Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

25 tháng 2 2010

Cảnh báo về các dự án cho thuê rừng

Những lời chống chế của các vị quan cấp tỉnh về các việc tày trời mà họ đã làm (bán rừng đầu nguồn) ai mà chẳng biết tỏng là có được mấy đồng cân giá trị đâu. Thôi thì họ cứ chống chế như xưa nay họ vẫn chống chế trước bao nhiêu việc họ đã từng làm khiến người dân nhiều địa phương nhức nhối mà cũng đành phải cắn răng chịu. Bận tâm về uy tín và tư cách của họ hình như giờ đây đã là thừa vì họ thuộc típ người "lờn thuốc" mất rồi. Còn trách nhiệm của người hết lòng với dân với nước thì cứ phải lên tiếng trước mọi điều trái tai gai mắt và có nguy cơ ảnh hưởng tới tồn vong của dân tộc. Cảnh báo là cảnh báo với cơ quan quyền lực tối cao, nhưng quan trọng hơn là cảnh báo với toàn dân, rằng tình thế đang bất an, thế cũng đã đủ để gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh. Hậu quả thế nào, nhân dân Việt Nam với lương tri tỉnh táo chắc chắn sẽ biết cách lo liệu.
Bauxite Việt Nam


Đã có nhiều báo động đỏ về tàn phá rừng đầu nguồn

Hai nhà lão thành cách mạng vừa lên tiếng cảnh báo về việc Việt Nam cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng trong khi địa phương bác bỏ quan ngại.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cuối tháng trước đã công bố lá thư về việc 10 tỉnh trong nước "đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305.3534 ha, trong đó Hong Kong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264.000 ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới".
Các tỉnh đã ký hợp đồng cho nước ngoài thuê đất nằm ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam.
Hai ông vạch rõ trong lá thư: "Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia" và "Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn".
"Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo" – Thư của hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh

Theo phân tích của họ, tiềm ẩn hiểm họa là ở chỗ nước ngoài đã thuê được đất thì cũng có thể "phá rừng vô tội vạ".
"Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo."
Hai vị cựu tướng cũng cảnh báo về nguy cơ di dân, nhất là từ Trung Quốc, vào để thực hiện các dự án thuê rừng này.
Họ yêu cầu đình chỉ các dự án cho thuê rừng ngay lập tức.
Bức thư của hai ông khi công bố đã gây chú ý đặc biệt của dư luận, vì đất đai là tài sản quốc gia, và các mảnh đất địa đầu có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng.
Đây không phải lần đầu tiên các vị lão thành cách mạng phản đối các dự án khai thác nguồn lợi thiên nhiên ở Việt Nam mà theo họ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và xã hội.
Một số cựu tướng lãnh, trong có Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, từng lên tiếng về việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, nhưng các dự án vẫn được tiến hành.
'Không cho thuê rừng phòng hộ'
Riêng tại tỉnh Lạng Sơn giáp với Trung Quốc, hiện đã có hai dự án cho nước ngoài thuê rừng.
Dự án thứ nhất đang được triển khai gồm 63.000 ha trồng rừng gỗ nguyên liệu cao cấp tại địa bàn 7 huyện. Dự án thứ hai chưa thực hiện gồm gần 9.500 ha trồng gỗ nguyên liệu bột giấy tại 4 huyện.
Lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn bác bỏ quan ngại về nguy cơ "mất rừng". Ông Đào Đức Hoan, Chánh Văn phòng UBND tỉnh, nói với BBC rằng khi cấp phép cho các dự án, chính quyền địa phương đã cân nhắc kỹ lưỡng "vì lợi ích chung của cộng đồng, vì sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và quốc gia".
Khi cấp phép cho các dự án, chính quyền địa phương đã cân nhắc kỹ lưỡng vì lợi ích chung của cộng đồng, vì sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và quốc gia.
Chánh VP UBND tỉnh Lạng Sơn Đào Đức Hoan
Ông Lý Vinh Quang, Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư Lạng Sơn, thì khẳng định rằng đất giao cho chủ đầu tư nước ngoài hoàn toàn là "rừng sản xuất chứ không phải rừng phòng hộ" và "không có mua bán đất đai, chuyển nhượng sở hữu mà chỉ có cho thuê".
Ông Quang cũng nói cơ quan Tài nguyên-Môi trường tỉnh có cơ chế để giám sát các dự án sao cho bảo đảm về môi trường lâu dài và việc cho thuê đất được thực hiện theo đúng quy trình quy định của Nhà nước.
Nhận định về lá thư của các vị lão thành cách mạng nói ở trên, ông cho rằng đây "chỉ là ý kiến cá nhân", "có thể bắt nguồn từ thông tin không đúng và sai lệch".
Ông Lý Vinh Quang cũng bác bỏ quan ngại về yếu tố Trung Quốc trong các dự án, với lý do rằng quá trình thẩm định không phân biệt nhà đầu tư đến từ nước nào.
Nguồn: bbc.co.uk

'Trách nhiệm là phải lên tiếng'


Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Cuối tháng trước, hai nhà cách mạng lão thành là Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã công bố lá thư cảnh báo về việc chính quyền 10 tỉnh ở trong nước cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng dài hạn.
Hai ông bày tỏ lo ngại trước việc rừng đầu nguồn tại các vị trí xung yếu có thể bị xâm hại, và yêu cầu Nhà nước đình chỉ ngay các dự án này.
Tuy nhiên, giới chức địa phương khi được phỏng vấn đã bác bỏ quan ngại với lý do các dự án đều đã được cân nhắc kỹ lưỡng vì lợi ích của cộng đồng dân cư và không có chuyện đình chỉ dự án.
Có ý kiến cho rằng kiến nghị của hai vị cựu tướng là bắt nguồn từ việc thiếu thông tin chính xác.
Đài BBC đã hỏi chuyện Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, xung quanh chủ đề này.
Ông Nguyễn Trọng Vĩnh: Đình chỉ hay không đình chỉ dự án là quyết định của Bộ Chính trị, của Thủ tướng Chính phủ. Còn lá thư của ông Đồng Sĩ Nguyên và của tôi, chúng tôi căn cứ vào kết quả điều tra của các đoàn kiểm tra liên ngành do Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát chủ trì.
Không phải tất cả số đất giao cho công ty nước ngoài ấy là rừng đầu nguồn, nhưng có rừng đầu nguồn.
BBC: Thưa ông, giới chức địa phương khẳng định không có chuyện bán, hay chuyển nhượng đất, mà chỉ là cho thuê sử dụng đất.
Ông Nguyễn Trọng Vĩnh: Trong bức thư chúng tôi có đề cập tới việc bán, hoặc cho thuê dài hạn 50 năm. Cho thuê với thời hạn dài như vậy, không kiểm soát được. Người ta có thể phá hoại rừng với lý do chặt rừng cũ, trồng rừng mới.
Những chứng cứ đó đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho kiểm tra rồi.
BBC: Khi chúng tôi nói chuyện với giới chức địa phương, thì được biết trong quá trình thẩm định dự án không có chú ý phân biệt quốc tịch của nhà đầu tư. Vậy thưa ông, có cần thiết nhắc tới rằng những công ty thuê đất này chủ yếu đều của doanh nghiệp gốc Hoa, như Hong Kong, Đài Loan, Trung Quốc?
Ông Nguyễn Trọng Vĩnh: Nhà đầu tư từ đâu thì chúng tôi chỉ ra họ từ đó tới, chứ tại sao lại không nói?
Giả như nhà đầu tư từ Mỹ, từ Pháp, thì chúng tôi cũng nói là họ từ Mỹ hay Pháp.
Còn đây là các nhà đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan. Trung Quốc mua hay thuê rừng dài hạn, thì chúng tôi nói rõ ra như vậy.
Cần phải nhớ tới khía cạnh di dân. Có nhà đầu tư đã có tiền sử chuyển người của mình tới thực hiện dự án, khai thác công trình mà họ đầu tư – đó chính là di dân chứ còn là gì nữa.
Ngay những công trình mà họ trúng thầu ở dưới đồng bằng ven biển này, họ cũng mang công nhân của họ tới làm chứ có thuê người địa phương của chúng tôi đâu?
BBC: Thư gửi đi đã khá lâu, thưa ông, vậy tới nay đã có phản hồi chưa ạ?
Ông Nguyễn Trọng Vĩnh: Bức thư của chúng tôi sau này chúng tôi mới cho đăng trên mạng internet. Nhưng từ trước, tới nay độ một tháng rồi, ông Đồng Sĩ Nguyên và tôi đều đã gửi thư đó lên Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ về các dự án cho nước ngoài thuê rừng.
Hiện chưa có phản hồi gì cả. Từ trước đến nay, thậm chí cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư còn chẳng được phản hồi nữa là chúng tôi!
BBC: Thực lòng mà nói, ông có hy vọng những đề đạt và trăn trở của mình sẽ được ghi nhận và phản hồi không ạ?
Ông Nguyễn Trọng Vĩnh: Cái đó thì chúng tôi không thể nào nói được. Việc chúng tôi thấy cần làm thì chúng tôi cứ làm thôi.
Phản hồi hay không phản hồi, những nhà cầm quyền của chúng tôi có giải quyết hay không, thì là những chuyện chúng tôi không thể biết được.
Nguồn: bbc.co.uk

