http://boxitvn.blogspot.com/2011/01/chung-quanh-mot-chu.html
Bauxite Việt Nam
Vietland
Đài Á Châu Tự Do
02 tháng 2 2011
Việt Nam cần liên kết trong ngoài để tự vệ
Trước chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc, ông Hồ Cẩm Đào sang Hoa Kỳ tuần này, các giới quan sát tại Mỹ đã đánh giá cả về sức mạnh quân sự hai bên, và nhắc đến Biển Đông như một điểm nóng, tạo ra căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Trung. BBC Tiếng Việt đã phỏng vấn Tiến sĩ Richard Weitz từ Hoa Kỳ về bối cảnh cán cân quân sự của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và nhu cầu tìm kiếm đồng minh từ Hoa Kỳ. Trước hết, ông Weitz, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu quân sự Hudson tại Washington, tác giả bài "Balancing China Through Vietnam" đăng hôm 13/1/2001 trên trang Second Line of Defense, nói về an ninh khu vực Đông Nam Á năm qua: Tiến sĩ Richard Weitz: Tôi nghĩ tình hình an ninh khu vực đã trở nên tồi tệ hơn trong năm qua, chủ yếu là do Trung Quốc thay đổi cách ứng xử của họ. Tình hình hơi bất ổn một chút, nào là diễn tập quân sự, Trung Quốc xích lại gần Bình Nhưỡng hơn. Còn ở Biển Đông thì hải quân Trung Quốc và các nhà ngoại giao Trung Quốc cũng trở nên hung hăng hơn trong việc thử lửa một số vấn đề hàng hải. Chuyện tương tự như xảy ra ở vùng Biển Đông Á với Nhật Bản. Do đó, bên ngoài vùng biên hải Trung Quốc nhiều vụ tranh chấp đã và đang trở nên gay gắt hơn, với cường độ cao hơn. Tôi cho rằng đó là do Trung Quốc đã thay đổi thái độ. Nhưng không hiểu ví lý do gì, họ lại cho rằng mình đang đi bước lùi. Học thuyết 'Chiến tranh Nhân dân' này không hiệu quả trên biển TS Richard Weitz Trong vài tháng qua, Trung Quốc dần đi chệch ra khỏi khuynh hướng chính sách truyền thống là kiềm chế, không giải quyết hẳn các vụ xung đột, đồng thời cũng không làm to tát các vụ xung đột đó ra. Nhưng dù sao đi nữa, họ cũng bắt đầu ra tuyên bố rằng vùng Biển Đông nằm trong khu vực của họ và thuộc chủ quyền của họ. Họ cũng trở nên hung hăng hơn trong thái độ ứng xử với Nhật Bản trên một số hòn đảo. Họ cũng đã cho tàu hải quân tấn công thuyền đánh cá của Việt Nam. Nói tóm lại , chính sách ngoại giao của Bắc Kinh trên các vùng biển đang trở nên mạnh bạo hơn bình thường. BBC Tiếng Việt: Lãnh đạo Việt Nam đang bàn cãi về cái gọi là Chiến lược 10 năm về Biển Đông. Trong bài viết của ông, ông cho rằng đây là chiến lược "xù lông nhím" (nguyên văn: con tôm độc) để Trung Quốc không dám động vào . Ông có thể giải thích thêm ý này được không? Tiến sĩ Richard Weitz đưa ra lập luận rằng Việt Nam có thể là đồng minh tiềm năng của Mỹ để cân bằng lại Trung Quốc Tiến sĩ Richard Weitz: Đó là cách tôi giả định về việc Việt Nam hành xử với Trung Quốc, trong quan hệ bất cân bằng và không theo thông lệ nào cả. Các lực lượng quân sự chính thống của Trung Quốc chắc chắn to lớn hơn và được trang bị tốt hơn Việt Nam. Do đó Việt Nam rơi vào vị thế bất cân bằng trong tương quan với Trung Quốc. Việt Nam dựa vào chiến tranh du kích và chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ, nhằm tạo thế. Và tuy thế lực này bất tương xứng với Trung Quốc, nhưng cũng đủ mạnh để ngăn ngừa ý chí xâm lăng từ Trung Quốc. Bởi vì những lợi ích Trung Quốc đạt được sẽ bị đổi lại bằng nhiều mất mát từ sức mạnh chống trả của Việt Nam. BBC Tiếng Việt: Quân đội Nhân dân Việt Nam có nhiều năm kinh nghiệm chiến đấu và họ theo học thuyết Chiến tranh Nhân dân. Tuy nhiên, học thuyết này có thể không hiệu quả trên biển? Tiến sĩ Richard Weitz: Biển là địa bàn chiến sự hoàn toàn khác. Rồi còn cả vấn đề dùng phương tiện hải quân nào nữa. Đúng vậy, học thuyết này không hiệu quả trên biển. Họ có thể đã mất đảo Hoàng Sa rồi. Tình hình đang trở nên khó khăn. Đơn giản là Việt Nam không có đủ sức mạnh tự mình chống trả sự chiếm đóng hay xâm lăng lãnh thổ của Trung Quốc như Việt Nam đang hô hào. Do đó Việt Nam cần đối trọng quyền lực với Trung Quốc từ bên ngoài, mà tôi cho là Hoa Kỳ. Nhưng như ta biết, Việt Nam cũng không quá lộ liễu khi làm như vậy. Việt Nam sẽ cảm thấy rất bất ổn khi ký kết với Hoa Kỳ để kiềm chế Trung Quốc một cách lộ liễu. Thực tế là Việt Nam thích gắn bó quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ hơn. Nếu không, tôi chắc chắn là Việt Nam biết họ phải giải quyết việc này với cả Trung Quốc, Hoa Kỳ cùng các nước láng giềng một khi Việt Nam muốn khẳng định chủ quyền trên các khu vực họ muốn. Nguồn: BBC |
http://boxitvn.blogspot.com/2011/01/viet-nam-can-lien-ket-trong-ngoai-e-tu.html
Trung Quốc: Thủ tướng khuyến khích dân phê bình chính phủ
| Xuất hiện ở cơ quan tiếp nhận đơn từ kiến nghị cao nhất tại Bắc Kinh, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo chỉ thị tạo điều kiện dễ dàng hơn để người dân phê bình và giám sát chính phủ. Ông Ôn Gia Bảo được biết tới với cách tiếp cận rất bình dân. Ông thường vội vã tới tận những nơi xảy ra các thảm họa để thị sát tình hình, thăm hỏi các nạn nhân. Và trên truyền hình quốc gia, người ta có thể chứng kiến ông cùng ăn với những người nghèo,ở các ngôi làng nông thôn hẻo lánh. Chính vì thế, nhiều người đặt cho ông danh xưng "Ông Ôn". Đầu tuần này, vị thủ tướng 68 tuổi đã làm một điều được nhiều nhà phân tích coi là sự dũng cảm hơn bình thường: Xuất hiện ở cơ quan tiếp nhận đơn từ kiến nghị cao nhất Trung Quốc tại Bắc Kinh, nơi những người dân thường đệ đơn than phiền hay thể hiện sự bất bình về vấn đề nào đó, và khuyến khích người dân phê bình chính phủ, yêu cầu đưa các trường hợp của họ ra công lý. "Chúng ta là chính phủ của dân và quyền lực của chúng ta được nhân dân giao cho", báo chí Trung Quốc dẫn lời Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong suốt chuyến thăm cơ quan trên. "Chúng ta nên sử dụng quyền lực trong tay chúng ta để phục vụ lợi ích của nhân dân, giúp họ vượt qua khó khăn một cách có trách nhiệm". Động thái này được coi là khác thường vì cơ quan kiến nghị quốc gia được biết đến như "chiếc cột thu lôi" những bất bình về nạn quan chức tham nhũng, chiếm giữ đất đai trái phép, tranh chấp lao động và mọi than phiền khác. Trong ngày 26/1, các phương tiện truyền thông quốc gia Trung Quốc đã phát đi hình ảnh ông Ôn Gia Bảo gặp gỡ với một nhóm người khiếu kiện tại cơ quan này. Ông yêu cầu các nhân viên chính phủ giải quyết các trường hợp khiếu kiện một cách hợp lý. Ông Ôn cũng chỉ thị việc tạo điều kiện dễ dàng hơn để người dân phê bình và giám sát chính phủ. Theo báo chí Trung Quốc, đây là lần đầu tiên một thủ tướng xuất hiện ở cơ quan khiếu kiện để gặp gỡ những người dân thường kể từ khi Trung Quốc thành lập năm 1949. Trên các blog và diễn đàn Internet tại Trung Quốc hôm qua đã tràn ngập thông tin về chuyến thăm trên của ông Ôn Gia Bảo. Hơn 6.000 người đã đưa thông tin hay bình luận về chuyến thăm lên các trang web phổ biến, phần lớn là hoan nghênh việc làm của ông Ôn. Trong suốt năm 2010, Thủ tướng Trung Quốc được coi là biểu tượng của sự thay đổi, khi ông công khai kêu gọi cải cách chính trị ở nước này. Phát biểu nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập đặc khu Thâm Quyến hồi tháng 8, ông Ôn Gia Bảo nhấn mạnh, các quyền dân chủ và quyền hợp pháp khác của người dân phải được đảm bảo. Người dân cần được huy động và tổ chức tham gia vào các vấn đề luật pháp, hành chính, kinh tế, xã hội và văn hoá. Theo ông, vấn đề tập trung quyền lực quá mức với sự giám sát không hiệu quả cần được giải quyết bằng nỗ lực cải tổ các thể chế. Ông yêu cầu tạo điều kiện để người dân được phê bình và giám sát hoạt động của chính phủ. Ông cũng cam kết xây dựng một xã hội Trung Quốc công bằng, đặc biệt trong luật pháp. Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Time (Mỹ), ông Ôn Gia Bảo nói: "Tôi tin rằng, tự do ngôn luận là không thể thiếu với bất kỳ nước nào. Tôi thường nói rằng, chúng ta không nên chỉ cho phép mọi người tự do ngôn luận; chúng ta cần tạo điều kiện để cho phép họ chỉ trích công việc của chính phủ". Sau đó, trong cuộc phỏng vấn ngày 3/10 trên CNN, ông khẳng định: "Mong mỏi của mọi người, sự cần thiết cho mọi người, dân chủ và tự do là không thể cưỡng lại được. Những ai đi cùng xu thế này sẽ thịnh vượng, những ai đi ngược lại sẽ thất bại".
