mong góp phần nhỏ nhoi của tôi cho tổ quốc. Nếu ai cũng im lặng cả, thì ai nói?! Không nói lúc này, thì đến bao giờ???

Bây giờ, điều khó khăn mới là tôi chưa biết cách nào gửi thư này đi đến quý vị!

Nhưng tôi sẽ cố gắng làm được điều này!

Trân trọng kính chào!

Một người dân Sài Gòn

H. V.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

http://boxitvn.wordpress.com/2010/09/15/n%e1%bb%97i-%c6%b0u-t%c6%b0-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-ng%c6%b0%e1%bb%9di-dn/


05 tháng 9 2010

“Đấu thầu” với Trung Quốc: Thua ngay trên sân nhà, nguyên nhân và hậu quả

Dương Danh Dy

image

Dự án Bô xít ở Đăk Nông hiện tại cũng do nhà thầu Trung Quốc làm

"Xin nêu một ví dụ đau lòng: trong lúc cả nước căng thẳng vì thiếu điện trong một thời gian dài, vì sao "người ta" lại phớt lờ sự chậm trễ vận hành của mấy nhà máy điện trọng điểm do Trung Quốc nhận thầu như Nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 (chậm hơn 20 tháng) và nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1 (từ khi hòa lưới đến nay đã 14 tháng mà tổ máy 1 chỉ hoạt động được chừng 2 tháng). Những "Ai" đã làm ngơ chuyện tày trời đó? Vì sao người ta lại tê liệt cảnh giác một cách dây chuyền đến như vậy? Hỏi chủ đầu tư chưa đủ mà còn phải hỏi mấy ông Bộ trưởng chủ quản và Bộ có liên quan (không giấu gì các bạn, tôi vẫn nhớ nét mặt huênh hoang, nhưng thực ra là ngu xuẩn của một vị Bộ trưởng khi ông này vung tay nói lớn tại một cuộc họp cách đây đã vài năm: hễ ai bỏ giá thầu rẻ là ta chơi!), thậm chí tới cả ông Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực. Ngoài ra một người đứng đầu Chính phủ nghiêm minh cũng không thể lấy lý do vì bận thăm các tỉnh Trung Quốc quá nhiều (nếu tôi nhớ không nhầm trong khoảng 3 năm đã thăm tới 6,7 tỉnh, thành phố Trung Quốc trong đó có vài ba nơi thăm đi thăm lại tới mấy lần) để không để mắt tới các chuyện trên, những chuyện liên quan đến vận nước!"

"Một điều dường như phi lý nữa là trong hơn 20 năm qua, FDI của Trung Quốc chỉ chiếm 1,5% tổng vốn FDI đổ vào nước ta, nhưng nếu là tổng thầu EPC thì có tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… của Việt Nam đều do Trung Quốc đảm nhiệm. Trung Quốc không mặn mà với FDI mà chỉ muốn thắng thầu! Người ta không thể không truy hỏi trách nhiệm của mấy ông chủ đầu tư lớn của Việt Nam như Tập đoàn Than-Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực, Tổng Công ty Thép, Tổng Công ty Hóa chất… và cấp trên của họ. Các nhà thầu Trung Quốc có thế mạnh gì thế nhỉ? Không giúp tiền, không giúp kỹ thuật… chỉ là một "anh làm thuê"! Sao họ có thể "khống chế" dây dưa với chủ? Muốn làm gì thì làm? Phải chăng tay "nhiều ai đó" phía chúng ta đã nhúng chàm? Và nhúng chàm rất sâu rồi?"

Dương Danh Dy

Tôi đã chăm chú theo dõi một loạt bài viết và phỏng vấn của nữ phóng viên năng nổ Vietnamnet Phạm Huyền cũng như bài viết của một số nhà khoa học, quản lý và nhà báo khác trên mấy tờ Thanh niên, Tuổi trẻ liên quan đến vấn đề Trung Quốc luôn thắng trong các cuộc đấu thầu tại hầu hết các loại công trình xây dựng ở Việt Nam. Những lý giải nguyên nhân bên ngoài như: vì họ bỏ giá rẻ, vì sao họ lại bỏ giá rẻ đến thế, vì ta đã gia nhập WTO… và những nguyên nhân bên trong như: gặp khó từ chính "ông thuế" và luật đấu thầu hiện hành và chủ đầu tư của ta… đã được phân tích sâu sắc kèm theo những dẫn chứng thuyết phục, mà tôi xin phép không đưa lại.

Tôi hoàn toàn tán thành những ý kiến đã nêu, tuy vậy, dù là người ngoài ngành nhưng từ thâm tâm, tôi vẫn cảm thấy, nếu chỉ dừng lại ở các phân tích đánh giá đó, chúng ta khó có thể sửa, và sớm loại bỏ được những nguy hại trước mắt cũng như những tiềm ẩn, hậu hoạn lâu dài.