Nước và Dân trước, Đảng sau



Ảnh minh họa, trích từ Dân trí online

Nhân bài báo của nhà báo Hữu Thọ – cựu Tổng biên tập báo Nhân dân - về chuyện khẩu hiệu, tôi xin góp đôi lời về chuyện xung quanh việc khẩu hiệu bao giờ cũng  "Mừng Đảng, mừng Xuân".
Trước hết, không có quy định nào, nhưng từ vô thức hoặc giả thói quen, chữ Đảng đã được danh từ riêng hóa như là từ để dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ rất lâu, tôi đã muốn dùng từ Dân viết hoa cho nó tương xứng và cho nó đúng, bởi không lý gì Đảng thì viết hoa mà Dân lại không? Hoặc là cả hai phải được viết hoa hoặc cả hai đều không viết hoa. Mặt khác, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết hoa từ Tổ quốc cũng là điều buộc chúng ta phải suy nghĩ.
Thứ hai, trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có khá nhiều điều bất ngờ. Ở đây tôi chỉ nhấn mạnh rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt Tổ quốc, Nhân dân trước tất cả những vấn đề khác. Trong Di chúc có hai lần ghi rõ điều này: "muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng" và "hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng…" (Bác viết hoa hai từ Tổ quốc trong nguyên bản). Cách gửi gắm tư tưởng đó của Hồ Chủ tịch sẽ được chúng ta hiểu rõ hơn nếu đọc ở câu cuối cùng khi Bác đặt Đảng đứng trước hai chữ "nhân dân" để nói về đoàn kết: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân đoàn kết phấn đấu…". Đoàn kết thì Đảng cần phải giữ gìn, phát huy mạnh mẽ hơn, đi trước và lo trước khi xây dựng khối đoàn kết toàn dân; nhưng tình cảm của Bác cũng như của Nhà nước thì phải chăm lo cho dân, cho Tổ quốc trước, cho cách mạng sau. Như vậy, lập luận cho rằng kiểu nói "Mừng Đảng, Mừng Xuân" là theo thói quen trong trường hợp này, thì là thói quen của ai (?). Bác Hồ có thói quen đó đâu!

Chúng ta đã từng biết không ít lần Bác Hồ dùng từ ngữ đến mức kỳ tuyệt. Dẫn chứng điển hình nhất là tại Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (10 – 19.5.1941), Bác đã đề nghị thay Mặt trận Dân tộc Thống nhất phản đế Đông Dương bằng Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh. Đó là một trong những cách "đặt tên" hay nhất, xét về cả ngôn từ, ý nghĩa và nội dung, đối với trong nước cũng như quốc tế!
Thứ ba, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, chứ không  nhắc đến cụm từ Nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong phần nói về thanh niên, Người lại nói là đào tạo thanh niên thành "những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội". Như thế, rõ ràng là Bác Hồ  ngầm định rằng chủ nghĩa xã hội là vấn đề của tương lai, chứ không phải là mục tiêu ngay giai đoạn trước mắt (?). Trong Chánh cương vắn tắt cũng không có cụm từ trên, mà Nguyễn Ái Quốc chỉ viết rằng "Về phương diện chính trị" là "Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập", "Dựng ra chính phủ công nông binh" (HCM Toàn tập, T. 3; tr. 3). Rất có thể là trong bối cảnh dựng nước (1930) và trong cả sự ngặt nghèo khi giữ nước (1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đều muốn tránh nhắc đến cụm từ có thể coi là thiếu mềm giẻo trên phương diện ngoại giao cũng như ngầm định về thực tiễn của nước ta (?)! Suy giải trên có thể đúng nếu chúng ta thấy rằng Bác Hồ đã đặt tên Nước là "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" và tên Đảng là "Đảng Lao động Việt Nam". Sự tinh tế, cân nhắc các sự kiện, cách dùng từ cho phù hợp với thực tiễn hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, phản ánh thật rõ tầm nhìn mẫn tiệp, sâu sắc, phi thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Xin được bày tỏ sự cảm ơn đối với việc nhà báo Hữu Thọ đã nói lên một điều thật nhạy cảm và thật hay. Cái lý đã có. Sự thay đổi là cần thiết. Sẽ chẳng có gì là không trôi chảy khi ta viết: "Mừng Đất nước, mừng Xuân, mừng Đảng". Vừa hợp lý lại đúng tình.
Huế, 8 Tết – 21.2.2010
http://boxitvn.blogspot.com/2010/02/nuoc-va-dan-truoc-ang-sau.html

Hà Văn Thịnh

Dù có phải bồi thường cũng được…?

Tác giả Hà Văn Thịnh – một giảng viên đại học – bằng giọng điệu thiết tha, đã gióng tiếp hồi chuông cảnh báo về nguy cơ toàn vẹn lãnh thổ khi cho thuê dài hạn rừng đầu nguồn. Cái khác ở chỗ, trong bài viết của mình, đối tượng mà tướng Đồng Sĩ Nguyên và tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nhắm đến trong lời cảnh báo là nhóm quan chức chính quyền đã làm cái việc tày trời mang dáng dấp u muội khi cho người nước ngoài, ở đây là TQ, thuê dài hạn rừng đầu nguồn, thì HVT, mặc dù tự cho mình là dân đen, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một trí thức đang làm công việc giảng dạy lịch sử bậc đại học, đối tượng chủ yếu mà tác giả nhắm đến trong lời cảnh báo của mình là "các vị tướng, các nhà khoa học, những bậc thức giả tên tuổi hãy vào cuộc tranh luận công khai với các vị lãnh đạo có trách nhiệm để mổ xẻ rốt ráo tất cả mọi vấn đề liên quan đến hiểm họa này. Buộc họ phải tranh luận chứ không thể vòng vo như lâu nay vẫn vậy".
Hãy nhớ rằng, sinh thời, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, trong một phỏng vấn hiếm hoi với BBC, đã nói: "Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả" (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080611_vovankiet_dies.shtml).
BVN hoan nghênh cách đặt vấn đề mà tác giả HVT đã thể hiện trong bài viết rất đỗi xót xa của mình.
Bauxite Việt Nam



