Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

24 tháng 8 2010

VC ĐÀM VĨNH HƯNG

VỀ VỤ VC ĐÀM VĨNH HƯNG

SỰ KIỆN CHỐNG VĂN CÔNG ÐÀM VĨNH HƯNG TẠI MỸ, TÁC ÐỘNG MẠNH ÐẾN NHIỀU PHÍA

Tưởng chừng như sự kiện chống ca sĩ tuyên truyền văn hóa Nhà nước Ðàm Vĩnh Hưng chỉ là chuyện chỉ được quan tâm trong cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ, Úc, nhưng thực tế trong nước dân chúng cũng hết sức quan tâm, và nay thì giới kinh doanh cũng như phía đại diện Hoa kỳ tại Việt Nam cũng chú ý.

Ðàm Vĩnh Hưng bị ông Lý Tống xịt hơi cay vào mặt, nhân buổi diễn tại Bắc California, đã dấy lên nhiều dư luận. Phía ủng hộ

Ðàm Vĩnh Hưng thì cay cú và chỉ trích một cách giận dữ, nhưng phía những người không thích nhân vật thành đạt từ sự yểm trợ ngấm ngầm của nhà nước Cộng sản Việt Nam từ vài năm nay, đã tỏ vẻ thích thú.

Ngay tại trong nước, theo nhiều khán giả cho biết nhiều năm trước khi Ðàm Vĩnh Hưng còn là một ca sĩ bình thường thì họ rất yêu thích, nhưng thời gian gần đây khi trở thành gương mặt đại diện cho văn hóa của chế độc cũng như tư cách thay đổi, họ Ðàm đã không còn nhận được đa số ủng hộ nữa.

Mới đây Ban Tổ chức Hoa hậu Việt Nam toàn cầu 2010 tại Mỹ ra quyết định không tổ chức vào thứ bảy vừa qua như kế hoạch, mà dời đến tháng 11. Tin tức từ nhiều ngày qua cho rằng, chương trình ca nhạc giúp vui cho cuộc thi Hoa Hậu bị phản đối mạnh vì có sự hiện diện của ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng. Có thí sinh tiết lộ tin vì sự chống đối nên Ban tổ chức không tìm được nhà tài trợ và không bán được vé. Ðược biết MFC là công ty tổ chức chương trình này, theo tin từ trong nước cho biết vốn khởi nguyên là một công ty có liên quan đến một cựu giám đốc của Hãng phim Trẻ, thuộc Thành Ðoàn Cộng sản tại Saigon, sau đó liên kết với một người khác, cùng xây dựng một công ty ở trong lòng cộng đồng người Việt hải ngoại để dễ làm ăn bằng việc tổ chức show, buôn bán các sản phẩm văn nghệ.

Việc dời show biểu diễn hoa hậu được đúc kết rõ, hiện nay là do sự có mặt của ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng. Người mà trước đây được coi như là ngôi sao của chương trình, thì giờ lại được nhìn như một cái gai, ảnh hưởng đến nhiều người.

Ba (3) lý do khiến chương trình diễn bị hoãn lại có thể đúc kết ngắn gọn trong 3 chữ Ðàm Vĩnh Hưng:

Thứ nhất, hiện tại cơ quan thuế của Mỹ IRS và cơ quan an ninh FBI đang trong vòng điều tra những rắc rối của ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng xung quanh những tin đồn anh nhập cảnh vào Hoa Kỳ trình diễn và trốn thuế hơn 40 lần từ năm 2004 đến nay. Chính vì vậy, cảnh báo sẽ có những phần tử chống đối âm thầm khủng bố show diễn, nếu vẫn diễn ra cuộc thi, BTC và Planet Hollywood Resort & Casino phải bỏ ra 100,000 đô-la để tăng cường an ninh. Tuy nhiên hai đơn vị này lại quyết định hoãn cuộc thi để không tốn khoản chi phí lớn đó và bảo đảm an ninh, hoạt động kinh doanh tại casino.

Thứ hai, Ban tổ chức cuộc thi không muốn gặp rắc rối với cơ quan thuế, cơ quan an ninh và Sở di trú Mỹ. Bởi lẽ, có thông tin ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng bị tố giác nhiều lần sử dụng Visa du lịch để trình diễn trốn thuế, nên tất cả các ca sĩ, thí sinh, nhạc công tham gia chương trình này đều được yêu cầu xuất trình giấy phép hành nghề và mục đích nhập cảnh trước khi trình diễn trên sân khấu.