Thái An (tổng hợp) Nguồn: Vietnamnet |
http://boxitvn.blogspot.com/2011/01/trung-quoc-thu-tuong-khuyen-khich-dan.html
Ảnh hưởng Domino của cuộc cách mạng Hoa Lài tại Tunisia
http://boxitvn.blogspot.com/2011/01/anh-huong-domino-cua-cuoc-cach-mang-hoa.html
Văn hóa, nhân cách lãnh đạo và vận mệnh đất nước
| Trần Văn Thọ, Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Những quyết định về chính trị hay quân sự của người ở vị trí lãnh đạo thường đưa đến những hệ quả lớn đối với vận mệnh của một đất nước, một dân tộc. Người lãnh đạo nếu có trình độ văn hóa cao, có tố chất nhân văn cao cả hay ít nhất có bên mình những quân sư, cố vấn thông hiểu lịch sử và quy luật vận động phức tạp của xã hội, của tâm tình con người, của biến chuyển trên thế giới thì các quyết định thường đem lại một thời đại xán lạn của dân tộc, của đất nước sau đó, hay ít nhất là tránh được những hiểm họa. Ngược lại thì có thể đưa đến bất hạnh cho đất nước và con người liên hệ. Giữa thế kỷ XIX trong buổi giao thời giữa hai chế độ ở Nhật Bản, trình độ văn hóa và tố chất nhân văn của các lãnh đạo các bên tranh chấp đã cứu được nước Nhật thoát khỏi cuộc nội chiến kéo dài, thoát khỏi nanh vuốt của các cường quốc âu – Mỹ đang mở rộng thuộc địa, và mở ra thời đại canh tân, hiện đại hóa đất nước. Hai nhân vật nổi bật, nắm vận mệnh đất nước hồi đó là Saigo Takamori (1827-1877) và Katsu Kaishu (1823-1899). Trong 15 năm giữa thế kỷ XIX tình hình chính trị ở Nhật vô cùng rối ren. Năm 1853, hạm đội của Đô đốc Perry (Mỹ) đến bến cảng Uraga đòi chính quyền Mạc Phủ Tokugawa (1603-1867) mở cửa giao thương. Đến năm 1858, Nhật phải ký các hiệp ước bất bình đẳng với Mỹ và một số nước Tây phương khác. Trước tình thế đó, các phiên ở địa phương ngày càng mất tin tưởng vào khả năng của chính quyền Tokugawa trong việc giữ nước và cận đại hóa đất nước. Đặc biệt hai phiên ở phía Nam là Choshu và Satsuma tập họp lực lượng để đánh đổ chế độ tướng quân Tokugawa (thủ phủ đặt tại Edo tức Tokyo bây giờ), giành lại thực quyền cho thiên hoàng (ở Kyoto). Saigo Takamori, lúc đó là Đông chinh Đại tổng đốc, trở thành chỉ huy trưởng của lực lượng này. Tướng quân đương thời và cũng là tướng quân cuối cùng của Tokugawa là Yoshinobu (1837-1913) thỏa hiệp bằng cách trả lại thực quyền cho thiên hoàng (tháng 10/1867) với hy vọng tham gia chính phủ mới trong đó quyền lợi của Tokugawa được duy trì. Tuy nhiên kết cuộc phía Tokugawa thấy mình bị mất quá nhiều quyền lợi, kể cả quyết định không cho Yoshinobu tham gia chính quyền mới và phải giải tán quân đội đã có từ trước, nên đã đem quân chống lại phía thiên hoàng. Cuộc nội chiến kéo dài gần nửa năm, cuối cùng Tokugawa suy yếu phải rút quân về cố thủ thành Edo. Tướng giữ thành lúc đó là tổng đốc lục quân Katsu Kaishu. Quân đội phía thiên hoàng do Saigo Takamori chỉ huy tiến về Edo chuẩn bị vây thành. Lúc này trong thành nhiều người chủ trương tử thủ, kể cả kế hoạch dùng hỏa công thiêu chết quân đội thiên hoàng nếu họ công thành dù thành Edo phải cháy tan theo. Tình thế này buộc những nhà lãnh đạo hai bên phải có quyết định để tránh tổn thất lớn cho đất nước, trước mắt là bảo đảm sinh mạng của khoảng một triệu người đang sống trong thành. Cần nói thêm là lợi dụng tình thế rối ren, nội loạn ở Nhật, một số nước phương Tây muốn nhảy vào hòng thôn tính Nhật Bản. Cụ thể là Anh đã liên hệ với phe thiên hoàng, còn Nga và Pháp đã liên hệ với phía Tokugawa hứa sẵn sàng viện trợ để chiến thắng trong cuộc tranh chấp này. Tuy nhiên cả tướng Saigo và tướng Katsu đều cương quyết từ chối sự can thiệp của nước ngoài. Katsu nhận định rằng nếu cầu viện Nga thì ít nhất sẽ phải cắt cho họ miền đất Hokkaido (đảo lớn ở phía Bắc) và mất đất thì không thể chấp nhận được. Còn Saigo đã nói thẳng với sứ giả Anh rằng "chuyện nước tôi để chúng tôi lo, đối với chúng tôi không có gì xấu hổ hơn là cầu viện nước ngoài". Cuối cùng, phân tích lực lượng hai bên và tình hình thế giới, và suy nghĩ về tương lai đất nước, tướng Katsu đã đi đến quyết định là phải đầu hàng quân đội thiên hoàng mới cứu được nước Nhật ra khỏi thảm họa. Ông thuyết phục phe chủ chiến trong thành và hứa sẽ đưa ra các điều kiện đầu hàng không phương hại đến tính mạng và tài sản tối thiểu của gia đình, thân tộc và quan lại của tướng quân Yoshinobu. Tướng Katsu vốn biết tiếng tướng Saigo là người bao dung, trọng nhân nghĩa và có con mắt nhìn xa trông rộng nên tự tin là Saigo sẽ chấp nhận các điều kiện đầu hàng do phía Tokugawa đưa ra.