Núi rừng Lạng Sơn. - Ảnh: Quoc, Nhu Vo
Bây giờ là 22h13' đêm 30 Tết Canh Dần. Tôi vừa đọc xong, đọc kỹ bức tâm thư của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên đồng ký tên với Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh về việc kiến nghị không cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc thuê đất rừng đầu nguồn với diện tích lớn (264.000 ha), thời hạn dài (50 năm). Số đất đó phân bổ trên địa bàn của 10 tỉnh – tất thảy đều liên quan đến sự xung yếu của biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Kon Tum, Bình Dương… Cuối bài, cả hai vị tướng chỉ có thể thở dài: "Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước".
Khỏi phải nói rằng đây không phải là thời khắc để bàn chuyện chung mà nên nghĩ đến việc riêng. Thế nhưng, giọt nước mắt cuối cùng của năm Kỷ Sửu vẫn phải chảy cho dù chỉ còn chưa đầy 100 phút nữa là nó vĩnh biệt chúng ta. Hai vị tướng – những con người mà khi xưa – thời thơ ấu, tôi chỉ ước ao được chạm vào ống tay áo của họ dẫu chỉ là chút sợt qua, bây giờ, mềm mỏng, nhẹ nhàng, nói như thở than, đau mà không thể diễn đạt, và cầu mong, giống như ai đó đã từng lên chùa rằng, "dù có phải bồi thường cũng được"(!)?
Ở đây, tôi không có ý định góp ý cho hai vị tướng về chuyện bồi thường bởi tôi hoàn toàn đồng ý về nước cờ bí dí tốt này – thà bồi thường lớn còn hơn hậu quả nặng nề. Thế nhưng, tôi rất buồn là đến cả những vị tướng đã từng, vẫn từng hy sinh cả cuộc đời vì dân vì nước mà còn phải nói nhẹ nhàng như thế, thì thử hỏi dân đen hé miệng cách nào? Đau nỗi đau Giao Thừa vì sự ngột ngạt và hiểm họa bi thảm không thể nói đủ thành lời. Cái sai của tập thể hay của bất kỳ cá nhân nào, cần phải được chỉ mặt, đặt tên. Không thể có chuyện sai lầm nghiêm trọng mà lại không hề có tội phạm nghiêm trọng. Đó là nguyên tắc của sự thật. Cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tướng Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là những tên tuổi lớn không thể sai lầm trong chuyện quốc gia đại sự.
Rừng đầu nguồn cho "người ta" thuê đến 50 năm, chặt phá tự do và không loại trừ chuyện được chân lấn đầu để di dân thoải mái cũng như chuyện "…để lâu hóa bùn" là lẽ đương nhiên. Ngày xưa Tố Như nghĩ rằng 300 năm sau chẳng ai khóc ông nhưng ngày nay, chưa đến 50 năm sau con cháu phải khóc vì những hệ lụy hôm nay là điều thấy rõ nhãn tiền. Đất rừng đâu đến nỗi không có người để quản lý đầu tư mà phải cho nước ngoài xông vào chiếm cứ? Nên nhớ rằng trước năm 1959, người Hán ở Tây Tạng chỉ có 5% dân số, sau 50 năm, bây giờ là 41%(!). Thậm chí, kinh nghiệm lịch sử cho thấy với tham vọng "bắt Việt Nam quay lại thời Giao Chỉ", thì những giọt nước mắt bi thảm còn nhanh hơn, nhiều hơn nữa.
Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao hàng chục vị tướng, hàng ngàn, hàng vạn trí thức lại chưa nhìn thấy vấn đề? Bí mật đó chắc chắn không ít người biết nhưng tại sao không ai lên tiếng? Bây giờ là 22h35' đêm 30 Tết. Tôi muốn lặp lại câu nói của Luther King: " I Have a Dream – Tôi có một giấc mơ" rằng, trong năm mới, chúng ta hãy cùng nhau nói thật tất cả mọi điều, kể cả phải trả giá, nếu điều đó thực sự cần cho tương lai của cháu con chúng ta. Vì là một dân đen, tiếng nói của tôi không có mấy trọng lượng nên tôi ước ao rằng các vị tướng, các nhà khoa học, những bậc thức giả tên tuổi hãy vào cuộc tranh luận công khai với các vị lãnh đạo có trách nhiệm để mổ xẻ rốt ráo tất cả mọi vấn đề liên quan đến hiểm họa này. Buộc họ phải tranh luận chứ không thể vòng vo như lâu nay vẫn vậy. Nếu chúng ta đồng lòng vì đất nước thì không việc gì phải thở dài, không việc gì phải sợ, bởi tôi cho rằng nếu chúng ta còn tiếp tục sợ hãi sẽ không còn có cả cơ hội để sợ nữa chỉ trong mươi mười lăm năm nữa thôi…
Hãy xem tuyên bố của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trung Quốc về việc tăng cường tuần tra – bảo vệ quyền lợi ngư dân Trung Quốc (BBC, 12.2.2010) ở Trường  Sa; tức là ngang nhiên khẳng định chủ quyền(!), đủ hiểu rõ tham vọng và mục tiêu rất gần của Trung Quốc là thế nào. Đó là "tình hữu nghị lông ngỗng" không hơn, không kém! Không nhìn thấy sự đe dọa mang tính hủy diệt đó là cách nhắm mắt thông đồng với sai lầm và hiểm họa. Rất mong rằng những điều tôi vừa viết không phải là tiếng nghé ọ sau cùng của một con trâu!
22h45', đêm 30 Tết Canh Dần
H.V.T

HO Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Lòng yêu nước không là độc quyền của riêng ai

Nói đi nói lại về lòng yêu nước mà vẫn không chán, mà rồi lại vẫn cứ phải nói, phải lý giải bằng cách này hay bằng cách kia, điều đó chứng tỏ trong tâm thức dân tộc chúng ta, lòng yêu nước là một cái gì luôn luôn canh cánh, một món nợ lòng đối với Tổ quốc mà hễ một lúc nào quên lãng, thì không còn xứng đáng là người. Khốn thay, thời buổi kinh tế thị trường này, mọi thứ đều có thể đem ra bán, thì cái thiêng liêng nhất là lòng yêu nước cũng có thể bị đem bán lắm. Nhưng những ai sở hữu lòng yêu nước thì đương nhiên không bao giờ bán vì bán nó đi là bán một phần cơ thể của mình, chắc chắn mình sẽ tự triệt tiêu mình. Vậy thì ai có thể bán cái mà cả dân tộc này sở hữu? Nếu đất đai là sở hữu vật chất thiêng liêng của toàn dân mà những kẻ nào đó còn có thể ngang nhiên tìm cách này cách khác chiếm đoạt và đem bán thì lòng yêu nước cũng chính là cái phần đất đai phi vật thể phân đều trong mỗi con người Việt Nam. Ai bán được đất đai thì cũng bán được lòng yêu nước. Không bao giờ thừa nếu cả dân tộc chúng ta nâng cao tinh thần cảnh giác với chúng.
Bauxite Việt Nam
Thế hệ hôm nay lại triển khai lòng yêu nước bằng cách trau dồi tri thức, năng lực làm giàu cho cộng đồng và làm giàu cho chính mình
Lâu nay, người ta hay có thói quen suy nghĩ trên một lộ trình đường ray rằng, cái gì đã định hình thì mãi mãi định hình, bất biến, không thay đổi. Ví như lòng yêu nước.
Qua đó, số người này muốn khẳng định chắc nịch: Đã yêu nước là phải xả thân, phải gắn bó tận cùng với số phận của non sông của dân tộc, quên hẳn cái cá nhân vị kỷ của mình đi, chỉ để cho cái lợi ích của cộng đồng lên trên tất cả, nếu cần hy sinh luôn thân mình vì nghĩa lớn.
Đúng! Điều đó hoàn toàn đúng. Bao lâu nay, nhất là trong những điều kiện giặc giã, mất còn sinh tử, cái chủ thuyết mang hồn khí của lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm đó đã tạo dựng nên diện mạo non sông, đã hun đúc nên phẩm cách của dân tộc để đến hôm nay, ta có thể ngẩng cao đầu mà tự hào nói to lên rằng, hết thảy mọi vinh quang và chiến công đó đều thuộc về lòng yêu nước sâu thẳm và bất diệt của người dân Việt.
Nhưng lòng yêu nước không phải bao giờ cũng trung trinh một chiều bền vững. Khi có giặc, lòng yêu nước mặc nhiên được dâng lên như triều cường để bảo vệ chính mình, gia đình thân yêu và giang sơn của mình. Con người lúc ấy mới cao thượng và tốt đẹp làm sao. Trong vắt và tinh khiết làm sao. Tất cả được hội tụ, nâng lên thành những giá trị tinh thần bất khả chiến bại [1] mà đỉnh cao là chủ nghĩa anh hùng bách chiến bách thắng.