Thứ ba, vì sự hiện diện của ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng bị chống đối tại đây nên các đài truyền hình, radio, báo chí trong cộng đồng người Việt hải ngoại khắp nơi, cũng như đều thể không quảng cáo. Ðiều này dẫn đến việc bán vé bị hạn chế. Những người chống đối Ðàm Vĩnh Hưng không mua vé, trong khi đó khán giả yêu thích ca sĩ này lại không muốn mất tiền mua nếu giờ chót anh không xuất hiện. Nguyên do vì ban tổ chức vẫn không thông báo chắc chắn có Ðàm Vĩnh Hưng hát hay không.

Với những lý do trên, BTC cuộc thi đã quyết định tạm hoãn đến tháng 11. Nhằm tránh những tổn thất về tài chính và tránh việc bị tẩy chay khi phát hành DVD sau này nếu có sự tham gia của ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng. Sức mạnh của cộng đồng người Việt hải ngoại đang thật sự làm cho những người dân trong nước ủng hộ công cuộc đấu tranh hết sức vui mừng, cũng như cho thấy rõ rằng một khi đoàn kết, cộng đồng người Việt ở mọi nơi đều có đủ khả năng dập tắt mọi tác động đến đời sống chung của người Việt yêu tự do, kể cả về sức mạnh chính trị hay thương mại.

http://www.thegioimoionline.com


21 tháng 8 2010

Các thế lực thù địch đang phá Đảng ở đâu ra?

Mai Xuân Dũng

image Khi hai cảnh sát bước vào quán ăn, thực khách đều liếc nhìn về phía họ. Những cái nhìn nghi ngại, không thiện cảm. Họ chọn một bàn có hai người dáng vẻ như hai vợ chồng và một cháu bé chừng 6 tuổi để ngồi. Đứa bé đang líu ríu chuyện trò với mẹ liền im bặt. Phục vụ bàn mang suất ăn đến cho hai cảnh sát và mọi người trong quán hết sức ngạc nhiên nghe thấy một trong hai cảnh sát nói lời cảm ơn. Chị phục vụ còn ngạc nhiên gấp bội. Hai vợ chồng cùng bàn nhìn hai cảnh sát tỏ vẻ thoải mái hơn trước còn đứa bẻ thậm chí còn lấy hai cái thìa đưa cho họ.

Câu chuyện tôi vừa kể có lẽ rất ít người tin là có thật nhưng là chuyện tôi được chứng kiến tận mắt. Ở xã hội ta ngày nay, có một sự thực đáng buồn: hầu như tất cả dân chúng từ đứa trẻ cho đến các cụ già đều ghét cảnh sát.

Khi trẻ con quấy khóc, người ta thay vì đem "ông ba mươi" ra dọa như trước kia thì bây giờ họ nói: "Con có nín ngay không, mẹ gọi công an đến bắt đi bây giờ". Công an đã trở thành một biểu tượng thay thế cho "ông ba mươi". Trong các câu chuyện thường nhật, mọi người chắc chắn nghe thấy những từ "bọn công an" hoặc "thằng công an" thay vì gọi là "chú công an" hoặc "anh công an". Điều đó có phải vì mọi người trong xã hội ta trở nên kém văn hóa hơn hay ngành công an có khiếm khuyết trong việc đào tạo, giáo dục cán bộ chiến sỹ của mình?

Tôi không rõ trong các trường an ninh, người ta dạy công an những gì nhưng hầu hết các đồn cảnh sát đều có tấm bảng ghi rõ lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công an nhân dân là: "Đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép".

Trong phép xử sự thông thường nơi công cộng, việc ngỏ lời cảm ơn là hết sức bình thường của mọi con người có giáo dục. Nhưng tiếng "cảm ơn" được nói ra bởi người công an lại là một điều ngạc nhiên của rất nhiều người. Thậm chí một đứa trẻ 6 tuổi cũng thay đổi hẳn thái độ với "ông ba mươi mới" bằng hành động lấy thìa đưa cho hai chú công an.