Cuộc đàm phán giữa hai tướng Saigo và Katsu đã diễn ra thuận lợi ngoài dự tưởng của Katsu, nhất là thái độ của Saigo đối với người chiến bại đã làm phía Tokugawa thấy yên tâm và không hề có mặc cảm của người thất thế. Theo Okazaki Hisahiko trong Học tập những người khổng lồ về trí tuệ thời Minh Trị (Nhà xuất bản Seishun, 2005), Katsu sau đó đã nói với những người chung quanh như sau: "Trong cuộc hội đàm, đối với chúng tôi, những đại thần của Tokugawa, Saigo luôn giữ thái độ tôn trọng người đối thoại. Từ đầu đến cuối ông ấy luôn ngồi thẳng, tay để trên đầu gối, không một mảy may cho thấy uy phong của người chiến thắng, không hề tỏ thái độ xem thường người chiến bại". Phía tướng Katsu cũng trình bày nội tình của phe Tokugawa với thái độ chân thành. Saigo đã đồng ý các điều kiện đầu hàng. Ông đã về thuyết phục những người chủ chiến phía thiên hoàng. Phía thiên hoàng lúc đó không ít người chủ trương bắt phía Tokugawa phải đầu hàng vô điều kiện, kể cả xử tử hình tướng quân Yoshinobu. Nhưng với uy tín của Saigo, cuối cùng họ đã chấp nhận chấm dứt chiến tranh theo kết quả cuộc hội đàm của Saigo và Katsu. Lịch sử đã ghi lại sự kiện này bằng bốn chữ Vô huyết khai thành (mở cửa thành đầu hàng để tránh đổ máu). Tướng quân Yoshinobu được cho về sống cuộc đời ẩn dật tại Shizuoka (gần núi Phú Sĩ). Những người tài giỏi của thời Tokugawa được chính quyền Minh Trị mời cộng tác. Đặc biệt tướng Katsu được mời làm bộ trưởng hải quân vì ông nguyên là chuyên gia về kỹ thuật quân sự Tây phương, am hiểu nghệ thuật cầm quân trên biển. Hải quân của Nhật được cận đại hóa và sau này giành thắng lợi trong chiến tranh Nhật – Nga (1905) một phần to lớn có công lao của Katsu, nói rộng ra là nhờ chính sách đặt lợi ích dân tộc lên trên hết của những người lập ra chính quyền Minh Trị nên những người tài của chế độ cũ được trọng dụng. Vài tháng sau sự kiện vô huyết khai thành, Edo được đổi tên là Tokyo (tháng 7/1868) và sau đó ít lâu Minh Trị thiên hoàng dời đô từ Kyoto về Tokyo (tháng 10/1868). Tuy nhiên một số phiên trấn phía Bắc tiếp tục chống lại chính quyền mới, đến giữa năm 1869 phiên trấn cuối cùng mới quy thuận. Một điểm đáng nói thêm ở đây là trong các cuộc hành quân đi đánh dẹp các phiên trấn này, tướng Saigo có lần được phân công cử binh đến thu phục Shonai, một phiên trấn phía Đông Bắc. Quân dân của Shonai đã nghe uy của Saigo nên lo sợ và xin đầu hàng. Cũng theo Okazaki trong sách đã dẫn, trong bàn thương lượng về điều kiện đầu hàng, thái độ của Saigo rất ôn hòa, luôn giữ lễ đối xử với người đối thoại đến nỗi người thứ ba nhìn vào bàn thương lượng không biết ai là người thắng và ai là người phải xin đầu hàng.
Saigo Takamori xuất thân từ tầng lớp vũ sĩ cấp thấp tại phiên Satsuma (tỉnh Kagoshima ngày nay). Từ nhỏ quyết chí học tập cả văn lẫn võ. Về văn, ông theo nho học, thấm nhuần đạo đức nho giáo "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín" và triết lý "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Khắc khổ trong học tập và tu thân đã đưa Saigo lên vị trí lãnh đạo trong thế lực tôn phò thiên hoàng sau khi hai phiên trấn Satsuma và Choshu trở thành đồng minh trong cuộc vận động đánh đổ Tokugawa để lấy lại thực quyền cho thiên hoàng. Katsu Kaishu giống Saigo ở chỗ sinh ra trong gia đình vũ sĩ cấp thấp (Katsu thì ở Edo) và khắc khổ học tập, tu thân. Nhưng Katsu thì theo Tây học từ năm 17 tuổi vì sớm biết được sức mạnh của văn minh phương Tây. Ông nghiên cứu nghệ thuật và khoa học quân sự, nhất là lĩnh vực hải quân. Ông từng giữ chức giám đốc Trường thao luyện hải quân và là người có vai trò chủ chốt trong việc lập ra hải quân cho chính quyền Tokugawa. Vào cuối thời kỳ của chính quyền này, ông là tổng đốc lục quân. Tuy theo Tây học nhưng Katsu cũng thấm nhuần văn hóa Đông phương, hiểu được tinh hoa của đạo quân tử. Katsu cũng để lại nhiều bài thơ chữ Hán, đặc biệt bài thơ nói tâm trạng của mình khi đưa ra quyết định vô huyết khai thành được nhiều người biết đến. Nước Nhật có cái may là ở buổi giao thời của hai chế độ và trước hiểm họa ngoại xâm, ở cả hai chiến tuyến đều có những người lãnh đạo nhìn xa trông rộng, đầy trí tuệ mà cũng đầy nhân cách của bậc quân tử. Nhờ vậy, Nhật đã chấm dứt sớm cuộc nội chiến và bước vào giai đoạn canh tân đất nước. (Tokyo, đầu Xuân 2011) T. V. T. Nguồn: Tuanvietnam |
- via Feeddler RSS Reader
Những chuyện đáng ghi nhớ: Sài Gòn – Hà Nội – San José
Nguyễn Khoa Thái Anh
Chủ Nhật tuần rồi (January 16, 2011) là một ngày đáng ghi nhớ ở San José. Đáng ghi nhớ không phải vì một chuyện lớn tiếng mà tôi có can dự trong buổi họp báo hội Tết Dancing with the Troops ở café Paloma trong khu Grand Century Mall. Đáng ghi nhớ không phải vì tật thói cố hữu hay đi trễ của (một số) người Việt. Đáng ghi nhớ cũng không phải tánh thói không chịu đọc, không chịu tìm hiểu sự kiện nên không nắm bắt vấn đề nhưng lại thích góp ý vung vít của một số người mang danh nghĩa báo chí. Nhưng chuyện đáng ghi nhớ có lẽ lời khước từ không có thì giờ đi họp báo và sau đó trở thành lời khuyên của Trần Đệ, chủ nhiệm tuần báo VTimes: "Đừng nên dính dấp, sa đà vào nhiều chuyện phức tạp của cộng đồng!" Và cũng xin thưa, có bao giờ tôi được ai nhận mình là một người của cộng đồng San José đâu? Có lẽ vì vậy nên hôm đó Vũ Khang của Việt Weekly lớn tiếng gạn hỏi muốn biết tôi là ai, viết cho báo nào! Đúng ra chuyện tôi muốn bàn tới đây là chuyện tình cờ gặp những nhân vật đáng ghi nhớ ở Việt Nam rồi sự việc tuần tự diễn biến đưa đến chuyện gặp gỡ họ ở San José trong hôm chủ nhật vừa qua. Ở Sài Gòn, tôi tình cờ gặp ông đại biểu Quốc hội, nhà văn, nhà báo và sử gia Dương Trung Quốc nơi nhà hàng và khách sạn Lotus qua sự giới thiệu của chủ nhân. Sau đó được biết ông sẽ sang Cali thăm gia đình đúng khoảng thời gian tôi về Mỹ nên hẹn sẽ gặp lại. Thứ Sáu – thứ Bảy, hai ngày cuối tuần ở Mỹ vừa qua, liên lạc nhau qua điện thoại di động, nhưng không gặp vì chương trình du ngoạn của ông Quốc quá khít khao.