Thế rồi, bỗng một ngày không còn bóng giặc, con người bỗng phân thân kỳ lạ. Lòng yêu nước có vẻ như bị tan loãng vào cuộc sống mưu sinh khắc nghiệt thường ngày khiến cho nhiều khi khái niệm yêu nước trở nên bàng bạc, mơ hồ. Khi đó cái TÔI đã ngoi lên lấn át cái TA. Tiếng gào trống rỗng của những chiếc dạ dày và khát vọng hưởng thụ luôn ngự trị trong từng miếng ăn giấc ngủ. Lòng yêu nước thoắt trở nên một cái gì như là xa xỉ, không có thật. Hoặc có đi nữa lại thường chỉ âm thầm nằm day dứt trong trái tim những con người chính trực.
Còn một số khác lại hành trình ngược lại, luôn miệng hô hào yêu nước, thương dân, nhưng không từ một thủ đoạn nào vét cho đầy hầu bao. Mầm mống tham nhũng bắt đầu từ đó mà cái mầm mống này nó càng tệ hại hơn là chính họ lại đi nhân danh lòng yêu nước, yêu dân cần lao, đi đâu ngồi đâu cũng lớn tiếng rao giảng những điều cao siêu đạo lý, trong khi vẫn nhẫn tâm dấn sâu vào sự vô đạo. Họ luôn làm thất thoát, chiếm dụng, đục khoét vào vốn nhà nước, mượn đồng tiền nhà nước, tức là đồng tiền từ mồ hôi nước mắt của người dân đóng góp để vinh thân phì gia, để tự cho phép mình được hưởng một thu nhập chất ngất mà không cần biết xung quanh họ triệu triệu người còn thắt lưng buộc bụng. Họ nhân danh ai, nhân danh cái gì, đã làm lợi cho Tổ quốc được bao nhiêu mà có thể có những hành xử phi nhân và độc ác như thế? Đấy là một căn bệnh vô cảm dẫn đến thoái hóa lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc đã được đổi bằng núi xương sông máu của bao thế hệ mới có.
Mà thôi, ngày xuân nồng nàn chả nên đi sâu đi kỹ vào chuyện này làm gì, nó nhức nhối, nó ngóc ngách, giằng dịt, nó mất xuân đi. Chỉ hy vọng rằng, mỗi độ xuân về, dưới bầu trời xuân tâm linh thăm thẳm, cái tà khí sẽ bị xua dần đi và ánh thái dương cùng với nụ xuân tốt lành sẽ đâm chồi nảy lộc.
Giờ ta nên nói chuyện khác, chuyện về giới trẻ.
Không ít người cho rằng, giới trẻ hôm nay là vô ơn, là không màng gì đến nỗi đau và sự gắng gỏi không cùng của dân tộc đã rớm máu trải qua, là bạc nhược, là thiển cận, là đánh mất truyền thống, là chỉ biết chìm nghỉm vào cuộc sống vật chất hưởng thụ mà không lo đến tương lai, khát vọng, tiền đồ, lý tưởng của đất nước, cứ đà này rồi là chết, là thậm nguy, chí nguy nếu non sông lại phải đương đầu với thác ghềnh ghê gớm như đã từng đương đầu.
Nỗi lo này có phần nào đáng để tâm suy nghĩ vì nó đã nhỡn tiền xảy ra chỗ này chỗ khác, người này người khác, nhưng nếu tĩnh trí lại thì ắt sẽ tìm được lời giải khiến ta bình tâm hơn. Thì đó, sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, các đoàn binh tràn về qua năm cửa ô làm cuộc tiếp quản lịch sử, một đồng chí lãnh đạo đảng cao cấp thấy viên đạn bọc đường của đời sống đô thị, đời sống hòa bình làm thay đổi biết bao những chàng trai mà trước đó họ còn là những chiến binh kiêu hùng đã buộc phải thốt lên: "Gay rồi! Kiểu này không khéo sẽ mất hết cơ đồ!" Nhưng rồi khi chiến tranh nổ ra, Mỹ vào, lại chính những con người đó đã rùng rùng ra trận làm nên những chiến công huy hoàng không thua kém gì thời cha anh đánh Pháp.
Và bây giờ cũng vậy. Bởi một lẽ đơn giản nhưng đã được định vị chắc bền ở tầng sâu trầm tích: Lòng yêu nước không là độc quyền của riêng một thế hệ nào, thế hệ cha anh triển khai lòng yêu nước bằng cách xông pha vào trận diệt thù, còn thế hệ hôm nay lại triển khai lòng yêu nước bằng cách trau dồi tri thức, năng lực làm giàu cho cộng đồng và làm giàu cho chính mình. Song các thế hệ đều có một mẫu số chung là hạt kim cương của lòng tự trọng lấp lánh nằm trong lồng ngực, mà tới đây nếu có bất cứ một ai, một thế lực nào động chạm đến bàn thờ ông bà, xúc phạm đến dân tộc là thế hệ hôm nay cũng sẽ biết mở những cuộc hành binh oai hùng và tráng lệ không thua kém gì các thế hệ cha anh.
Lịch sử ngàn năm trận mạc chống ngoại xâm đã chứng minh điều đó. Và ngày hôm nay, thế hệ trẻ còn phải chứng minh thêm một điều nữa không kém phần cam go khốc liệt, đó là phải trả lời bằng được câu hỏi: Tại sao cái nhục mất nước ta không chịu được thì chả lẽ cái nhục đói nghèo ta lại dễ chịu đựng hay sao?
Nhìn về thăm thẳm chiều sâu lịch sử, nhìn về rạng ngời phía trước, ta có thể tin rằng, con người Việt Nam hôm nay, thế hệ trẻ hôm nay sẽ trả lời được, sẽ có cách trả lời. Tin như hết mưa trời lại nắng, hết đông lại chuyển sang hè. Mùa xuân nao nức đang về trên ngàn ngàn cây lá, cỏ xanh.
C.L
Nguồn: baodautu.vn