Việc công an dùng dùi cui thay cho lời nói đối với những người dân buôn thúng bán bưng mà cuộc sống gia đình trông vào gánh rau; việc công an lôi kéo, giành dật, tịch thu sọt hoa quả của những người phụ nữ mặt mũi hốc hác mà những đứa con đau ốm của họ đang trông chờ mẹ mua thuốc chữa bệnh mang về… quả thật đó là những việc làm xấu đi hình ảnh người cảnh sát. Đành rằng giữ gìn trật tự và vẻ đẹp văn minh đô thị là cần thiết nhưng cách làm đó của các anh dưới con mắt của dân chúng có làm đô thị trật tự hơn không, có làm cho bộ mặt xã hội trở nên đẹp và văn minh hơn không? Tự các anh đã tìm thấy câu trả lời.

Ở mức độ nghiêm trọng hơn, hành động có tính tàn bạo, vi phạm pháp luật khi thi hành công vụ của công an như trường hợp Nguyễn Mạnh Thư, công an huyện Tĩnh gia đã để lại vết thương khó lành trong lòng tất cả người dân. Tôi cho rằng trong suốt phần đời còn lại của mình, Nguyễn Mạnh Thư không thể tìm thấy bình yên trong tâm hồn khi khẩu súng trong tay anh được đảng giao cho không bắn vào kẻ địch, không bắn vào cái ác mà lại bắn vào một thiếu niên 12 tuổi vô tội là em Lê Xuân Dũng.

Không dùng súng nhưng Thiếu úy Nguyễn Thế Nghiệp, cán bộ công an huyện Tân yên đã gây ra cái chết thảm cho anh Nguyến Văn Khương ở Bắc Giang. Và điều đó đã dẫn đến một cuộc "bạo động" chưa từng thấy nơi miền quê hiền hòa này.

Vụ Bắc Giang chưa nguôi nỗi niềm nơi hàng triệu người dân thì tại Thái Nguyên công an giả dạng dân thường, thiếu úy Trương Đình Hoàng lại rút súng bắn thẳng vào nạn nhân là Hoàng Thị Trà, sinh viên Trường đại học Sư phạm Thái Nguyên.

Nhân dân có phải là kẻ thù của công an không mà sao các anh có thể hành xử với nhân dân như vậy?

Những hành động bắn vào dân của các anh sẽ làm dân tin yêu các anh hay căm ghét các anh rồi dẫn đến căm ghét chính quyền?

Đảng chắc cũng không vui vẻ gì khi lực lượng công an của Đảng hành xử với dân như vậy. Nhưng Đảng đã làm gì bao nhiêu năm qua để các sự việc tồi tệ đến mức như vậy có thể xảy ra trên đất nước ta, đất nước mà Đảng nói là " Đảng là đảng của dân, do dân và vì dân"?

Có thể do Đảng quá lo lắng về "các thế lực thù địch" mà Đảng quên mất rằng "các lực lượng thù địch" đang hiện hữu trong Đảng, chống phá Đảng từ trong phá ra. Chỉ có như vậy mới biến được những thanh niên chất phác ở các miền quê nhưng khi mặc tấm áo công an được may bằng tiền của dân, do dân góp tiền nuôi nấng lại tự cho mình cái quyền hống hách với dân, vô lễ với dân và quay súng bắn vào dân.

Nhân dân chỉ mong công an ai cũng như hai cảnh sát nói ở phần đầu bài viết này, họ chỉ cần tỏ ra biết cư xử đúng mức với dân là đã nhận được ở dân sự tôn trọng đáng có. Họ chỉ cần tử tế trong lời nói với dân là đã được các em bé đang sợ công an như sợ "ông ba mươi" tỏ ngay lòng yêu mến.

Không thể không nói với Đảng về suy nghĩ của nhân dân rằng: chính những kẻ đang đào tạo ra công an là những kẻ đang phá Đảng, chính chúng là "các thế lực thù địch" chứ không phải là Nhân dân.

MXD

HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

08 tháng 8 2010

Sẽ là nguy cơ nếu quyền lực không được kiểm soát

Sẽ là nguy cơ nếu quyền lực không được kiểm soát

Nghĩa Nhân – Thu Nguyện thực hiện

"Xã hội im lặng tới mức việc cầm quyền trở nên dễ dàng. Lúc đó các thế lực phục vụ lợi ích nhóm sẽ có được mảnh đất phát triển màu mỡ. Lúc ấy là lúc người ta thấm thía giá trị của dân chủ. Xã hội có dân chủ mới kiểm soát, răn đe được các lực lượng lộng hành, thao túng, sử dụng một cách vô nguyên tắc các quyền lực của Nhà nước".