Trước hết cần phải thấy sự thực mà ai cũng biết: xin đừng đổ lỗi cho người mà hãy nhìn thẳng vào ta. Nếu chủ đầu tư Việt Nam quy định chặt chẽ chủng loại chất lượng máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… và có sự kiểm soát chặt chẽ thì nhà thầu Trung Quốc làm sao bỏ thầu thấp được. Mà việc này hoàn toàn nằm trong tầm tay của ta. Một nguyên nhân quan trọng, đúng như tác giả Mai Anh đã viết: "Đằng sau những câu chuyện trúng thầu của Trung Quốc, tại sao trước sau một cuộc đấu thấu thầu, các đoàn "tham quan học hỏi" của chủ đầu tư nước ta lại ra vào liên tục nước họ đến thế?" Tôi muốn bổ sung, vì tế nhị, vì ngại phiền phức, thậm chí vì trăm thứ bà giằn nữa nên bạn Mai Anh và một số bạn khác chỉ khéo léo nói thế thôi, chứ theo tôi nhiều cuộc thắng thầu của Trung Quốc là do có sự "bôi trơn" tới hầu hết các cấp có thẩm quyền của ta bằng những hình thức vô cùng tinh vi, không lộ liễu, rất khó vạch mặt chỉ tên nhưng lại rất thực huệ, khiến ai đã dính vào đều sướng, đều khó rứt ra (Tôi biết rất rõ những phi vụ làm ăn của mấy tỉnh Trung Quốc trong việc "chuyển giao hữu nghị" một số xi mămg lò đứng sang Việt Nam trước đây). Và khi các ông chủ lớn và cấp trên của ông chủ lớn đã gật đầu, một số hạ thuộc "dây máu ăn phần" tội gì mà "phát hiện" vấn đề, tội gì mà mà "có ý kiến phản bác"…, và những người trung thực chỉ đành im hơi lặng tiếng. Thế là mọi việc êm ru. Xin nêu một ví dụ đau lòng: trong lúc cả nước căng thẳng vì thiếu điện trong một thời gian dài, vì sao "người ta" lại phớt lờ sự chậm trễ vận hành của mấy nhà máy điện trọng điểm do Trung Quốc nhận thầu như Nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 (chậm hơn 20 tháng) và nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1 (từ khi hòa lưới đến nay đã 14 tháng mà tổ máy 1 chỉ hoạt động được chừng 2 tháng). Những "Ai" đã làm ngơ chuyện tày trời đó? Vì sao người ta lại tê liệt cảnh giác một cách dây chuyền đến như vậy? Hỏi chủ đầu tư chưa đủ mà còn phải hỏi mấy ông Bộ trưởng chủ quản và Bộ có liên quan (không giấu gì các bạn, tôi vẫn nhớ nét mặt huênh hoang, nhưng thực ra là ngu xuẩn của một vị Bộ trưởng khi ông này vung tay nói lớn tại một cuộc họp cách đây đã vài năm: hễ ai bỏ giá thầu rẻ là ta chơi!), thậm chí tới cả ông Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực. Ngoài ra một người đứng đầu Chính phủ nghiêm minh cũng không thể lấy lý do vì bận thăm các tỉnh Trung Quốc quá nhiều (nếu tôi nhớ không nhầm trong khoảng 3 năm đã thăm tới 6,7 tỉnh, thành phố Trung Quốc trong đó có vài ba nơi thăm đi thăm lại tới mấy lần) để không để mắt tới các chuyện trên, những chuyện liên quan đến vận nước!

Qua các bài viết gần đây, còn được biết thêm, người ta đang tràn ngập lãnh thổ chúng ta. Thử hỏi hiện nay có tỉnh nào trên nước ta là không có hình bóng người của bọn họ không? Từ Móng Cái đến mũi Cà Mau, từ núi rừng Cao Bằng, Hà Giang… cho đến vùng Tây Nguyên chiến lược, vùng đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu…, ở đâu cũng thấy. Có bạn đọc bảo tôi, ở Lâm Đồng mới có 922 người của họ thôi mà. Trước câu nói ngây thơ đó tôi buộc phải hỏi lại: đúng là phần đông người của bọn họ chỉ chú ý làm ăn nhưng xin hỏi, nếu chỉ có 1 phần trăm, thậm chí 5 phần ngàn số đó là dân địch tình chiến lược thì chúng ta sẽ ra sao? Họa mất nước có đâu xa!

Một điều dường như phi lý nữa là trong hơn 20 năm qua, FDI của Trung Quốc chỉ chiếm 1,5% tổng vốn FDI đổ vào nước ta, nhưng nếu là tổng thầu EPC thì có tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… của Việt Nam đều do Trung Quốc đảm nhiệm. Trung Quốc không mặn mà với FDI mà chỉ muốn thắng thầu! Người ta không thể không truy hỏi trách nhiệm của mấy ông chủ đầu tư lớn của Việt Nam như Tập đoàn Than-Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực, Tổng Công ty Thép, Tổng Công ty Hóa chất… và cấp trên của họ. Các nhà thầu Trung Quốc có thế mạnh gì thế nhỉ? Không giúp tiền, không giúp kỹ thuật… chỉ là một "anh làm thuê"! Sao họ có thể "khống chế" dây dưa với chủ? Muốn làm gì thì làm? Phải chăng tay "nhiều ai đó" phía chúng ta đã nhúng chàm? Và nhúng chàm rất sâu rồi?

Một điều khiến tôi rất đau lòng nữa là, vì sao sau khi Vietnamnet vừa nêu vấn đề, đã nhanh chóng được nhiều người hưởng ứng và những phân tích, đề xuất của họ rất đúng rất hay. Hóa ra số người biết và hiểu rõ vấn đề khá đông. Vì sao trước đây họ im lặng? Vì sao họ nói không ai nghe?

Mới thấy "mở rộng dân chủ" vẫn chỉ là câu cửa miệng và xem ra đối với một số nhân vật lãnh đạo, "sống và làm việc theo gương Bác" là một việc dễ làm quá!

Tôi buồn (cái buồn của kẻ thất phu) vì mấy lý do trên, nhưng tôi vui, rất vui vì nhân dân đã dần thức tỉnh qua sự kiện còn đang nóng bỏng này.