23 tháng 2 2010

Âm mưu thâm độc của Đặng Tiểu Bình khi phát động cuộc chiến 1979

BVN rất tán thành chủ trương "bỏ qua quá khứ hướng tới tương lai" của Nhà nước Việt Nam hiện nay trong quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, nhưng không vì thế mà về phương pháp nhận thức lịch sử, chúng ta lại phải xóa sạch những sự kiện đã từng diễn ra trên biên giới phía Bắc đất nước chúng ta cách đây 31 năm và từ lâu đã đi vào tình cảm thiêng liêng của 85 triệu con dân Việt Nam, hiện diện  trên bàn thờ của hàng vạn gia đình người Việt; hoặc có thái độ sợ sệt khi đề cập đến những sự kiện chấn động đó, đến nỗi phía bên kia viết ra điều gì thì sẵn sàng in lại một cách trang trọng kèm theo những lời bình đến người dân thường cũng thấy "khó ngửi", còn phía chúng ta, hễ động đến những chuyện nóng bỏng mà toàn dân vẫn ngày đêm ghi khắc trong tim mình thì lại cấm đoán hoặc làm như không hề có, không hề biết.
Xin được hỏi ông Giám đốc NXB Văn học một câu mà dám chắc trình độ của ông khó lòng giải đáp, dù thế cũng vẫn cứ xin mạnh dạn hỏi: Chẳng lẽ bây giờ, mỗi khi cần nói tới các chiến cuộc trong lịch sử Việt Nam mấy nghìn năm: quân Hán, quân Tống, quân Nguyên, quân Thanh từng rùng rùng kéo sang xâm lược nước ta… chúng ta lại cứ phải đem các bộ Hán thư, Hậu Hán thư, Tống sử, Nguyên sử, Thanh sử ra dịch và in, còn Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục do sử thần ta viết ra thì phải giấu kín tận trong kho lưu trữ hoặc đem tất cả ra làm mồi cho lửa hay sao? Chính vì nghĩ như thế mà lâu nay chúng tôi cứ băn khoăn, không biết ông Giám đốc NXB Văn học có thấy cái việc ông đã làm hoặc được ai đấy bật đèn xanh cho làm (in cuốn sách Ma chiến hữu), là một hành động trơ trẽn phản ánh cả một thái độ hèn hạ mà dân tộc này không có trong cốt tính của mình hay không?
Và cũng chính vì nghĩ như thế mà chúng tôi xin trân trọng đăng lại bài viết này của nhà văn Phạm Viết Đào đã đăng trên blog của anh ngày 17-02-2010, một tiếng nói dũng cảm, một bản lược thuật tương đối kỹ càng về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, để kỷ niệm sự kiện đẫm máu không đáng có giữa hai dân tộc Trung – Việt sau chặng đường ba thập kỷ mà phía nào cũng cần rút kinh nghiệm.
Bauxite Việt Nam


Đường tấn công của quân Trung Quốc vào Việt Năm năm 1979.


Năm 1978, Đặng Tiểu Bình trở lại chấp chính, tiếp nhận cơ đồ một đất nước Trung Hoa đổ nát tiêu điều vì nội chiến và những cuộc đấu đá nội bộ đẫm máu, tàn khốc dưới thời Mao Trạch Đông.
Trở lại chính trường, Đặng Tiểu Bình lập tức đưa ra 2 cương lĩnh và phương châm hành động nổi tiếng: Chương trình 4 hiện đại và mèo trằng mèo đen không quan trọng miễn là bắt được chuột…

Để thực hiện được cương lĩnh đầy tham vọng bốn hiện đại, Đặng Tiểu Bình thấy không thể không mở cửa nền kinh tế Trung Quốc để tranh thủ vốn liếng đầu tư và kỹ thuật của phương Tây…
Thực ra cương lĩnh hành động này có từ thời Mao Trạch Đông và người đứng ra thực hiện chủ trương này là Chu Ân Lai, song do áp lực của thế lực bảo thủ Trung Quốc nên chưa dám mạnh dạn. Tuyên bố Thượng Hải là một dấu hiệu cho thấy Trung Quốc không chỉ "liếc mắt đưa tình" với Mỹ mà đã có những hành động chuẩn bị đục phá tảng băng quan hệ giữa hai quốc gia này.
Để trả ơn cho hành động "ngoại tình" này, chính quyền Mỹ đã lờ cho Trung Quốc đánh chiến Hoàng Sa của Việt Nam như một thứ lễ chạm ngõ hai nhà. Mỹ muốn bắt tay với Trung Quốc để chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam hao người tốn của mà Mỹ không thể thắng.
Trung Quốc muốn mặc cả, đổi chác với Mỹ bằng cuộc chiến Việt Nam thông qua những áp lực mà Trung Quốc có thể tạo ra để mưu cầu những quyền lợi khác của mình. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Mỹ cam chịu thất bại hoàn toàn đã làm cho phiên chợ diễn ra cuộc mặc cả đổi chác này tan và những kẻ bỏ vốn cay cú vì nguy cơ cháy túi…

Đặng Tiểu Bình giương cao chiếc mũ cowboy trong chuyến thăm Mỹ

Do vậy để bắt tay hâm nóng lại quan hệ với Mỹ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tiến hành hàng loạt những động thái ngoại giao và quân sự:
1/ Kích động và cung cấp tiền bạc, vũ khi cho chế độ diệt chủng Pol Pot phát động một cuộc chiến tranh biên giới phía tây nam của Việt Nam; để phát động cuộc chiến tranh này, Trung Quốc đã lôi kéo một số đồng minh ngầm hoặc công khai ủng hộ trong đó có chính quyền Bắc Triều Tiên và chính quyền Ceausescu của Romania.
Còn nhớ vào năm 1978, đích thân tôi dẫn một đoàn xuất nhập khẩu phim của Romania vào thăm thành phố Hồ Chí Minh, khi vào tới nơi, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị tôi đưa đoàn Romania đến thăm triển lãm ảnh về về cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam – Campuchia, trong đó có nhiều hình ảnh lính Paul Pot chém giết man rợ đồng bào ta ở biên giới. Khi đi tôi đã cẩn thận dặn đoàn Romania đưa máy quay phim đi, nhưng họ đã không mang. Theo dõi thái độ của các đoàn viên đoàn Romania tôi thấy nhiều người thở dài… Tôi hiểu hình như bản thân họ cũng bị đẩy vào tình thế khó xử.
Sau này, vào ngày 17/9/1979 khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam, Đại sứ Romania tại Bắc Kinh là một trong những cơ quan ngoại giao được báo tin trước một ngày, theo như lời kể của ông Constantin Lupeanu lúc đó là cán bộ phiên dịch của Romania công tác tại Bắc Kinh.
Kích động Paul Pot chống Việt Nam, Trung Quốc nhằm đạt tới các mục tiêu sau đây: Nhằm hạ nhục Việt Nam để trên cơ sở này cô lập Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN và phưong Tây; tạo dựng cớ để Trung Quốc có cớ gây ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc…

Bộ đội VN bị Trung Quốc đưa vào nhà lao, nhỏ con hơn lính Trung Quốc nhưng vẫn tỏ ra cứng cỏi.
Sau chiến thắng mùa xuân 1975, Việt Nam được thế giới biết đến như một tấm gương anh hùng chống xâm lược; phát động cuộc chiến tranh trả đũa Pol Pot, mặc dù đây là hành động tự vệ chính đáng và để cứu một dân tộc khỏi thảm hoạ diệt chủng, nhưng: việc đưa quân đội sang một quốc gia khác là một hành động làm rúng động các quốc gia láng giềng với Campuchia. Sau Campuchia liệu Việt Nam có lấn tới không? Rõ ràng hành động quân sự này cho dù là cực chẳng đã nhưng rất khó giải thích về mặt chính trị và ngoại giao và phần nào làm mờ đi hành động chống và đánh thắng đội quân xâm lược Mỹ.

Tù binh Trung Quốc bị bắt cúi đầu, thất thểu...

Đây là ý đồ thâm độc của Trung Quốc, để từ xung đột biên giới này, Trung Quốc sẽ phát động cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc.
Phát động cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, Đặng Tiểu Bình nhằm hai mục đích: Một thứ sinh lễ ngoại giao của Trung Quốc để Trung Quốc bắt tay, bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Kẻ thù của kẻ thù là bạn: Mỹ đang coi Việt Nam là kẻ thù; vậy Trung Quốc đánh Việt Nam có thể coi là một cử chỉ hữu nghị mà Trung Quốc muốn sử dụng để lấy lòng Mỹ…


Bộ đội Việt Nam hy sinh anh dũng

2/ Mặt khác, khi chấp chính, Đặng Tiểu Bình tiếp nhận không chỉ một nền kinh tế điêu tàn mà cả một nền công nghiệp quốc phòng lạc hậu; do vậy song song với phát triển kinh tế là việc hiện đại hóa quân đội Trung Quốc – đó là một trong những nhiệm vụ số một của chính quyền Bắc Kinh dưới tay lái của Đặng Tiểu Bình…
Do vậy phát động cuộc chiến tranh biên giới 1979 chống Việt Nam, Đặng Tiểu Bình không chỉ đạt mục đích vừa lòng Mỹ, dạy cho Việt Nam một bài học để lấy le với thiên hạ mà còn có cơ sở thúc ép việc hiện đại hóa quân đội Trung Quốc…

Tù binh Trung Quốc bị bộ đội ta bắt

Tương quan lực lượng trong cuộc chiến 1979
Để tiến công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng 600.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tướng Hứa Thế Hữu, Tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào Đông Bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, Tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng Tây Bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên.