Nghị quyết 48 của Bộ Chính trị về "chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến 2010, định hướng đến 2020" đã đi được nửa chặng đường. Quốc hội cùng các cơ quan của Chính phủ đang khẩn trương đánh giá, tổng kết để cụ thể hóa nhiệm vụ 10 năm tiếp theo.

Đây là công việc hệ trọng, góp phần vào việc chuẩn bị cho Đại hội XI của Đảng, chuẩn bị phương hướng lập pháp nhiệm kỳ tới. Cùng thời điểm này, nhiều ý kiến từ các chuyên gia pháp luật, các nhà lập pháp bàn về việc sửa đổi Hiến pháp với mục tiêu định rõ yêu cầu mấu chốt của hệ thống pháp luật trong việc phân công phối hợp, kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền con người, quyền tự do dân chủ của nhân dân…

Để mở rộng diễn đàn góp ý, Pháp Luật TP HCM phỏng vấn ông Nguyễn Trần Bạt, một nhà tư vấn chuyên nghiệp, một trong những người đầu tiên đưa nghề tư vấn về đầu tư và phát triển quan hệ thương mại quốc tế vào Việt Nam.

. Quốc hội đang tiến hành sơ kết thực hiện Nghị quyết 48 về chiến lược lập pháp. Ông có ý kiến gì về chiến lược này?

+ Tôi sẽ thẳng thắn: Nếu không dựa trên nền tảng dân chủ mà chỉ dựa trên nền tảng cai trị thì phương thức pháp trị không giá trị hơn cai trị hành chính trực tiếp bằng các chỉ lệnh. Nếu luật pháp chỉ nhằm cai trị thì không khuyến khích dân chủ, sáng tạo và phát triển. Nói cách khác, nếu không có một lộ trình đầy đủ và chi tiết để xây dựng một xã hội dân chủ thì mọi cuộc cải cách đều không có ý nghĩa.

Hướng đến câu hỏi: Người dân sẽ nhận được gì?

. Một số ý kiến cho rằng ít nhiều các đạo luật được ban hành thời gian qua đã đem lại hiệu quả về mặt kinh tế, đặc biệt là hình thành các cơ sở pháp lý cho thể chế kinh tế thị trường…

+ Cải cách lập pháp hay cải cách thể chế nhà nước cần trả lời câu hỏi: Người dân nhận được gì? Tôi cho rằng mục tiêu của lập pháp chính là con người, là hạnh phúc và sự phát triển các điều kiện sống. Còn kinh tế thị trường là chỉ phương tiện chứ không thể là mục tiêu. Cho nên cải cách lập pháp theo khuynh hướng dân chủ là đòi hỏi tất yếu.

clip_image001

Việc Vinashin vỡ nợ giờ chót chứng minh việc sử dụng quyền lực nhà nước không được kiểm soát. Trong ảnh: Một góc xưởng đóng tàu của tập đoàn kinh tế Vinashin. Ảnh: CTV

Thử nhìn lại để dẫn chứng về thể chế nhà nước mà chúng ta định xây dựng với hiệu lực của nó trong đời sống. Khoản nợ hơn 84.000 tỷ đồng - tức hơn 4 tỉ Mỹ kim của Vinashin là khối tài sản lớn với bất kỳ quốc gia nào. Vậy mà đến phút thứ 89 của sự sụp đổ, những tiếng nói có thẩm quyền mới bắt đầu xuất hiện. Tại sao chúng không xuất hiện ở tỷ thứ nhất của 84.000 tỷ? Rõ ràng, thể chế đã hạn chế độ nhạy của xã hội trong việc tham gia ngăn cản các hiện tượng tiêu cực.

. Vậy trả lời câu hỏi trên, theo ông, lập pháp cần xác định lợi ích nào người dân phải được nhận?

+ Câu hỏi của anh là người dân được gì nhưng vấn đề đặt ra là người dân nào. Trong quá trình công nghiệp hóa, bên cạnh hàng triệu nông dân bị mất ruộng đồng thì rất nhiều công ty hưởng lợi, bán chính miếng đất đó với giá gấp 10, 100 lần chi phí giải phóng mặt bằng. Pháp luật đang bảo vệ ai?