Bùi Tín và Dương Trung Quốc Chiều Chủ nhật được tin bác Bùi Tín ở Paris sang chơi thăm gia đình, tôi ghé nhà anh Quang ăn mừng sinh nhật thứ 85 của bác. Cùng lúc anh Quốc đi chơi San Francisco về gọi điện đi động mời tôi sang nhà bà dì dùng cơm. Nghe tin có Dương Trung Quốc ở San José, bác Bùi Tín chào hỏi anh qua điện thoại. Sau đó anh Quốc cho người nhà chỉ đường tôi đến nhà anh chơi. Vì tôi đã dùng cơm rồi, nên khi đến nơi chúng tôi ngồi salông nói chuyện với nhau. Dương Trung Quốc năm nay 65, thua ông Bùi Tín 20 tuổi, là một người tốt tướng da dẻ hồng hào, tóc bạch kim. Ông Bùi Tín 85, già yếu hơn, nhưng vẫn tinh tường, sắc sảo và khoẻ mạnh, tuy đi đứng có phần chậm hơn những năm trước. Hai người cùng phục vụ trong guồng máy nhà nước vào hai thời điểm khác nhau, hai vai trò khác nhau. Dương Trung Quốc đang ở cuối nhiệm kỳ thứ hai trong vai đại biểu Quốc hội, ông Bùi Tín đã thôi vai Phó Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân 20 năm nay. Điều khác biệt: một người còn trong guồng máy, một người đã ra khỏi. Một người lên án mạnh mẽ chế độ. Một người nhẹ nhàng hơn. Lý do dễ hiểu. Trong khi tôi lại ao ước ngược đời: người tại chức trong nước sẽ ăn nói mạnh bạo hơn, người ngoài nước bày tỏ thái độ từ tốn hơn. Không hiểu có phải vì bản tính triết học hay do làm một đại biểu Quốc hội (tuy không là đảng viên), mà ông Quốc ăn nói lặng lẽ, khoan thai hơn. Trong khi người ở ngoài không hiểu do tuổi già chồng chất hoặc do không thấy ánh sáng le lói ở đường hầm mà trở nên gay gắt hơn. Nghe hai cách nói chuyện của hai ông, tôi không biết cảm phục tánh ngoại giao của anh Quốc hay tánh không cả nể của ông Bùi Tín hơn. Buổi chiều trước khi sang nhà bà dì của ông Quốc, tôi ngồi nghe ông Tín bàn với các đàn anh (của tôi) về tình hình chính trị trong nước, sự đã rồi của đại hội XI Đảng, chuyện anh Cù Huy Hà Vũ, không khí hào hứng hơn khi ông Tín kể chuyện tiếp thu 16 tấn vàng của miền Nam và ai quản lý số tài sản kếch sù ấy, cũng như cách quyết định nhân sự của đại hội Đảng kỳ VI vào giờ phút chót, v.v.. Tác giả và Dương Trung Quốc Trên xe riêng với bác Tín, tôi hỏi ông có muốn về Việt Nam thăm gia đình không vì nghe bác kể có người trong Sứ quán, giữ trọng trách về khâu visa đã thông tin cho ông biết là họ sẵn sàng cho ông về: "Anh cứ về thoải mái… viết như vậy đã đủ rồi, trong nước có nhiều người, nói và viết còn mạnh hơn anh" Đương nhiên cảm nhận được thông điệp của nhà nước nên tôi thiển nghĩ ông Tín cũng phân vân trong chuyện về hay không về. Trong khi đó khi hỏi chuyện với anh Quốc, anh góp ý: "Tôi đã từng rất phục ngòi bút của Bùi Tín khi anh còn là Thành Tín thời chiến tranh… Anh Bùi Tín tuổi đã cao rồi nên về Việt Nam vui thú với con cháu… và chứng kiến thế sự…" Trong khi đó có nhiều người ở hải ngoại cho rằng chuyện về nước là đầu hàng Cộng sản. Vốn là một người sinh sau đẻ muộn, không can dự vào cuộc nồi da xáo thịt vừa qua nên có lẽ mức chịu đựng của tôi cao hơn những người đã bị mất mát quá nhiều trong cuộc chiến và hệ quả của nó. Cho nên những khi về Việt Nam trước tiên tôi thích tìm gặp những tâm hồn cao thượng, sau là tìm hiểu những người sống trong lòng chế độ, kể cả những người bị gán cho nhãn-mác Việt Cộng. Ngay cả tôi, một người từ nhỏ đến lớn không bao giờ bị mê hoặc, ưa thích hay tin vào chủ nghĩa Cộng sản, cũng đã từng bị gán cho cái mác thân Cộng! Thật tình mà nói nếu như chuyện tìm hiểu, bắc được một nhịp cầu tri âm, thông cảm giữa người Việt trong và ngoài nước nhằm tô đắp cho một Việt Nam tươi sáng hơn, nhân bản và công bằng hơn thì có gán cho tôi 1.000 cái mác "thân Cộng" tôi cũng không màng! Điều quan trọng đối với tôi là chuyện tìm về nhân cách của con người, cũng như lối hành xử tử tế và đạo đức của mỗi cá nhân – vốn là bản tính thuần Việt – và làm thế nào để khôi phục lại những đức tính này trong khi một số đông đang bị cuốn kéo trong nếp sống ồ ạt của kinh tế thị trường theo định hướng – không phải là xã hội chủ nghĩa – mà là cá lớn đớp cá bé, mackeno, sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi mới chính là vấn đề. Đương nhiên, đây là một ao ước huyễn hoặc, một chuyện khó khăn trong một xã hội đang giằng co trong thế tranh tối tranh sáng, nhá nhem giữa văn minh và lạc hậu, giữa tiến bộ toàn cầu hóa của nhân văn và tụt hậu cục bộ của Mácxít-Lêninnít, cấp tiến và chậm tiến trong thế kỷ 21 này. Có phải Việt Nam đang bị trì trệ nhưng vẫn cố vươn lên giữa cái thiện và cái ác, giữa đạo đức và vô luân, đàng hoàng và tạm bợ, mà kết quả là sự kết hợp quái quỷ giữa hai thái cực tác hại nhất của Tư bản và Cộng sản? Tuy thế, nan đề của Việt Nam không chỉ nằm ở cội rễ của những đảng viên Cộng sản chuyên chính, tham quyền cố vị, không chịu cải thiện, không biết đặt ưu tiên cho sự tồn vong của đất nước lên trên sự trục lợi của cá nhân và đảng phái, mà nó còn tồn tại nơi sự ù lì của dân tình, dai dẳng chịu đựng những chuyện trái tai gai mắt, những chuyện nửa vời, vá víu và tạm bợ trong cuộc sống, chối bỏ chuyện liên đới trách nhiệm và tư cách công dân của mình chỉ vì bao năm nay họ đã được Đảng nhận lãnh trách nhiệm sở hữu đất nước thay cho họ rồi. Nói như vậy không phải không có những gương sáng trong Đảng, trong dân chúng. Ở đây ta chưa cần nói đến những nhân vật nổi cộm như luật sư Cù Huy Hà Vũ và Lê thị Công Nhân, linh mục Nguyễn Văn Lý, hòa thượng Thích Quảng độ, v.v. và v.v. Có nhiều cá nhân – bất chấp những chuyện bất cập chung quanh – vẫn âm thầm có những cố gắng giữ lấy nề nếp trong gia đình, trong cuộc sống, làm những chuyện hữu ích cho xã hội. Về Việt Nam tôi đã gặp những trường hợp điển hình đó. Những con người đạo đức Tạ Duy Anh Một hôm ở Hà Nội đang ngồi café, nói chuyện với nhà văn Tạ Duy Anh bỗng điện thoại di động reo: Tạ Duy Anh và tác giả "Xin lỗi anh Thái Anh nhé, thằng con nhà em nó gọi". Duy Anh áp di động vào tai: "Làm bài vở xong rổi à? Đúng thế phải không?