Lính Trung Quốc bị bắn gục trên đỉnh 1509

Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn từ miền xuôi lên tiếp viện. Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiến sâu vào trung châu.
Diễn biến
Sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân đội Trung Quốc áp dụng chiến thuật biển người bất kể tổn thất tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam.
* Hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55.
* Hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50.
* Hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14.
* Hướng Lai Châu có quân đoàn 11.
* Hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn.
Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến.
Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng.
hiệu quả của Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng.

Quân dân ta sát cánh chống xâm lược

Quân Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (thuộc tỉnh Quảng Tây) và Malypo (thuộc tỉnh Vân Nam) của Trung Quốc nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối.
Ngày 19 tháng 2 năm 1979, nhóm cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô tới Hà Nội để gặp các tướng lĩnh chỉ huy của Việt Nam. Moskva yêu cầu Trung Quốc rút quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng, đồng thời dùng máy bay vận tải chuyển một số sư đoàn chính quy Việt Nam từ Campuchia về.
Trong giai đoạn sau, cả hai bên đều tăng cường thêm lực lượng và cuộc chiến tiếp tục, trong đó quyết liệt nhất là hướng Lạng Sơn. Tại đây sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng, một đơn vị thiện chiến của Việt Nam từng đánh Mỹ cùng một số sư đoàn khác đã tổ chức phòng thủ chu đáo. Sau nhiều trận đánh đẫm máu bất kể tổn thất, quân Trung Quốc vào được thị xã Lạng Sơn chiều ngày 4 tháng 3 năm 1979. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Đồng thời phía Việt Nam cũng điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng.

Lính Trung Quốc bị bắt tỏ ra ê chề

Cũng trong ngày 5 tháng 3 năm 1979, do áp lực của Liên Xô và sự phản đối của quốc tế, đồng thời cũng đã chiếm được các thị xã lớn của Việt Nam ở biên giới, Bắc Kinh tuyên bố hoàn thành mục tiêu chiến tranh, chiến thắng và bắt đầu rút quân. Mặc dù chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi nhưng đến ngày 18 tháng 3 năm 1979 quân Trung Quốc đã hoàn tất rút khỏi Việt Nam.
Dư luận thế giới về cuộc chiến tranh biên giới 1979

Cuộc chiến Việt – Trung nổ ra, tại thời điểm đó Chủ Tịch Cuba Fidel Castro lên tiếng phản đối cuộc chiến mạnh mẽ nhất và sau đó là ở Hoxha, Albania. Trung Quốc đã bị sốc khi bị sự lên án mạnh mẽ của Thế giới.
Cuộc chiến tranh Việt – Trung nổ ra cộng đồng Quốc tế đã có những phản ứng khác nhau :
1. Chính phủ Lào đưa ra tuyên bố: "Chính phủ và nhân dân Lào không muốn nhìn thấy sự kiện này, lập trường của Lào là không thay đổi kêu gọi các bên tạo khung hợp tác để cùng ngồi lại bàn đàm phán. Tất cả các binh lính Trung Quốc phải rút khỏi lãnh thổ Việt Nam ngay lập tức". Rõ ràng chính phủ Lào công khai hỗ trợ chính quyền Việt Nam.
2. Với Liên Xô, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Gromyko khẳng định: "Ngay lúc này Trung Quốc rút quân ngay lập tức khỏi lãnh thổ Việt Nam chưa phải là quá muộn, thực hiện càng sớm càng tốt". Có thể thấy Liên Xô đã ra lời cảnh báo rất cứng rắn và dứt khoát .
3. Chính phủ Mỹ tuyên bố rằng: "Trung Quốc có quyền trong khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương và đóng vai trò ảnh hưởng chính trị nhất định… Tuy nhiên xung đột Việt – Trung cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình". Tuyên bố của Mỹ vẫn còn nặng yếu tố Liên Xô. Các tàu chiến của Liên Xô liên minh giữa hai nước đã đẩy mạnh hoạt động tại khu vực Đông Nam Á.
4. Anh và Úc: "hai nước này đã chính thức ngưng cung cấp tài chính tái thiết cho Việt Nam để phản đối cuộc chiến của Việt Nam tại Campuchia ". Văn bản này không đề cập đến hai từ "Trung Quốc"…
5. Chính phủ Pháp cho biết: "Việt Nam nên từ bỏ cuộc chiến tại Campuchia để làm cho Trung Quốc lo ngại ở cuộc chiến này, Liên Xô đã nhiều lần đe dọa họ sẽ tham gia vào cuộc chiến… Tuy nhiên văn bản cũng cho biết Trung Quốc không nên lâm vào cuộc đối đầu rủi ro với Liên Xô". Những tuyên bố của Pháp thể hiện sự phẫn nộ với sự "bá quyền" của Liên Xô, rõ ràng Pháp đang nghiêng về Trung Quốc.
6. Nội các Nhật Bản: "Nhật bản tỏ thái độ hối tiếc cho hai bên đã để xẩy ra cuộc chiến". Rõ ràng đây là một phát biểu mang tính chất thường lệ của ngoại giao do ngoại giao của Nhật Bản đã phải theo Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2.
Với các quốc gia Đông Nam Á, họ không vội vàng xúc phạm Trung Quốc, đó là tuyên bố cơ bản của các nước ĐNA. Chỉ có Singapore đã bày tỏ mối quan tâm sâu sắc sự ảnh hưởng của cuộc chiến với sự suy thoái kinh tế Việt Nam.
Một số quốc gia và vùng lãnh thổ nghiêng về phía Trung Quốc
Chính phủ Pakistan có một tuyên bố ngoại giao làm tổn thương lòng tự trọng của Việt Nam, Pakistan cho biết: "Vi phạm hiện nay của Trung Quốc rõ ràng là để làm Hà Nội kiệt sức trong vấn đề Trung – Ấn và cả thế giới khẳng định lại một lần nữa rằng Bắc Kinh không phải là một con hổ giấy". Đó là tuyên bố của Pakistan. Sau khi cuộc chiến Việt – Trung kết thúc, Pakistan cho biết Ấn Độ đã bí mật hỗ trợ Việt Nam và điều đó là một trong những lý do hợp tác quân sự Pakistan và Trung Quốc trở nên gần gũi hơn.
Thái độ của Bắc Triều Tiên:
Bắc Triều Tiên và Việt Nam cùng thuộc khối XHCN và cùng với Kim Nhật Thành theo dòng Stalin, với Liên Xô, Cuba lên Án Trung Quốc, ngoài Nam Tư gần như tất cả các nước Đông Âu, thậm chí cả các đồng minh của Trung Quốc tại Châu Âu, Albania đã công khai đứng về phía Việt Nam.
Riêng Kim Nhật Thành đã chống lại áp lực của điện Kremlin với các giọng điệu rõ ràng:
"Khi có tham vọng nhưng không đủ sức cộng với sự "ngớ ngẩn", các lãnh đạo Việt Nam đã đưa đến việc phá hủy nền kinh tế, gây nguy hiểm cho nền độc lập của quốc gia họ! Một cuộc chiến với Trung Quốc, tôi không thể đánh giá hết mức độ thiệt hại, chính phủ Bắc Triều Tiên và một số nước ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến tranh tự vệ với Việt Nam".
P.V.Đ
Nguồn: http://vn.myblog.yahoo.com/phamvietdaonv/article?mid=3888