Nhân dịp 65 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh

DDD

Ghi chú: Tất cả các số liệu và một số ý dùng trong bài viết đã được lấy từ các bài viết sau:

- Trung Quốc thắng 90% công trình thượng nguồn ở Việt Nam, (bức tranh tổng thể về hợp tác EPC với Trung Quốc)

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=872
- Trung Quốc thắng thầu, nhớ chuyện chiếc xe máy (theo phản hồi của bạn đọc)

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=899

- Ra rìa đói việc khi TQ thắng thầu, hôm 5/8 (phỏng vấn ông Nguyễn Văn Thụ, chủ tịch HH cơ khí Việt Nam)

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=909

- Không thể dĩ hòa vi quí với nhà thầu Trung Quốc: (bài viết của Phó Ban quản lý dự án Khí điện đạm Cà Mau)

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=928

- Đối sách nào cho bí kíp giá rẻ của Trung Quốc? (Cuộc họp của Bộ Công Thương )

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=949

- Chuyện TQ thắng thầu: Góc khuất không nằm ở giá rẻ (theo phản hồi bạn đọc)
http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=977

- "Góc khuất" nào trong việc TQ thắng thầu? (Bài viết bóc tách trần trụi những mánh khóe để trúng thầu của một kỹ sư hơn 20năm trong ngành điện)
http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=988

- "Khốn khổ vì chạy theo tiến độ kiểu nhà thầu Trung Quốc" (Hiện trạng tồi tệ của một số dự án do Trung Quốc làm EPC)

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=999

- "Dở nhất của nhà thầu Trung Quốc là thiết bị kém". (phỏng vấn ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ Năng lượng, Bộ Công Thương)

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=1006

- Dự án Bauxit Lâm Đồng có 922 lao động Trung Quốc (báo cáo tình hình lao động của tổ hợp dự án Bauxit)

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=1014

- Khi chủ đầu tư chưa "tin" nhà thầu trong nước ( các TĐ chê bai nhà thầu VN kém) đăng hôm 19/8

http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=1052

- Ra điều kiện chặt về thiết bị khi Trung Quốc trúng thầu, ngày 24/8/2010

http://vnr500.vn/2010-08-24-ra-dieu-kien-chat-ve-thiet-bi-khi-trung-quoc-trung-thau-

- Biết người biết ta khi Trung Quốc trúng thầu

http://vnr500.vn/2010-08-26-biet-nguoi-biet-ta-khi-trung-quoc-trung-thau

*Xin chân thành gửi lời cám ơn nữ phóng viên VNnet Phạm Huyền

Bài do tác giả trực tiếp gửi cho BVN

http://boxitvn.wordpress.com/2010/09/04/d%e1%ba%a5u-th%e1%ba%a7u-v%e1%bb%9bi-trung-qu%e1%bb%91c-thua-ngay-trn-sn-nh-nguyn-nhn-v-h%e1%ba%adu-qu%e1%ba%a3/


03 tháng 9 2010

Vài suy nghĩ về Đảng ta và trách nhiệm của một triều đại nhân Quốc khánh 2/9 và Đại hội toàn quốc lần thứ 11 sắp tới của Đảng CSVN

Nguyễn Chính

image Kể từ khi ra đời đến nay, BVN chỉ tự nhận mình mang tư cách một tiếng nói phản biện nhiều mặt của người trí thức đối với các vấn đề quốc kế dân sinh cụ thể do Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi trên khắp ba miền đất nước. Mọi chủ trương đường lối cũng như việc thay đổi nhân sự của ĐCSVN không nằm trong mối quan tâm của chúng tôi. Tuy nhiên, bài viết này cốt điểm lại một số sự kiện đã diễn ra từ hơn 60 năm qua, dù tác giả cố gắng truy tìm nguyên nhân thành bại của chúng từ các chính sách của ĐCSVN trong từng giai đoạn lịch sử nhưng đối với đời sống dân tộc thì đấy vẫn là những sự kiện đã có ảnh hưởng hết sức quan trọng đến nhiều triệu con người, vì thế nói đến Đảng mà chính là tác giả nói đến DÂN và NƯỚC. Đó là lý do để chúng tôi trân trọng đăng bài này lên trang mạng BVN, tất nhiên, bản quyền và trách nhiệm trước sau vẫn thuộc về tác giả.

Bauxite Việt Nam


Cho đến nay, không biết trên thế giới có chính đảng cầm quyền nào, ngoài tên gọi cụ thể, lại còn có thêm danh xưng nữa là "Đảng ta"?

Ở nước mình, nếu tôi nhớ không nhầm thì hai tiếng "đảng ta" có lẽ bắt đầu phổ biến khi hai từ này trở thành điệp khúc trong bài thơ Ba mươi năm đời ta có đảng của Tố Hữu, nghĩa là vào năm 1960. Để biểu thị tấm lòng tận trung của mình với đảng cầm quyền, nhà thơ Tố Hữu lúc ấy vừa hoàn thành xong nhiệm vụ "vẻ vang" trấn áp "bọn" Nhân văn – Giai phẩm, đã có những câu chữ phải nói là độc nhất, vô nhị mà thơ ca cổ kim đông tây chưa từng có, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, thế này:

"Đảng ta đó trăm tay, nghìn mắt; Đảng ta đây xương sắt, da đồng". Rồi lại "Đảng ta Mác – Lênin vĩ đại". Và, lại tiếp "Đảng ta muôn triệu…", "Đảng ta muôn vạn…", vân vân và vân vân.

Thôi thì đã thành thói quen, thành câu cửa miệng rồi, nên người viết bài này cũng cứ theo cái khẩu khí ấy mà nêu một vài suy ngẫm về trách nhiệm của "Đảng ta" trước Tổ quốc, trước Nhân dân, trước lịch sử Dân tộc.

Từ ngày 2/9/1945, khi Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, chính thức bố cáo với thế giới, với nhân loại về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay đã hơn nửa thế kỷ. Nghĩa là gần trọn một kiếp người. Bản Tuyên ngôn ấy đánh dấu sự cáo chung của triều đại phong kiến đã đến hồi mục ruỗng thối nát và mở ra một triều đại khác: triều đại cộng sản kéo dài đến tận bây giờ, với nhiều đời Tổng Bí thư nối ngôi nhau trị vì đất nước.