… Có cần bố giúp gì không? Không à? Được… Mày gỉỏi nhỉ… Ừ, xem TV một tiếng thôi nhé, rồi lo tươm tất nhà cửa… Thế nhé!" "Mình phục thật, trong khi học đường ngày nay đầy dẫy những chuyện ma-le dối trá, thì con trai Duy Anh ở nhà một mình, cứ việc coi TV, cần gì gọi điện xin phép bố? Bố không biết thì đã sao! Anh rất đỗi ngạc nhiên, phục cách giáo dục con của em sát đất!" "Nhiều lúc cô nói hay xử sự điều gì nó không cho là đúng, nó cũng về kể lại, hỏi em." Tôi gục gặc đầu, cảm phục. Chuyện Bé Cún, cháu ngoại của đạo diễn Trần Văn Thủy Khi ở Hà Nội tôi được hân hạnh tá túc ở nhà anh Trần Văn Thủy dăm mười ngày. Hai vợ chồng anh có một đứa cháu ngoại tên Cún rất dễ thương và xinh xắn. Đối với một đứa bé 8 tuổi, nó thật là đằm thắm, đáo để và sâu sắc. Đạo diễn Trần Văn Thuỷ và bé Cún Một hôm Cún đi học về, ngồi trong lòng bà ngoại ngoan ngoãn như một con mèo con. Bà yêu cháu, ôm Cún vào lòng dặn dò, khuyên bảo cháu đủ điều, nào là: "Cún phải ngoan này, Cún phải chăm học này, Cún phải thuộc bài này, phải nghe cô giáo giảng dạy này, Cún phải chịu khó này…" Chị Hằng (vợ anh Trần Văn Thuỷ) và bé Cún Bé Cún ngồi im trong lòng bà nghe bà dặn dò thắm thiết nhưng lại im như thóc, chẳng thèm vâng dạ, ừ à chi cả. Chốc sau bà ra bếp làm cơm. Cún ở góc phòng hí hoáy, nắn nót viết những dòng chữ gì đó trên bảng. Một lúc sau Cún nói rất to: "Này bà ơi!" Bà quay lại hỏi: "Gì, cháu bảo bà cái gì?" Cún chỉ lên bảng: "Bà đọc đi!" Bà nheo mắt lẩm bẩm đọc những dòng chữ đều đặn Cún viết trên bảng: "Trên con đường đi đến sự thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng!" Rồi nó tỉnh bơ chẳng nói thêm câu gì nữa. Cũng như thế, một hôm không nhớ nó đòi mua hay bà nó hứa hẹn mua cho nó một cái gì. Bẵng đi vài ngày, có lẽ bà đã quên. Cún lại chỉ lên bảng bảo: "Bà! Đọc đi!" Bà lại nheo mắt để đọc những dòng chữ rất nắn nót: "Nói thời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay." Ước gì những người có trọng trách và phận sự to tát hơn cũng nhớ những gì họ hứa với đất nước. "Hẹn hò là giả dối, gặp gỡ là bắt được!" Phạm Lân: chủ nhân khách sạn và nhà hàng Lotus Yên Ba: đại tá Quân đội Nhân Dân "Em đến ngay nhé! Chị chờ em ở chỗ anh Lân. Em cỏ nhớ không… 369B Nguyễn Trãi, góc Trần Khắc Chân, trước mặt đồn Công An cũ nhé… khách sạn Lotus đấy!", giáo sư Nguyễn Thị Minh Thái thúc giục tôi hôm ở Sài Gòn. Khách sạn Lotus là một điểm hẹn, một nơi hội tụ của của nhiều văn nhân nghệ sĩ Bắc Hà, cũng như Nam Bộ. Nói chung, đây là một nơi lý tưởng để gặp gỡ hàn huyên, ăn ở và nhậu nhẹt. Giá cả phải chăng. Chủ nhân là một người Hà Nội tên là Phạm Lân, định cư Sài Gòn lâu năm sau 75. Anh Lân là một người vui tánh, hiếu khách, dễ mến, hào phóng, và lịch lãm. Giao thiệp rộng nên anh quen biết hầu hết những nhân vật tiếng tăm. Gặp anh lần thứ hai, thứ ba, tôi không đùa khi ví anh là một hảo hớn ưa tiếp đãi những người có lòng (quốc hồn quốc túy), cũng như có máu mặt. Không biết tự bao giờ khách sạn Lotus ở Nguyễn Trãi, quận 1 đã nghiễm nhiên trở thành một salon littéraire của Sài Gòn, tiếp nối truyền thống các mệnh phụ phu nhân của Paris ngày xưa. Trước khi rời Việt Nam vài ngày, tôi lại nhà hàng anh để trao cho đại tá Yên Ba một số sách vở vật dụng cho phó giáo sư tiến sĩ Minh Thái vì bận việc không kịp vào Nam để gặp tôi. Anh Lân gọi tôi mãi không được, cho đến khi tôi gọi lại mới vỡ lẽ đã mất di động trên taxi (lần này là Mai Linh). Vừa gặp tôi ở nhà hàng, anh Lân đã cười toe toét: "Này, cậu còn gì quý để mất nữa không?" "Anh khỏi bảo, mất con tim ở Hà Nội là mất của quý nhất trần đời rồi!" "Thôi chả sao, tôi xin chia vui với cậu, thôi ngồi xuống đây uống vài cốc bia với tụi này!" "Này, xin giới thiệu với Thái Anh Đại tá Yên Ba của Quân đội Nhân dân Việt Nam, bạn thân của Minh Thái!" "Không dám, mình là đàn em thôi," anh Yên Ba tươi cười, chìa tay bắt tay tôi. Anh nói thêm: "Này anh đừng để chuyện mất mát đồ đạc mà nghĩ xấu về quê hương nhé!" (Tôi định nói mất nước còn chả sao huống hồ ba cái chuyện lẻ tẻ, nhưng kịp ngưng.) Ngồi nói chuyện một chặp, tôi khám phá anh Yên Ba là một sĩ quan trẻ, 46 cái xuân xanh, một người rất văn nghệ. Khi anh soạn ba lô để cất các thứ tôi giao cho, tôi thấy nhiều quyển sách cũ bià và giấy đã ngã màu vàng vọt, nhiều giá trị văn học, không kể quyển 'Việt Nam máu lửa quê hương tôi', bút ký của ông Đỗ Mậu. "Này anh lùng đâu ra những quyển này thế!" "Anh sắp về Mỹ, thôi để chuyến sau tôi sẽ chỉ chỗ cho mà mua." Sau đó anh cho biết đã qua Mỹ vài lần trau dồi quân sự, rồi cũng tìm mua một số sách Việt bên Mỹ. Giao lưu văn hóa kiểu này có lẽ hơi hạn chế, nhưng có người làm được còn hơn không. Chúng tôi nói chuyện vui vẻ, như bạn thân quen nhau lâu ngày. Anh Yên Ba lại quen cả hai vợ chồng giáo sư Peter Zinoman – Nguyệt Cầm ở đại học Berkeley gần nơi tôi ở. Dương Trung Quốc, Phạm Lân, thiếu tá CA Thắng (?) "Xin anh làm ơn cho tôi một chuyện: Xin hai vợ chồng Peter và Nguyệt Cầm một quyển Dumb Luck có chữ ký của họ nhé. Khi nào hai vợ chồng, Đỗ Hoàng Diệu hay có ai về cầm về cho mình được thì quý quá!" Lúc đầu tôi còn ngạc nhiên vì không ngờ anh lại hỏi một quyển sách tiếng Anh: Dumb Luck, tức là Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đã được hai vợ chồng Peter – Nguyệt Cầm dịch ra tiếng Anh. Người trong nước mà để ý đến chuyện văn học hải ngoại như thế là một chuyện đáng ghi nhớ. "Cám ơn anh Lân đã giúp em gặp được những người tốt, lý thú… văn nghệ văn gừng (định nói có lòng với văn hóa hải ngoại, yêu đồng hương nhưng thấy nó giả tạo, đãi bôi nên thôi). Anh Lân cười xuề xòa: "Có gì đâu, khi nào cậu về, cứ đến đây chơi, anh sẽ giới thiệu cho những người khác." Anh Yên Ba nhắn nhủ trước khi chúng tôi chia tay: "Nhớ nhé, đừng vì mất đồ đạc mà quên quê hương nhé!" Hẹn hò là giả dối, gặp gỡ là bắt được! Là châm ngôn của tôi," anh Phạm Lân cười ha hả, tuyên bố. "Mình gặp nhau là vui rồi, hẹn hò làm chi rồi không tới." Chí lý! Tôn Nữ Thị Ninh và Đại học Trí Việt (http://trivietuniversity.edu.vn) Mấy hôm trước ngồi uống bia với anh Lân và anh Dương Trung Quốc, anh Lân cho biết: "Nếu Thái Anh đến sớm hơn nửa tiếng thì đã gặp Tôn Nữ Thị Ninh và một số nhân vật quan trọng rồi, chị ấy phải về đi họp. Anh Quốc đây