Phòng thủ trước Trung Quốc bằng vũ khí của Nga

Trung Quốc càng gia tăng áp lực quân sự trên Biển Đông đối với Việt Nam và các nước trong khu vực, càng thúc đẩy Việt Nam có những động thái tự vệ. Chỉ cần dẫn hai phát biểu của Giáo sư Stephen Blank trong bài phỏng vấn dưới đây là đủ nêu bật nét khái quát nhất của tình hình:
"Không chỉ hướng tới Nga, Việt Nam cũng đang tìm kiếm sự hậu thuẫn từ các nước lớn khác ở châu Á. Họ mua vũ khí ở khắp thế giới, không riêng gì của Nga. Hà Nội đang tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ, có thể là Nhật Bản, và cả Ấn Độ nữa. Đây là một phần của chiến lược chính trị sâu rộng của Việt Nam".
"Tôi cũng nghĩ sẽ có một cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực này, không phải vì Việt Nam mua nhiều vũ khí của Nga mà vì Trung Quốc tăng cường khả năng quốc phòng. Tôi không cho rằng Việt Nam là một mối đe dọa đối với bất kỳ quốc gia nào ở Đông Nam Á".
Bauxite Việt Nam

Hồi đầu tháng 2, Việt Nam đã ký hợp đồng mua 12 chiến đấu cơ SU-30MK2 của Nga - Ảnh: Wikipedia Commons
Một bản tin của hãng RIA Novosti nói rằng Việt Nam đã trở thành khách hàng mua vũ khí lớn nhất của Nga trong năm 2009, với các hợp đồng lên tới hàng tỷ đôla. Thương vụ này mang ý nghĩa thế nào đối với Hà Nội và Moscow trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng sức mạnh quân sự, và liệu các hơp đồng đó có gây ra một cuộc chạy đua vũ trang ở Đông Nam Á hay không, mời quý vị tìm câu trả lời từ cuộc phỏng vấn của Nguyễn Trung với ông Stephen Blank, Giáo sư nghiên cứu về an ninh quốc gia, tại Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Chiến sự Quân đội Hoa Kỳ, trong chuyên mục 'Câu chuyện Việt Nam' tuần này.
Nguyễn Trung Thứ Bảy, 20 tháng 2 2010
VOA: Có ý kiến tỏ ra ngạc nhiên khi Việt Nam trở thành khách hàng mua vũ khí nhiều nhất của Nga trong năm 2009. Bản thân ông thấy sao?
Giáo sư Stephen Blank: Nói chung, tôi không thấy có gì đáng ngạc nhiên cả. Lâu nay, Nga đã tăng cường nỗ lực gia tăng thị phần buôn bán vũ khí tại Đông Nam Á. Không bất ngờ khi các nước ở khu vực này tăng cường mua vũ khí, bởi lẽ một số cảm thấy bất an trước tình trạng khủng bố, còn số khác quan ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc. Việt Nam rõ ràng lo lắng trước nước láng giềng lớn mạnh.
Thêm nữa, Bắc Kinh đã khiến Hà Nội không hài lòng về quan điểm liên quan tới khu vực biển Nam Trung Hoa (tức biển Đông). Việt Nam cũng chứng kiến Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự. Vì thế, chính quyền Hà Nội buộc phải tăng cường tiềm lực quốc phòng. Nhưng họ không chỉ mua vũ khí của Nga.
Vì thế, tôi không nghĩ đây là một bước đi gây ngạc nhiên. Điều thú vị là Việt Nam trở thành nước mua vũ khí nhiều nhất trong năm 2009, hơn cả Trung Quốc.

VOA: Trong các phân tích của mình về các thương vụ mua bán vũ khí giữa Việt Nam và Nga, ông có nói rằng động cơ của hai bên lớn hơn so với hợp đồng thực tế. Theo ông, mục tiêu của Việt Nam là gì?
Giáo sư Stephen Blank: Tôi nghĩ rằng mục đích của Việt Nam là muốn tăng cường quốc phòng và vị thế chính trị ở châu Á, nhằm bảo đảm an toàn cũng như tăng cường khả năng phòng thủ tốt hơn trước Trung Quốc.
VOA: Thế còn đối với Nga, thưa ông?
Giáo sư Stephen Blank: Bản thân Nga không hài lòng với Trung Quốc vì nước này đánh cắp thiết kế vũ khí của họ. Trung Quốc đang tìm cách cạnh tranh với Nga tại các thị trường châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Theo tôi, Nga hiểu rất rõ về việc tăng cường sức mạnh quân sự của Bắc Kinh, và điều đó khiến Moscow bày tỏ quan ngại một cách công khai hơn.
Ngoài ra, Nga luôn mong muốn có  một chỗ đứng ở Đông Nam Á, và nước này không có cách thức nào để cạnh tranh ảnh hưởng ở khu vực này, ngoại trừ việc sử dụng năng lượng và xuất khẩu vũ khí. Trên thực tế, hai yếu tố này tương trợ lẫn nhau. Các công ty năng lượng của Nga cũng đã giành được nhiều hợp đồng hơn trong lĩnh vực năng lượng của Việt Nam.
Cuối cùng, tôi nghĩ rằng Moscow cũng mong có tiền để phát triển ngành công nghiệp quốc phòng của nước này, vốn đang gặp khó khăn.
VOA: Dường như Việt Nam đang tiến gần lại 'người bạn lớn', 'đồng minh' một thời nhằm chống lại sự bành trướng của Trung Quốc phải không, thưa ông?
Giáo sư Stephen Blank: Không chỉ hướng tới Nga, Việt Nam cũng đang tìm kiếm sự hậu thuẫn từ các nước lớn khác ở châu Á. Họ mua vũ khí ở khắp thế giới, không riêng gì của Nga.
Hà Nội đang tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ, có thể là Nhật Bản, và cả Ấn Độ nữa. Đây là một phần của chiến lược chính trị sâu rộng của Việt Nam.
VOA: Có quan ngại  rằng các hợp đồng mua bán vũ khí giữa Nga và Việt Nam sẽ đẩy khu vực Đông Nam Á tới một cuộc chạy đua vũ trang. Còn ông nghĩ sao?

Giáo sư Stephen Blank: Tôi cũng nghĩ sẽ có một cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực này, không phải vì Việt Nam mua nhiều vũ khí của Nga mà vì Trung Quốc tăng cường khả năng quốc phòng. Tôi không cho rằng Việt Nam là một mối đe dọa đối với bất kỳ quốc gia nào ở Đông Nam Á.
Vấn đề là khả năng quân sự của Trung Quốc gây quan ngại ở vùng này. Tôi nghĩ nhiều quốc gia ở Đông Nam Á đang cảm thấy lo lắng trước Bắc Kinh.
VOA: Ông đánh giá như thế nào về sự tranh giành ảnh hưởng giữa Hoa Kỳ và Nga ở châu Á?
Giáo sư Stephen Blank: Moscow không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ ở châu Á, mà chỉ có sự ganh đua giữa Washington và Bắc Kinh. Đó là một cuộc cạnh tranh lớn và toàn diện trong mọi lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao và khả năng quân sự. Tôi không biết là sự cạnh tranh này sẽ dẫn tới đâu, nhưng rõ ràng Trung Quốc đang là một thách thức lớn đối với Hoa Kỳ.
VOA: Washington trong thời gian qua tuyên bố sẽ tăng cường vị thế ở châu Á, trước sự tăng trưởng của Trung Quốc. Trong khi Nga cũng muốn có tiếng nói ở khu vực này. Một số nhà quan sát cho rằng cuộc đua đó dường như sẽ nóng hơn trong tương lai. Bản thân ông nghĩ sao?
Giáo sư Stephen Blank: Sự ganh đua giữa các cường quốc chưa bao giờ ngưng nghỉ. Khi Trung Quốc trở nên lớn mạnh hơn, sự cạnh tranh giữa Washington và Bắc Kinh sẽ gia tăng. Điều đó không có nghĩa sẽ dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang, nhưng chắc chắn sẽ là một sự cạnh tranh cởi mở và bình đẳng hơn so với quá khứ, khi vị thế của Trung Quốc vẫn còn yếu.
VOA: Vậy theo ông, là một nước nhỏ, Việt Nam hưởng lợi gì từ sự cạnh tranh này?
Giáo sư Stephen Blank: Theo tôi, điều quan trọng là Việt Nam cần phải duy trì quan hệ với tất cả các bên liên quan trong cuộc đua đó, đồng thời tăng cường sức mạnh nội tại để đương đầu với các mối đe dọa. Đó là chiến lược cơ bản đối với các nước như Việt Nam trong tình thế như vậy.
Nói tóm lại, bằng việc tăng cường khả năng quốc phòng và duy trì mối quan hệ ngoại giao mạnh mẽ với tất cả các nước lớn liên quan như Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ hay Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam có thể cải thiện vị thế của mình.
Nguồn: voanews.com