Lẽ thường, không một triều đại nào, một nhân vật lịch sử nào thoát khỏi sự phán xét của đương đại và hậu thế. Triều đại cộng sản và những người ngồi trên "ngai vàng", tức trên những cái ghế cao nhất của Đảng ta, cũng không là ngoại lệ.

Về sự chính danh trong việc cướp chính quyền vào mùa Thu, tháng 8/1945, trên trang blog của mình, trong bài "Nhân ngày Quốc khánh 2/9, bàn chuyện chính danh", TS Phạm Duy Nghĩa đã nêu rõ: "Cách mạng tháng 8, đánh Pháp, đuổi Nhật, giành lại nền độc lập – người ta vẫn nói như thế nhân ngày Quốc khánh. Trên thực tế, vào tháng 8 năm 1945, Pháp đã mất Đông Dương, hàng vạn quan, lính Pháp đang bị Nhật cầm tù hoặc lẩn trốn nhục nhã ê chề. Vào tháng ấy, Nhật cũng đã bại trận, quân tướng mất tinh thần ủ rũ chờ ngày nộp vũ khí cho quân Đồng minh (Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân quốc). Việt minh trên thực tế cũng tránh đánh Nhật… Như vậy, Cách mạng tháng 8, về bản chất là một cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền trên danh nghĩa từ tay chế độ Bảo Đại – Trần Trọng Kim…".

Thì ra, Đảng ta đã "cướp chính quyền", đã khởi nguồn triều đại cộng sản của mình như thế. Tất nhiên, cái sự "chính danh" này sẽ còn được các nhà làm sử chân chính tiếp tục làm sáng tỏ.

Tiếp đến là cuộc cách mạng được coi là "kinh thiên, động địa" mang cái tên "cải cách ruộng đất". Cuộc cách mạng thực hiện theo lệnh của đàn anh quốc tế quái đản này – đã hủy hoại thuần phong mỹ tục tự ngàn đời, đẩy nhiều vùng nông thôn nước ta vào những tháng ngày khốn nạn nhất, đen tối nhất, chưa từng có trong lịch sử các triều đại phong kiến, đế quốc trước đó – đã được người đứng đầu Đảng ta là Cụ Hồ nhận trách nhiệm và lau nước mắt nhận lỗi với quốc dân đồng bào. Tưởng cũng khỏi cần nhắc lại.

Tiếp đến nữa là cuộc trấn áp "bọn" Nhân văn – Giai phẩm, khiến nhiều tài năng ưu tú của đất nước, tiêu biểu cho một thế hệ những người cầm bút chân chính đã bị "rút phép thông công". Thì cũng đã có hồi ký của những nạn nhân là người trong cuộc, những nghiên cứu, những bài viết về sự trấn áp phản nhân văn này và chắc chắn văn học sử nước nhà sẽ ngày càng được bổ sung tư liệu đầy đủ. Tưởng cũng không cần thiết phải nêu ra.

Lại tiếp đến nữa là cuộc cải tạo tư sản ở miền Bắc, rồi sau đó là "cải tạo tư bản, tư doanh" ở miền Nam. Mấy cái "cải tạo" này, không phải bây giờ mà ngay lúc ấy, người ta đã thấy là bất công và thất đức. Nay nhắc lại chỉ thêm đau lòng. Rồi lại tiếp đến nữa, tiếp đến nữa… vân vân và vân vân. Nếu cứ liệt kê ra, thì các sự kiện gắn trực tiếp với trách nhiệm của Đảng ta, của triều đại cộng sản của Đảng ta sẽ còn được nối dài, nối dài…

Tổ quốc và Dân tộc là vĩnh viễn, là muôn năm.

Trong lịch sử nước ta chưa có một triều đại nào tồn tại nổi đến con số 400 năm. Không có một triều đại nào là muôn năm cả! Lịch sử thế giới cũng vậy, chẳng có triều đại nào là "muôn năm". Đến như triều đại của Đảng CS Liên xô, với hùng hậu tên lửa vượt đại châu, phản lực siêu tốc, trùng trùng xe pháo hạng siêu nặng…, cũng phải sụp đổ thảm hại khi đang ở cái tuổi 70. Đảng ta và triều đại cộng sản của Đảng ta cũng không thể nằm ngoài cái định mệnh nghiệt ngã ấy. Nên việc tung hô "muôn năm" chỉ là ước vọng, là khẩu hiệu, rớt lại từ kiểu "vạn tuế, thiên tuế" của các triều đại phong kiến. Và, còn một định mệnh vô cùng nghiệt ngã nữa là, một triều đại dù đã bị tiêu vong, bị vứt vào sọt rác lịch sử, nhưng hậu quả gắn liền với trách nhiệm mà triều đại đó, nhân vật lịch sử đó gây ra thì vẫn còn nguyên một khối nặng vô hình đè lên hậu thế, luôn luôn và mãi mãi nóng bỏng trong dân gian, trong sử sách, truyền đến muôn năm, muôn đời, muôn kiếp mai sau. Trên tinh thần đó, là một công dân, một người cầm bút, nhân kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9 và trước thềm Đại hội toàn quốc lần thứ 11 này của Đảng ta, tôi xin nêu vài suy ngẫm về trách nhiệm của Đảng ta, của triều đại cộng sản, trước những vấn đề đã, đang và sẽ còn dằn vặt suy tư của nhiều thế hệ người Việt Nam.