cũng trong Hội đồng Cố vấn của chị ấy đấy." Nhớ lại chuyến về Hà Nội mấy năm trước không gặp bà, tôi không bỏ lỡ cơ hội: "Anh có số điện thoại chị Ninh không? Không hiểu dự án xây đại học mấy năm nay của chị ấy đến đâu rồi." Anh Quốc nghe tôi hỏi liền lấy di động ra gọi ngay: "Chị Ninh ơi, có một người dòng họ Nguyễn-Khoa bên Mỹ về… đang ngồi đây, muốn nói chuyện với chị." Rồi anh đưa điện thoại cho tôi tiếp lời. Tôi cho biết sắp về Mỹ nên muốn gặp bà nói chuyện. Bà cho địa chỉ và số điện thoại và hẹn gặp. Hôm thứ Hai trước khi về Mỹ tôi ghé thăm bà Tôn Nữ Thị Ninh và Đại học Trí Việt ở 180 đường Pasteur, quận 1 Sài Gòn. Bà Ninh trước là phát thanh/ngôn viên của nhà nước, là đại sứ Việt Nam tại Bỉ, Luxembourg và Liên hiệp Âu châu và cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam, cũng như Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Văn phòng Trí Việt nằm trên tầng 3 một toà nhà 4 tầng. Sau năm phút chờ bà họp xong, tôi được mời vào trong một phòng họp với bà và ông tổng thư ký, một người đàn ông trạc 60, tên là Phạm Như Hổ, nhưng hiền từ và lịch sự; được biết ông là Việt kiều Bỉ. Bà Ninh năm nay có lẽ cũng ngoài sáu mươi, khuôn mặt lúc nào cũng phảng phất một nét buồn diệu vợi, người không quen có thể cho rằng gương mặt bà đượm vẻ lạnh lùng. Nhưng được biết bà là một người giàu tình cảm, có lòng với đất nước, lúc nào cũng canh cánh mong làm được một chuyện gì cho quê hương, tuy ở hải ngoại không biết có mấy ai hiểu được tâm tư của bà. Được biết Đại học Trí Việt sẽ được xây trong vùng kinh tế trọng điểm Sài Gòn – Gò Vấp, dự kiến khai trương 2013, và hoạt động toàn phần 2016. Khi thành hình sẽ có khoảng 8.000 sinh viên theo học, vừa ở cấp 2 năm, 4 năm và cao học. Mô hình đại học liên ngành chuyên chú vào các khoa sau đây: *Công nghệ và Khoa học Ứng dụng; *Quản lý; *Thiết kế và Truyền thông; *Ngoại ngữ; *Bộ môn Kiến thức & Kỹ năng Nền tảng; *Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế; và *Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững Nhưng có lẽ tôi thích nhất là những tiêu chí sau đây (được ghi trong tờ phát/pamphlet): *Thành phần Ban Giáo sư gồm những giảng viên Việt Nam và quốc tế có óc sáng tạo là động lực của trường. * Cố đào tạo những sinh viên có bản lĩnh, ý chí vươn lên và tinh thần phục vụ là sức sống của trường *Phấn đấu là một trường đại học "xanh" *Biết cân đối chất Việt (1) và tính toàn cầu *Ưu tú về khoa bảng nhưng bình đẳng về cơ hội *Tận tình hỗ trợ hướng nghiệp và tìm việc làm *Một trường đại học đào tạo môi trường sống và rèn luyện cho sinh viên học thực làm thực *Một đại học quy tụ các hoạt động trí thức và xã hội *Giảng dạy chủ yếu bằng tiếng Anh (2) Bà Ninh cũng cho biết lương bổng sẽ tương đương với các đại học nước ngoài và Trí Việt sẽ nỗ lực để trở nên một đại học hàng đầu ờ Việt Nam, thể hiện tầm nhìn lâu dài, tư duy rộng mở và phương pháp sư phạm tiên tiến. Tôn Nữ Thị Ninh và tác giả (Đại học Stanford, tháng 5/2006) Ngồi nghe bà Ninh và ông Hổ trình bày về đại học Trí Việt xong, bỗng dưng tôi muốn khóc, phần vì cảm phục cho nỗ lực dai dẳng của bà trong nhiều năm nay (từ ngày nghe bà trình bày ở Stanford và Palo Alto, 2006) nhằm vượt qua các khó khăn và rào cản, phần vì những trạng thái suy đồi của nền giáo dục Việt Nam cũng như văn hoá và lối sống thực dụng của dân tình trong một xã hội thời thượng mà tiền tài và vật chất lên ngôi trong khi đạo đức và nhân phẩm con người bị hạ bệ. Tất nhiên đây là lực cản lớn cho mọi ai muốn đóng góp cho xã hội Việt Nam đương thời. Nhất là chuyện đào tạo xây dựng một đạo ngũ nòng cốt thiết nghĩ phải bắt đầu với "Tiên học Lễ, hậu học văn" hay đúng hơn "phải lấy đạo đức, nhân cách làm đầu". Đây là những tiêu chí mà bà Ninh nêu ra trong tờ tài liệu về đại học, thiết nghĩ không những sinh viên phải thực hành mà thành viên ban giảng huấn phải lấy làm điều tâm niệm. Mục tiêu và lý tưởng tối hậu của Trí Việt – nếu tôi không lầm – là đào tạo được những thành phần cốt cán nhằm xây dựng lại một xã hội tốt lành – nếu không phải là một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" (3). Đó là một nan đề vì khởi sự từ cấp đại học e rằng quá muộn. Ở Mỹ, vì một số sinh viên không đủ tiêu chuẩn vào đại học nên các nhà giáo dục (ở mọi cấp cho đến tiểu bang và liên bang) đều điên đầu. Trung học cấp II thì đổ thừa cho Trung học cấp I, cấp I thì đổ thừa cho Tiểu học, Tiểu học thì đổ thừa cho cha mẹ và các trường dạy trẻ. Ở Việt Nam thì khỏi nói, từ thời chiến tranh đến giờ – nhất là sau "giải phóng", sau "đổi mới" – đạo đức suy đồi, cả một xã hội loạn cuồng theo đồng đô la. Chuyện "trăm năm trồng người" (của Đại học Trí Việt) do đó có khó không khi tưởng như những ai đi đúng lý tưởng, lương tri, phép tắc và lề luật sẽ bị bỏ lại đằng sau dòng chảy ồ ạt của xe cộ (xã hội), thể hiện và phản ảnh đúng mức nếp sống lèn lách của Việt Nam hiện thời? Có phải Đại học Trí Việt tốt và khác hơn các đại học ngoại quốc ở chỗ: du sinh sẽ ít người trở về nước khi họ kiếm được việc làm ở các nước sở tại. Sinh viên Trí Việt ở trong nước là thành phần nào? Nghèo hơn du sinh? Thiếu phương tiện hơn gia đình du sinh? Có thể là một điều tốt chăng? Nếu gia đình họ còn giữ được đạo đức và nhân phẩm. Đây có phải là một động lực chính của Đại học Trí Việt? (Có phải Trí Việt sẽ tạo ra những thang học phí theo khả năng tài chánh gia đình, tạo ra học bổng, trợ giúp cho những gia đình nghèo?) Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng Nhụy vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Ca dao Việt Nam N. K. T. A. Tác giả gửi trực tiếp cho BVN. __________________________________________ (1) Chất Việt có còn không? Hay chỉ là những thói tính tiêu cực hủ lậu xưa và nay? (2) Đó là chưa nói đến hiện tượng "chất xám theo trào lưu chảy ra biển lớn không về" khi họ được đào tạo tốt theo mô hình Anh văn quốc tế, mấy ai sẽ hy sinh ở lại Việt Nam nếu lương bổng và cuộc sống không cải thiện? (3) Khẩu hiệu của Nhà nước mà tôi thường thấy treo ở trên công sở và đường sá. |
Ý chí của nhà cai trị và lòng dân?