22 tháng 2 2010

DB Sanchez, TNS Boxer, DB Logren Lên Tiếng Cho Phạm Thanh Nghiên & Trần Khải Thanh Thủy




DB Sanchez, TNS Boxer, DB Logren Lên Tiếng Cho Phạm Thanh Nghiên & Trần Khải Thanh Thủy

Kính gửi quý vị bản thông báo dưới đây.
Hôm nay, Dân Biểu Loretta Sanchez, TNS Barbara Boxer và Dân Biểu Zoe Lofgren đã gửi một lá thư đến với Chủ Tịch Việt Nam, Nguyễn Minh Triết lên tiếng cho cô Phạm Thanh Nghiên và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Tối nay, tức sáng ngày 29 tại Việt Nam, thêm một nhà dân chủ dũng cảm, cô Phạm Thanh Nghiên sẽ bị đưa ra tòa và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cũng sẽ bị kết án trong những ngày sắp tới. Xin quý vị cùng văn phòng quảng bá.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Dân Biểu Loretta Sanchez xin kính mời quý đồng hương Việt Nam tham dự cuộc đối thoại trên đài phát thanh Radio Bolsa, vào Thứ Sáu, ngày 29 tháng 1 năm 2010. Cuộc đối thoại bằng song ngữ (Anh-Việt) sẽ được diễn ra vào lúc 7:00pm chiều, giờ PST tại miền Nam California. Dân Biểu Sanchez sẽ lần lược trả lời câu hỏi từ các cư dân Việt Nam liên quan tới nhiều vấn đề như nhân quyền, tệ nạn buôn người, kinh tế, sức khỏe và thương mại, v.v.

Cuộc đối thoại sẽ được TRỰC TIẾP phát thanh trên đài Radio Bolsa, làn sóng 1480 AM. Để đặt câu hỏi cho Dân Biểu Sanchez, xin quý vị vui lòng gọi vào tổng đài số 1888-502-6572 hoặc số 714-418-2122 từ 7 giờ đến 7 giờ 45 chiều, hoặc gửi điện thư E-mail đến Lilly Ngọc Hiếu Nguyễn, địa chỉ Lilly.Nguyen@mail.house.gov .


Kính mến,


Thông Cáo Báo Chí

Dân Biểu Loretta Sanchez
Địa Hạt Liên Bang 47th, California
www.house.gov/sanchez
Ngày 28 tháng 1, 2010

XIN PHỔ BIẾN GẤP

Mọi Chi Tiết Xin Liên Lạc:
Caroline Hogan 714-621-0102

Lilly Ngọc Hiếu Nguyễn 714-621-0102

Sau giờ làm việc: 202-306-1440




DÂN BIỂU LORETTA SANCHEZ, THƯỢNG NGHỊ SĨ BARBARA BOXER, DÂN BIỂU LOFGREN LÊN ÁN VIỆT NAM ĐÃ GIAM GIỮ CÁC NHÀ DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM

Các vị Dân Cử Liên Bang Kêu Gọi Chủ tịch Việt Nam trả tự do
cho các nhà bất đồng chính kiến và tôn trọng nhân quyền

WASHINGTON, D.C. – Vào ngày 28 tháng Giêng, 2010, Dân biểu liên bang Loretta Sanchez, Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Barbara Boxer, và dân biểu Zoe Logren đã gửi một lá thư đúng lúc đến Chủ tịch Việt Nam, Nguyễn Minh Triết, yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do và hũy bỏ tất cả các cáo trạng đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và cô Phạm Thanh Nghiên. Cả hai nhà dân chủ đang đối đầu với những tội danh chống phá nhà nước vì đã lên tiếng kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng các nhân quyền căn bản và có thể sẽ bị kết án tù trong những ngày sắp tới.





"Hôm nay, phái đoàn dân cử liên bang kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam hãy tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt tư tưởng và trả tự do cho hai nhà đấu tranh dân chủ đã bị tù đầy trong nhiều tháng vừa qua," Dân biểu Sanchez nói. "Nhà cầm quyền Việt Nam sẽ không bao giờ được cộng đồng quốc tế, kể cả người dân Việt Nam tôn trọng nếu họ không cải thiện tình trạng nhân quyền của họ. Chúng tôi đang tạo cho họ một cơ hội để làm điều đó, và tự họ phải hũy bỏ các cáo trạng vô lý đối với cô Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và tất cả các nhà bất đồng chính kiến khác."

Dưới đây là lá thư đã được gửi đi ngày hôm nay:

His Excellency Nguyen Minh Triet
President of the Socialist Republic of Vietnam
c/o Embassy of the Socialist Republic of Vietnam
1233 20 Street NW, Suite 400
Washington, DC 20036

Dear President Triet:

We are writing to convey our serious concern regarding the detention and upcoming trials of Ms. Pham Thanh Nghien and Ms. Tran Khai Thanh Thuy, two prominent human rights activists. We request that the Vietnamese government act in a manner consistent with its own legal obligations and international law, and release these individuals immediately and without prejudice.

Based on information from the U.S. Department of State and international human rights organizations, it appears that the charges against Ms. Pham Thanh Nghien and Ms. Tran Khai Thanh Thuy are seriously flawed. Both women have consistently championed human rights in Vietnam, including freedom of expression and association. For those activities, they are now facing possible prison sentences.

Our understanding is that Ms. Pham Thanh Nghien is scheduled to go on trial this Friday, January 29, 2010 for "propagandizing against the state." She was reportedly arrested by Vietnamese security officials in September 2008 and we have been told that her family has not been allowed to visit her in prison since her arrest.

We understand that writer and activist Ms. Tran Khai Thanh Thuy, who attempted to attend the trials of other democracy activists, is facing trial on February 5, 2010. She has reportedly had no contact with her family since her detention in October 2009. In addition, there has been no confirmation that medications supplied to the police to treat her diabetes and tuberculosis have been delivered.

According to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam and the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR), to which Vietnam is a party, all citizens enjoy freedom of opinion, freedom of speech, freedom of religion and the right of association. Both your Constitution and the ICCPR also guarantee criminal defendants the presumption of innocence, the right to present a defense and the right to counsel. The imminent trials of Ms. Pham Thanh Nghien and Ms. Tran Khai Thanh Thuy appear to starkly contradict these principles.

We therefore respectfully request that the Vietnamese government immediately and unconditionally release Ms. Pham Thanh Nghien and Ms. Tran Khai Thanh Thuy and that while in detention, authorities take all measures to guarantee their physical and psychological security and well being, including access to medication and independent medical assistance and visits from family and friends.

Universal rights must be upheld for all people. It is time for Vietnam to allow its citizens to fully exercise the internationally recognized rights of freedom of assembly, expression, association and religion without fear of retribution from their government.

We thank you in advance for your assistance with this important and time sensitive matter.

# # #


Lilly Ngoc Hieu Nguyen
Field Representative
Office of Congresswoman Loretta Sanchez
12397 Lewis Street, Suite 101
Garden Grove, CA 92840
714-621-0102 (O)
714-621-0401 (F)
lilly.nguyen@mail.house.gov
Subscribe to our email newsletter:
http://www.lorettasanchez.house.gov/forms/newsletter.html