Một là, sau 30/4/1975 làn sóng người Việt Nam vượt biên ra nước ngoài đã kéo dài đến tận cuối thập niên 1980. Làn sóng này cộng với số đồng bào ta di tản khi cuộc chiến sắp kết thúc đã hình thành những cộng đồng người Việt ở hải ngoại (Mỹ, Anh, Canada…) lên tới mấy triệu người. Trong lịch sử dân tộc, chưa bao giờ và chưa khi nào con dân nước Việt phải bỏ nước ra đi đông đến như thế! Điều gì đã khiến họ chấp nhận ngàn trùng nguy hiểm, thà làm mồi cho cá, cho cướp biển giữa đại dương mênh mông, còn hơn là sống dưới chế độ cộng sản? Phải chăng là vì chính sách phân biệt hà khắc, với hàng loạt các trại cải tạo (tù không án) dành cho những người từng phục vụ trong bộ máy chính quyền cũ, cùng hàng loạt các vụ tịch thu, tịch biên, quản lý tài sản trong những chiến dịch "đánh đổ tư sản"? Phải chăng là họ cảm thấy sẽ không có tương lai tươi sáng gì dưới chính thể cộng sản? Đảng ta đã làm gì, làm như thế nào để đến nỗi họ phải tự dồn mình đến sự tuyệt vọng, phải tự triệt tiêu cả bản năng, sẵn sàng trực tiếp đối mặt với cái chết như vậy? Đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận và Đảng ta cũng không thể phủi tay rũ trách nhiệm được.

Hai là, chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc. Bắt đầu từ năm 1958 với Công hàm Phạm Văn Đồng, mặc dù với nhân dân ta công hàm đó chỉ là tờ giấy lộn, nhưng với Đảng ta thì trách nhiệm rất nặng nề, vì hậu quả là, Tổ quốc Việt Nam từ ngàn đời cha ông để lại đã mất trắng quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19/01/1974. Máu của 58 liệt sỹ thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đổ xuống một cách tức tưởi. Họ và 64 liệt sỹ của Quân đội nhân dân Việt Nam đã ngã xuống trên quần đảo Trường Sa năm 1988, chính là những anh hùng quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Cho đến nay, đã 36 năm rồi, mảnh đất thiêng liêng Hoàng Sa vẫn bị Trung Quốc cưỡng chiếm. Là con dân nước Việt, thử hỏi có ai không đau lòng? Suốt hơn ba thập niên qua, ai là con dân nước Việt luôn tri ân tổ tiên và biết tự trọng, đều phải thấy xấu hổ và có tội với tiền nhân, xấu hổ và có tội với hậu thế muôn đời con cháu.

Suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta không chỉ đổ máu, mà còn biết bằng nhiều cách gìn giữ từng tấc đất của Tổ quốc. Chắc Đảng ta cũng phải thừa nhận rằng, dù phải chịu cả 1.000 năm "Bắc thuộc", cha ông ta cũng quyết không chịu hèn nhát, khiếp nhược trước kẻ thù. Để mất Hoàng Sa là một sự thật nhục nhã mà những ai có lòng tự tôn dân tộc, không vô cảm với vận mệnh của đất nước, không vô cảm với sự kiện Hoàng Sa bị cưỡng chiếm, không vô cảm với đại nạn của các ngư phủ ở Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, đều cảm nhận được. Cha ông ta rất uyển chuyển, nhưng không bao giờ chịu quỳ gối trước bá quyền. Lịch sử dân tộc sẽ ghi rõ, để mất toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, trách nhiệm thuộc triều đại cộng sản của Đảng ta.

Cuối 2008 đầu 2009, các phương tiện thông tin đại chúng loan tin đã hoàn thành việc ký kết phân định biên giới Việt – Trung. Các ông Vũ Khoan, Phó Thủ tướng và hai đại thần nữa của Đảng ta là Vũ Dũng, rồi Lê Công Phụng, là những người được giao trọng trách đàm phán với phía nước Tàu, thay nhau lên ti-vi, lên radio giải thích này nọ về chuyện đất của tổ tiên con cháu Lạc – Hồng có bị mất ở đâu đó không? Chẳng hạn như ở ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Đồng Đăng, Vị Xuyên, Cao Lộc, Tràng Định… Rất nhiều bậc trí giả, bậc lão thần của triều đại cộng sản đã lên tiếng bằng thư ngỏ gửi những người đứng đầu các cấp của Đảng ta, phân tích rõ những thụ động, yếm thế, thua thiệt trong việc ký kết đường biên với "các đồng chí Trung Quốc". Nhưng tất cả đều rơi vào im lặng. Có một đường biên giới ổn định, lâu dài với các nước láng giềng, là mong muốn và nguyện vọng muôn đời của mọi quốc gia trên thế giới. Nước ta cũng vậy, rất cần, rất mong muốn có được một đường biên giới trên bộ, trên biển chuẩn xác, ổn định với Trung Quốc. Tuy nhiên, với "ông hàng xóm khổng lồ" quá nhiều tham vọng bành trướng này, những bài học lịch sử từ hàng ngàn năm qua luôn nhắc nhở chúng ta và muôn đời con cháu mai sau rằng, dù rất cần, rất mong muốn, nhưng cũng không thể tùy tiện, vội vàng, dễ dãi về chuyện đường "biên" với họ được.