| Trần Minh Thảo
Một vị tướng (vừa trở thành Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) trả lời phỏng vấn rất mạnh, hợp lòng dân, bộc lộ ý chí của một dân tộc tự quyết định vận mệnh của đất nước: Không để nước khác thỏa hiệp trên lưng mình. Trăm năm qua, đã mấy lần Việt Nam trơ mắt nhìn người ta bắt tay thỏa hiệp trên lưng? Đã phản ứng thế nào? Nếu người ta lại thỏa hiệp lần nữa thì Việt Nam hành xử ra sao? Thử xem bằng cách nào Đảng biến lời nói thành sức mạnh chặn đứng những bàn tay bẩn thỉu âm mưu "đẩy tốt qua sông" lần nữa (thỏa hiệp trên lưng hay bắt tay qua đầu khi có cùng một điều kiện: kẻ có lưng sẵn sàng khòm, có đầu sẵn sàng cúi). Có thể khẳng định, một nhà nước tồi với một dân tộc hèn thì tránh sao được việc người ta "múa gậy vườn hoang" trên vận mệnh dân tộc mình. Nói về nhà nước, trước hết phải xem xét từ kiểu nhà nước (quốc gia, chính quyền). Đặc điểm của nhà nước hình thành sau mỗi cuộc khởi nghĩa nông dân thành công là: -Bộ máy cai trị cha truyền con nối (phụ thừa tử kế, con thầy chùa lại quét lá đa) -Công hữu tài sản (chủ yếu là đất đai, dạng của cải quan yếu nhất của nền kinh tế nông nghiệp tuy đã phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại, "đất đai" là nhân tố quyết định nổ ra khởi nghĩa nông dân). -Nhà nước vô chính phủ (cai trị bằng ý chí của giai cấp thống trị đại diện bởi vị hoàng đế danh nghĩa – tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung gì đấy). Nhà nước ấy tất yếu là duy ý chí, điều hành bởi lợi ích phe nhóm, thỏa hiệp phe nhóm, coi nhà nước pháp quyền là thứ yếu, thậm chí là thù địch, là âm mưu diễn biến hòa bình. Luật pháp chỉ áp dụng cho thứ dân. -Quan hệ xã hội là quan hệ trên-dưới, lớn-nhỏ, chủ-tớ. -Quyền lực cai trị là tập hợp các thế lực, các thủ lĩnh của mỗi thế lực tạo địa bàn cát cứ khi mạnh lên sẽ tiêu diệt các thế lực khác, chưa mạnh hẳn thì thỏa hiệp phân chia quyền lực. Ông vua chỉ còn là "nhân danh". -Ngay khi cuộc khởi nghĩa nông dân toàn thắng thì đã manh nha trong lòng nó một cuộc khởi nghĩa nông dân khác. Mô hình cai trị sau khởi nghĩa nông dân thành công từng bị những nhà lý luận Mác-xít kết án là phản bội giai cấp. Xét khái quát tình hình chính trị xã hội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì thấy đúng như vậy. Bộ máy cai trị ở Trung Quốc là Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khởi nghĩa nông dân thành công, đi lên từ hai thế lực: thái tử đảng (cha truyền con nối) và đoàn phái (còn gọi là đội hậu bị của Đảng – cũng là thành phần cốt cán – con ông cháu cha, phần còn lại không phải là con ông cháu cha thì chỉ là thành phần "giơ tay nhất trí"), đất đai vẫn được coi là tài sản chủ yếu thuộc quyền quản lý của tầng lớp thống trị (công hữu), ý chí của tầng lớp thống trị là vô đối, trái với ý chí đó đều bị buộc tội là phản động (vụ Lưu Hiểu Ba và Hiến chương 08 là một dẫn chứng. Do đó, giải Nobel Hòa bình cho ông được coi là một cú đánh vào thành trì thống trị của Đảng, là chống phá nhà nước Trung Quốc, thứ nhà nước "khởi nghĩa nông dân"). Việt Nam giống Trung Quốc đến mức nào? Nhà nước linh hoạt, sáng tạo hay nhà nước vô chính phủ và cơ chế thủ lĩnh? Do thói quen hay cố ý, khái niệm nhà nước và chính quyền thường dùng thay thế nhau gây nhầm lẫn. TS Cù Huy Hà Vũ bị cáo buộc tội chống nhà nước (Xhcnvn) nhưng xét việc làm của ông thì "nhà nước" ở đây là "chính quyền", không phải là "quốc gia". Phản đối chính quyền, phê phán chính quyền, buộc tội chính quyền không coi trọng lợi ích quốc gia, dân tộc, chỉ chú ý vun vén lợi ích phe nhóm, xâm hại lợi ích quốc gia thì không phải là chống nhà nước. Việc ấy, trong các xã hội trọng pháp, người công dân có quyền làm dựa trên luật pháp. Cũng không chừng, việc bắt vị tiến sĩ luật là theo phương thức "thần thiêng nhờ bộ hạ", bộ hạ thực hiện mà thần muốn còn thiêng nên cũng phải gật đầu (tức là thực quyền nằm ở bên dưới). Xét rộng ra, theo tôi, những việc làm rất có trách nhiệm của TS Cù Huy Hà Vũ là để bảo vệ, kiện toàn nhà nước ở cả hai nghĩa: quốc gia, chính quyền. Tại một địa phương, vị Chủ tịch UBND bị "đấu tố": làm gì cũng luật và luật, không có năng lực sáng tạo, linh hoạt. Vị Chủ tịch bị mất chức, bị thuyên chuyển. Ở một địa phương kế cận, vị Chủ tịch UBND lại được khen biết làm việc, rất linh hoạt. Vị này được cho đi tham quan, học hỏi nước anh em, tương lai còn lên. Sáng tạo, linh hoạt chính là mị dân, tùy tiện, vô chính phủ, bất chấp luật lệ, lợi ích nhân dân, quốc gia (một thứ chủ nghĩa dân túy kiểu châu Á?). Nhưng tại sao đảng cầm quyền đánh giá cao những đảng viên "sáng tạo, linh hoạt", lên án những đảng viên nào có ý thức về kỷ cương, luật pháp là chống Đảng? Phương thức điều hành việc nước của đảng cai trị nói lên điều đó. Đó là phương thức "kiên định, sáng tạo" được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong dự thảo nghị quyết đại hội Đảng lần thứ XI. "Kiên định, sáng tạo" phải chăng là tùy tiện, duy ý chí, coi nhẹ lợi ích của nhân dân, đất nước? Vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên, vụ phá sản tập đoàn Vinashin, đại dự án đường sắt cao tốc, bán đất rừng… cũng nằm trong "phạm trù" nhà nước (chính quyền) linh hoạt, tùy tiện, nhân danh nhà nước (quốc gia) làm những việc xâm hại an ninh quốc gia. Chứng minh ai đó nhân danh Đảng chấp chính hay nhà nước, làm trái luật có hại cho dân tộc là không khó. Nhà nước linh hoạt, tùy tiện thực chất là nhà nước vô chính phủ. Một nhà nước vô chính phủ lại buộc tội người khác chống phá nhà nước, vi phạm pháp luật thì có hợp lý, hợp lẽ? Không hợp lý lẽ nhưng phải chăng hợp với quyền lợi của từng phe nhóm, từng vùng ảnh hưởng của các thủ lĩnh trong đảng cai trị? Một vài dẫn chứng cho thấy cai trị kiểu "vô chính phủ" đã đưa đất nước lâm vào tình trạng tệ hại hiện nay: -Về nội trị 1/Tấm bản đồ lốm đốm Trong Hội thảo góp ý cho văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI do Hội Khoa học Kinh tế và Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia (Bộ Kế hoạch – Đầu tư) tổ chức, với sự tham dự của 22 trí thức – đảng viên cao cấp, đại diện Văn phòng Trung ương Đảng, Hội đồng Lý luận Trung ương, có một vị yêu cầu Đảng, Nhà nước công khai bản đồ Việt Nam ghi rõ các nơi có sự đứng chân của Trung Quốc. Nếu Đảng, nhà nước làm việc đó thì bản đồ Việt Nam là một thứ lốm đốm, da báo, xôi đậu (một thứ dư đồ rách của Tản Đà). (Nguyễn Trung: "Tôi chỉ xin đề nghị thế này, nếu Đại hội chưa làm được cái việc này xin làm ơn vẽ cho một cái bản đồ của nước ta ở những địa điểm nào Trung Quốc có những xí nghiệp gì. Các anh chỉ cần nhìn vào cái bản đồ này thôi các anh sẽ thấy vấn đề nó ra làm sao."). (Toàn văn hội thảo nghe, xem tại đây). Vậy TS Cù Huy Hà Vũ chống nhà nước nói chung – là quốc gia (thực chất, chống như vậy cũng là vô chính phủ) – hay chống loại nhà nước (chính quyền) rước người ngoài vào "chiếm đóng", "khai thác", khuynh loát đất nước? Xét các cáo buộc của vị tiến sĩ luật thì thấy ông không chống nhà nước, ông chỉ chống những người nhân danh lợi ích đảng cai trị, nhà nước làm khốn quốc gia. Tấm bản đồ lốm đốm, xôi đậu còn cho thấy tư tưởng nước lớn nước nhỏ, dưới trên, chủ tớ của văn hóa Khổng Nho được Đảng Trung Quốc hiện đại hóa về ngôn từ (anh em đồng chí "4, 16" gì đấy). 