Xin nêu một câu chuyện ẩn dụ: Anh A người mảnh khảnh, nhưng kiên cường, lại giàu lòng nhân nghĩa, nên làng xóm ai cũng thương. Anh B có chung bờ rào với người hàng xóm cao to như hộ pháp tên Xoài, thường ỷ mạnh để lấn bờ, lấn cõi. Thậm chí Xoài còn dùng độc chiêu cưỡng chiếm luôn cả cái bếp của nhà Mít. Anh Mít ức lắm, nhưng cũng đành ngậm bồ hòn làm ngọt để chờ thời cơ đòi lại. Năm tháng qua đi, thấy Mít không nhắc gì đến chuyện cái bếp bị mình cướp trắng, Xoài lại giở chiêu vừa ngon ngọt vừa đe nẹt, dọa dẫm, năm lần bảy lượt mời Mít ngồi lại để hợp thức luôn cả vị trí cái bờ rào. Nhưng lần nào cũng bị Mít từ chối thẳng thừng, rằng"bác lấy mất của tôi cái bếp. Cả làng đều biết cái bếp đó đích thực là của nhà tôi. Nay bác cứ trả lại tôi cái bếp trước đã, rồi tôi mới bàn chuyện cái bờ rào với bác được. Tôi đòi không được thì con tôi, cháu tôi, chút chít của tôi kiên quyết đòi…

Cũng như vậy, Hoàng Sa – mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta – đang bị Trung Quốc cưỡng chiếm. Cả thế giới đều biết như vậy. Với những chứng cứ lịch sử và thực tiễn xác đáng, chắc chắn công luận cũng như công lý quốc tế sẽ đứng về phía lẽ phải để khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Tại sao Đảng ta lại không nói thẳng với ông hàng xóm Trung Quốc, rằng "đề nghị các đồng chí hãy trả lại Hoàng Sa cho Việt nam đã, rồi chúng ta mới có thể ngồi bàn về chuyện hoạch định đường biên giới…"?

Ngày xưa các sứ thần của ta trước khi đi đàm phán chuyện biên giới với "thiên triều", đã được Đức Vua ta dằn mặt "nếu dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di…". Chính vì cha, ông chúng ta nghiêm cẩn, có trách nhiệm rất cao với non sông, đất nước, với muôn đời con cháu mai sau như thế, nên chúng ta mới có được một đất nước Việt Nam hình chữ S như hôm nay. Cần nhấn mạnh rằng, về mặt quốc thể, từ xa xưa, suốt một thời gian dài đến cả ngàn năm trong tình cảnh Bắc thuộc, hầu như chỉ có giao thương rất ít với bên ngoài, nhưng chưa bao giờ cha ông chúng ta chịu hèn nhát, quỳ gối trước thiên triều. Bản tuyên cáo với trời đất, với thiên hạ "Nam Quốc sơn hà, Nam Đế cư…", còn vang vọng mãi đến muôn đời. Ngày nay, với hơn 80 triệu dân, lại là thành viên của Liên hiệp quốc, của WTO, trong khi việc Hoàng Sa bị cướp trắng còn sờ sờ ra đấy, lại ký tiếp các văn bản phân định biên giới, thì xin hỏi có phải là sự khiếp nhược và sự vội vàng đáng sợ không? Và, như vậy lợi ích lâu dài của Dân tộc, của Tổ quốc hay lợi ích thiển cận của Đảng ta là trên hết? Câu trả lời thuộc trách nhiệm của Đảng ta.

Ba là, việc Đảng ta cho phía Trung Quốc được khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Giới trí thức đã có hẳn một bản kiến nghị yêu cầu dừng lại ngay cái dự án nguy hiểm này. Cùng với ý kiến của Cụ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một bậc đại công thần của triều đại cộng sản, là rất nhiều ý kiến, rất nhiều bài viết phản biện phân tích rõ lợi, hại. Tất cả đều xác quyết rằng, dự án khai thác bauxite sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, đến tài nguyên nhiều mặt của đất nước và sẽ để lại di họa đặc biệt nghiêm trọng cũng về nhiều mặt cho các thế hệ mai sau. Để quy rõ trách nhiệm của Đảng ta, lịch sử đất nước tất nhiên sẽ phải ghi thật rõ: Vì đại sự quốc gia, cái ý tưởng khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã phải "chết" từ những năm đầu của thập niên 1980. Và, Tây Nguyên hùng vĩ, với không gian văn hóa cồng chiêng rất đáng tự hào, đã đưa nước ta trở thành một trong những cường quốc xuất khẩu cà phê của thế giới. Nhưng cái từ bauxite lại bắt đầu "sống" lại vào ngày 03/12/2001 với chữ ký của ông Nông Đức Mạnh – TBT Đảng CSVN – trong bản Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc, nhân chuyến ông Nông Đức Mạnh thăm Bắc Kinh. Tiếp đến là sự nhất trí cao, quyết tâm lớn của Bộ Chính trị, của lãnh đạo Đảng CS Việt Nam, thể hiện qua phát biểu của các ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Bộ Công thương… Thế đấy! Cứ thử nhắm mắt lại mà hình dung, mới thấy trách nhiệm của Đảng ta trong cái vụ "bauxite" này là lớn đến biết chừng nào.

Bốn là, rất nhiều nhà trí thức, nhà quân sự, giới văn nghệ sỹ… có tâm huyết với vận mệnh và tương lai sống còn của đất nước, đã đồng lòng lên tiếng phản đối việc một diện tích đất rừng biên giới rất lớn (khoảng 1% diện tích lãnh thổ) đã cho nước ngoài, chủ yếu là người TQ thuê dài hạn 50 năm. Theo tâm linh, nếu cõi âm là có thật thì cha, ông ta từ thưở xa xưa: Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… linh thiêng, chắc chắn sẽ cùng nhất loạt đội mồ đứng dậy, chỉ tay và thét vào mặt lũ hậu sinh thời nay rằng: "Mắt chúng mày mù cả rồi sao, bài học muôn đời còn nhỡn tiền đó. Đúng là một lũ hậu sinh vừa ngu dốt, vừa lưu manh, khốn nạn". Còn hồn ma đám Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống đã thấm đòn ô nhục, cũng phải ngán ngẩm lắc đầu, nhăn mặt nhìn lũ hậu bối thế kỷ XXI đã giẫm vào đúng cái vết chân dơ thối, rửa muôn đời không thể sạch của mình.

Xin được lưu ý, với "chiêu" thuê đất này, Bò Tèn – một tỉnh ở biên giới Lào giáp Trung Quốc – đã sầm uất với những trường học, nhà trẻ, cửa hàng, khu kinh doanh… mà chủ nhân toàn là người Hoa. Nếu mấy chục năm sau, dọc biên giới Việt Nam – Trung Quốc, cũng vô phúc có mấy cái "Bò Tèn" như thế, thì Đảng ta nghĩ gì về trách nhiệm của người cầm quyền?

Trước khi từ biệt thế giới này, Cụ Hồ đã di chúc rằng: "… Đảng ta là Đảng cầm quyền… phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân". Thực hiện di chúc của Cụ Hồ, Đảng ta đã rầm rộ tổ chức nhiều phong trào, từ "Rước đuốc Bác Hồ" đến "Thi kể chuyện về Bác Hồ", rồi "Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"… Kết quả, Đảng ta trong sạch thế nào, xứng đáng ra sao, thì đã có giời đất chứng giám và hơn 80 triệu con dân nước Việt cũng đều đã biết rõ cả rồi. Hơn nửa thế kỷ qua, là người cầm quyền, Đảng ta đã lập ra triều đại cộng sản theo mô hình Liên Xô, trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê nin, thứ chủ nghĩa hoàn toàn xa lạ với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam và nay đã bị thế giới văn minh loại bỏ. Thậm chí người ta còn dựng cả tượng đài để tưởng niệm 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Khác với đại hội cũng mang số thứ tự 11, là đại hội cuối cùng, chấm dứt mấy chục năm "ngự trên ngai vàng" cai trị của các đồng chí cộng sản Ba Lan anh em, không biết sau thành công rực rỡ của Đại hội 11 này (mà chắc chắn là phải thành công rực rỡ rồi), dưới ánh sáng chói lòa của chủ nghĩa Mác – Lê nin, Đảng ta sẽ còn tiếp tục đưa đất nước đi đến đâu nữa. Nhưng, dù có đến thiên đường cộng sản, nơi mùa xuân của nhân loại, thì mọi việc lớn, nhỏ liên quan đến quốc kế dân sinh, đến vận mệnh và sự tồn vong của đất nước, rõ ràng Đảng ta và triều đại cộng sản của Đảng ta đều phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân và muôn đời con, cháu.

N. C.

HO Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Tác giả trực tiếp gửi cho BVN

http://boxitvn.wordpress.com/2010/09/02/vi-suy-nghi-v%e1%bb%81-d%e1%ba%a3ng-ta-v-trch-nhi%e1%bb%87m-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-tri%e1%bb%81u-d%e1%ba%a1i-nhn-qu%e1%bb%91c-khnh-29-v-d%e1%ba%a1i-h/


Vietnam, một đồng minh không ngờ tới của Mỹ

Mark Tran

clip_image001

(Người chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, đô đốc Robert F Willard, gặp gỡ Tổng thống Philipines Benigno Aquino III, ngày 18/8/2010 ở Manila, Phillipines. Willard cho biết Mỹ sẽ phản đối việc sử dụng vũ lực của những quốc gia liên quan trong vụ tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông. Ảnh: Ryan Lim/AP)

Quan hệ đồng minh của Mỹ với kẻ thù trong quá khứ đang phát triển từng ngày để chống lại tham vọng thôn tính khu vực của Trung Quốc.

Sự xuất hiện của tàu USS George Washington, một tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân ở Việt Nam hồi đầu tháng [đầu tháng 8] cho thấy tình hữu nghị ngày một sâu sắc giữa hai đối thủ của nhau trong quá khứ trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng độc đoán.

35 năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, cuộc viếng thăm này chính thức đánh dấu mốc 15 năm nhân dịp bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam. Một nhóm các quan chức quân sự cấp cao người Việt, cùng với những quan chức cấp cao của chính phủ Việt Nam và đại sứ Mỹ ở Việt Nam hiện diện trên tàu, cả hai phía đều tỏ ra vui vẻ.

Tuy nhiên cuộc viếng thăm của chiếc tàu này cũng gửi một thông điệp chính trị rất rõ ràng cho phía Trung Quốc: Mỹ cũng có phần trong cái mà Trung Quốc vẫn nghĩ là sân sau của họ. Một vài ngày sau đó, đô đốc Robert Willard, người chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ định rõ quyền lợi đó trong chuyến thăm Philipines khi ông nói với phóng viên rằng lực lượng quân sự Mỹ phản đối việc dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ diện tích 3,5 triệu km2 trên Biển Đông, bao gồm cả những quần đảo cũng đang được tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ của Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Brunei và Philipines. Quân đội Trung Quốc chiếm đoạt phía tây đảo Hoàng Sa từ Việt Nam năm 1974 và đánh chìm 3 tàu chiến Việt Nam năm 1988 trong một trận hải chiến.


Gần đây nhất, Trung Quốc đã bắt giữ nhiều ngư dân Việt Nam, đe dọa những công ty dầu khí đa quốc gia hoạt động trên lãnh hải Việt Nam, tăng cường các cuộc diễn tập cho lực lượng hải quân và thành lập một cứ địa ngầm ở đảo Hải Nam. Trường Sa cũng là quần đảo đang xảy ra tranh chấp. Khu vực này là nơi tấp nập tàu bè qua lại và Trung Quốc dự tính rằng trữ lượng dầu thô và khí thiên nhiên vào khoảng 17,7 tỷ tấn.