2/ Hành tinh Oxy Là nhan đề cuốn truyện khoa học giả tưởng của một nước Đông Âu ("Hành tinh Oxy" của Klara Seher, nữ văn sĩ người Hungary (?), đã được dịch và nhà xuất bản Kim Đồng phát hành 30 năm trước). Trên hành tinh này có một thiên đường của tầng lớp cai trị thừa mứa oxy và một địa ngục mà oxy được bọn thống trị cấp phát hàng ngày như một thứ ân huệ hoặc trừng phạt. Ở Việt Nam, thỉnh thoảng nghe nói ông này, bà kia chỉ dùng rau trái sạch trong nhà kính, có bệnh viện riêng rất hiện đại, ăn uống hàng ngày cũng khác dân thường (BBC: Phở cộng sản)… Trung Quốc và Việt Nam có những đặc điểm của hành tinh "thiên đường oxy"? Việt Nam hiện nay có không một tầng lớp ngồi ở trên và đại bộ phận sống lay lắt ở dưới? Ai đụng đến "thiên đường oxy" đều bị khoác tội "chống phá nhà nước XHCN"? 3/"Kẻ ăn không hết, người lần không ra" Vinashin mất khả năng chi trả nợ đến hạn, Evn thì tự thú đang đứng ở chân tường và kiên quyết tăng giá điện trong năm 2011 (xem tại đây )… Nhiều ý kiến chuyên môn nói nợ quốc gia ở mức báo động nhưng chưa nghe Đảng khẳng định nợ nhà nước đang ở mức an toàn. Trong khi đó các đại gia ngày càng giàu, các nhà văn, nhà báo có tâm huyết gọi họ là "trọc phú" do cách xài tiền "kiểu Mỹ". Trong một xã hội phần nhỏ "ăn không hết", phần lớn "lần không ra", của cải xã hội nhiều lên do đổi mới chủ yếu nằm trong tay ai? Sự sụp đổ, nợ nần, thua lỗ của các tập đoàn nhà nước làm ai giàu lên, ai nghèo đi, thành phần nào trong xã hội dễ bị tổn thương do các cuộc khủng hoảng sinh ra từ đường lối, chính sách "vô chính phủ"? Về ngoại giao 4/ Bán và mất Phải bán gì và phải mất gì để Việt Nam trở thành "hành tinh Oxy"? Một quyền lực cai trị không thể không linh hoạt, không thể không vô chính phủ là vì lẽ gì? TS Cù Huy Hà Vũ và những vị đang ngồi tù vì tội "chống phá nhà nước" có lẽ tin rằng có thể chuyển hóa một nhà nước (chính quyền) lạc hậu, vô chính phủ, chia năm xẻ bảy thành một nhà nước thống nhất, văn minh, hiện đại, thượng tôn pháp luật? Có thể chặn đứng việc "bán" và "mất" những thứ quý giá nhất của Tổ quốc? Theo tôi, sau Đại hội, Đảng nên mở một đợt sinh hoạt chính trị nội bộ, cung cấp đủ thông tin về "bán" và do đó bị "mất" những gì cho 3,5 triệu đảng viên và người dân biết. Có làm được không? Ít ra là nên cho đảng viên và người dân biết về "tấm bản đồ lốm đốm" và "tình hình biển Đông không có gì mới". 5/ Ý bạn là ý trời? Vụ hai lãnh đạo cũ kết tội ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội tội chống Đảng do ông ấy đề nghị sửa hiến pháp (xem tại đây), vụ bauxite Tây Nguyên được nói là "chủ trương lớn" của Đảng, đường sắt cao tốc được khẳng định không thể không làm,… những việc lớn đó là theo ý muốn của ai? Dư luận trong, ngoài nước nói Việt Nam không thoát ra được cái bóng của Trung Quốc, không thể có độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ? Ai đã đưa đẩy đất nước vốn "ra đường gặp anh hùng" đến tình trạng tồi tệ đó? 6/ Kim chỉ nam hay kim chỉ bắc? Một nhà nước sinh ra từ cuộc khởi nghĩa nông dân thì luôn là một nhà nước vô chính phủ, mất định hướng, phát triển tùy tiện dù cho nó tự nói về kim chỉ nam, ánh sáng của chủ nghĩa này, tư tưởng nọ nếu nhà nước ấy không bước ra khỏi truyền thống, tập quán vô chính phủ của các cuộc khởi nghĩa nông dân có trong lịch sử Trung Quốc, Việt Nam. Dù nói gì thì kim chỉ nam của cuộc cách mạng vẫn là "sáng tạo", "linh hoạt", "vô chính phủ" để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước đi tới chủ nghĩa xã hội. "Kim chỉ nam" nào chỉ ra con đường chuyển cuộc khởi nghĩa nông dân thành ra cuộc cách mạng dân chủ, nhà nước pháp quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên truyền ở những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa? Không thấy có con đường nào, không có con người nào, không có kế sách nào vì chính trị thì cấm đa đảng, kinh tế thì công hữu về thực chất và nước ngoài đang đứng chân trên nhiều địa bàn trọng yếu của tổ quốc Việt Nam. Trong tình hình đó muốn giữ vững ổn định chính trị thì chỉ có một cách: xây thêm nhà tù, tăng cường lực lượng trấn áp… Có người nói, định hướng thế nào được khi "kim chỉ nam" lại là "kim chỉ bắc"? Tùy tiện, tùy hứng vẫn là cách làm việc nước phổ quát với khẩu hiệu "kiên định" và "sáng tạo" làm cho xã hội lúng túng như gà mắc tóc. Chưa rõ đảng cai trị giải quyết hình thái chiếm hữu và quan hệ xã hội chủ-tớ thế nào để đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp văn minh tiến bộ, giữ được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển bền vững. Cũng chưa thấy đảng cai trị làm gì để cải tạo chế độ chính trị dựa trên thành tích "khởi nghĩa nông dân" khi vẫn cứ coi "quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (tức là lãnh đạo cho đến khi nào có chủ nghĩa xã hội) là lý tưởng chính trị của Đảng. Có thứ chủ nghĩa xã hội nào không coi công hữu của cải xã hội là mục đích? Lịch sử nhân loại chưa có bằng chứng về công hữu tài sản có tên chủ nghĩa xã hội mà chỉ có tên gọi cho kiểu chiếm hữu ấy là quân chủ phong kiến – coi của cải nói chung là của nhà vua, nhân dân là tôi tớ của nhà vua. Cuối cùng là chưa thấy đảng cai trị làm gì để không bị nước lớn bắt tay nhau trên đầu (trên lưng?) khi phương thức cai trị đã làm suy đồi mọi thứ kể cả lòng tin của người dân vào chế độ, vào bộ máy cai trị và các giá trị nhân văn khác. Vị tướng trả lời phỏng vấn (thể hiện ý Đảng) có chí khí nhưng cũng "lực bất tòng tâm", chỉ tại cái "la bàn chỉ bắc" làm cho "lòng dân đổi khác". T. M. T. Tác giả gửi trực tiếp cho BVN. |