Trung Quốc gia tăng áp lực trong thời gian gần đây bằng việc nâng vai trò của Biển Đông lên thành 'lợi ích cốt lõi' ('core interest'), ngang hàng với tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với Đài Loan và Tây Tạng. Bình luận của Willard cũng tương đồng với phát biểu, khiến Trung Quốc giận dữ, của Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton. Bà Clinton cho biết trong một cuộc hội thảo giữa các bộ trưởng của Đông Nam Á và Đông Á rằng giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ qua 'hợp tác ngoại giao từ tất cả các bên' ("collaborative diplomatic process by all claimants") nằm trong 'lợi ích quốc gia' ("national interest" ) của Mỹ.

Sự độc đoán của Trung Quốc đẩy Mỹ và Việt Nam đến gần nhau hơn, đặc biệt trong quân sự. Hai nước tổ chức diễn đàn về chính sách phòng thủ Mỹ-Việt lần đầu tiên ở Hà Nội ngày 19/8, đánh dấu sự chuyển biến trong quan hệ giữa hai đối thủ trong quá khứ. Carl Thayer, giáo sư chính trị tại Học viện quân sự Australia (Australian defence force academy) ở Canberra, viết trên tờ the Wall Street Journal:

"Rõ ràng những sự độc đoán quân sự gần đây từ phía Trung Quốc ở phía tây Thái Bình Dương và Hải Nam đã thúc đấy sự hợp tác quân sự Mỹ-Việt. Cả hai nước sẽ đều hưởng lợi trong việc ngăn chặn Trung Quốc và bất cứ quốc gia nào khác giành độc quyền ở khu vực mậu dịch đường biển này và giành chủ quyền bằng hành động cưỡng chế. Việt Nam coi sự xuất hiện của Mỹ như một lá chắn chống lại sức mạnh đang ngày một tăng của lực lượng quân sự Trung Quốc."

Sau diễn đàn phòng thủ, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Robert Gates, sẽ thăm Việt Nam vào tháng 10, đánh dấu chuyến viếng thăm thứ tư tới Việt Nam chỉ trong vòng 2 năm và cuộc đối thoại về quân sự giữa hai nước sẽ được tổ chức vào dịp cuối năm. Việc bán vũ khí, thiết bị và công nghệ phục vụ quân sự không được bàn đến ở thời điểm hiện tại, Thayer cho biết, nhưng ông cho rằng Việt Nam sẽ gỡ bỏ lệnh cấm tự áp đặt này (self-imposed restrictions) và cho phép các sĩ quan đăng ký nhập học các khóa huấn luyện quân sự chuyên nghiệp ở các trường và các học viện quân sự ở Mỹ.

Không chỉ có riêng sự phát triển trong hợp tác quân sự. Mỹ đang thương lượng một hiệp định gây nhiều tranh cãi với Việt Nam về việc cung cấp vũ khí và công nghệ hạt nhân – bỏ qua những rào cản thông thường về việc cản trở việc làm giàu uranium nhằm ngăn chặn bùng nổ hạt nhân.

Các quan chức Việt Nam nhấn mạnh rằng hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam "không gây phương hại cho bất cứ quốc gia nào khác", và Trung Quốc cho đến thời điểm hiện tại đã không dùng những lời lẽ nặng nề để chỉ trích Việt Nam giống như đối với Mỹ. Tuy vậy Việt Nam cũng hiểu rằng sự kiên nhẫn của Trung Quốc có giới hạn – một cuộc chiến tranh ngắn xảy ra vào năm 1979 giữa hai nước cộng sản vốn hòa hảo với nhau, sau khi hai nước bất đồng quan điểm về Campuchia.

"Việt Nam đang rời xa khỏi Trung Quốc trong việc xây dựng đồng minh," Kerry Brown, một chuyên gia về châu Á ở Chatham House, một viện chính sách về đối ngoại (foreign affairs thinktank) cho biết.

"Có một liên kết vững chắc với Mỹ sẽ khiến Trung Quốc đắn đo trong bất cứ động thái nào ở trong khu vực. Trung Quốc giờ đây hiểu rằng Mỹ đã bày tỏ quan điểm về toàn bộ vấn đề, và điều đó cũng có nghĩa Trung Quốc không thể sống trong thế giới đã từng được bao trùm bởi sự mơ hồ được nữa. Điều quan trọng nhất trong thời điểm hiện tại là bất kể động thái nào của Trung Quốc trên Biển Đông đều trở nên nhạy cảm hơn, và sẽ ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Việt Nam có thể lợi dụng điều này. Đó chính là điều mà Việt Nam dự định sẽ làm".

Trong khi Mỹ và Việt Nam phát triển hợp tác quân sự, hợp tác quốc phòng giữa Mỹ và Trung Quốc đang không đi đến đâu. Bắc Kinh tạm ngừng quan hệ sự với Mỹ trong tháng 1 để trả đũa cho vụ buôn bán vũ khí giữa Mỹ và Đài Loan.

Một báo cáo do Lầu Năm Góc công bố một tuần trước nhấn mạnh sự khó chịu của Trung Quốc đối với Mỹ. Báo cáo thường niên của Lầu Năm Góc trình lên Quốc hội về quân sự của Trung Quốc cho biết những bí ẩn xung quanh việc xây dựng quân đội của Trung Quốc làm tăng thêm khả năng gây hiểu lầm và xung đột với các nước khác. Báo cáo cũng cho biết Trung Quốc đang phát triển hệ thống vũ khí cấp tiến và theo đuổi việc xây dựng tàu sân bay và tên lửa đạn đạo coskhar năng tấn công mục tiêu cách xa hơn 930 dặm

Trung Quốc phản ứng giận dữ trước báo cáo này, bày tỏ rằng bản báo cáo "không có lợi cho sự phục hồi và phát triển của quan hệ quân sự Trung-Mỹ".

M. T.

DTKT dịch

Người dịch gửi trực tiếp cho BVN

Nguồn: Guardian