Dù sao cũng phải nhìn thấy: Lợi ích đầu tiên là chúng ta có một xã hội tương đối yên ổn, trộm cướp không hoành hành, đêm đi ra đường vẫn không phải mang súng. Nhưng cái đó không phải là mục tiêu duy nhất của lập pháp.

Tôi nói vậy không phải vì bức xúc, mà vì về mặt khoa học và thực tiễn, sự bền vững của thể chế.

Cải cách để kiểm soát công quyền

. Nhưng cũng có thể lập luận rằng thành tựu của chiến lược lập pháp ấy, của việc cải cách lập pháp chính là tốc độ tăng trưởng 7%-8% trong những năm qua?

+ Xây dựng nhà nước pháp quyền một cách minh bạch, nghiêm túc là xây dựng ngôi nhà vững chãi, một môi trường sống lâu dài cho cả dân tộc. Còn tăng trưởng kinh tế chỉ là trạng thái kinh tế của xã hội thôi. Không nên giỡ nhà ra để nấu cơm rồi tự hào rằng cơm chín ngon. Đến khi mưa bão lấy nhà đâu ra mà ở! Không thể đem thành tích kinh tế ra để giải thích cho sự lạc hậu, sự bê trễ trong việc hoàn thiện hệ thống nhà nước!

Luật pháp cũng vậy, bản chất của nó bên cạnh việc điều chỉnh các quan hệ xã hội còn nhằm hạn chế, kiểm soát bằng được quyền lực nhà nước. Kiểm soát công quyền là mục tiêu tối thượng của luật pháp chứ luật pháp đâu phải chỉ nhằm kiểm soát người dân đi đúng luật giao thông.

. Nếu coi kiểm soát quyền lực nhà nước là mục tiêu của chiến lược lập pháp, theo ông cần tập trung vào những điểm cụ thể nào?

+ Phải nói rằng chuyện Vinashin vỡ nợ ở phút 89 với quy mô 84.000 tỷ đồng, hay việc cho nước ngoài thuê tới hecta đất rừng thứ 400.000 mới bị phát hiện… là bằng chứng không thể chối cãi về việc sử dụng quyền lực nhà nước không được kiểm soát.

Chỉ Nhà nước mới có đủ quyền lực để sử dụng những tài sản quốc gia một cách đại trà. Cho nên kiểm soát quyền lực nhà nước chính là kiểm soát sự lộng hành của một vài yếu tố cấu thành nhà nước, để đảm bảo rằng tài nguyên và tài sản quốc gia được sử dụng hợp lý.

Vậy cải cách lập pháp để làm gì nếu như pháp luật không đủ sức kiểm soát quyền lực nhà nước?

Áp lực xã hội là động lực của tiến bộ xã hội

. Ông nói rằng xã hội yên ổn không phải là mục tiêu tối hậu của cải cách lập pháp nhưng ổn định chính trị mà chúng ta đã đạt được phải được xem là một trong những thành tựu cần tiếp nối chứ?

+ Đúng. Nhưng cần chú ý hiện tượng: Xã hội im lặng tới mức việc cầm quyền trở nên dễ dàng. Lúc đó các thế lực phục vụ lợi ích nhóm sẽ có được mảnh đất phát triển màu mỡ. Lúc ấy là lúc người ta thấm thía giá trị của dân chủ. Xã hội có dân chủ mới kiểm soát, răn đe được các lực lượng lộng hành, thao túng, sử dụng một cách vô nguyên tắc các quyền lực của Nhà nước.

Nhân dân hoan nghênh quyết định vừa rồi của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Hưởng ứng của người dân tạo ra một áp lực xã hội. Chính áp lực xã hội sẽ trở thành động lực cơ bản để tạo ra tiến bộ chính trị và tiến bộ xã hội.

Ở đây có vai trò của báo chí. Trong một lần thảo luận với Hội đồng Lý luận Trung ương, tôi có nói: Báo chí là "tiếng kêu đau" của xã hội. Báo chí mà im lặng thì chính các anh sẽ thiệt. Thiệt vì không thể hình dung ra cuộc sống thực và do đó không làm chính sách được. Mà làm chính sách sai thì xã hội thiệt đến mức nào.

. Ông có nghĩ rằng giới nghiên cứu lý luận và các cơ quan hành pháp cũng đã bắt đầu thấy vấn đề?

+ Rất nhiều người và các chuyên gia, giới nghiên cứu ở Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia đã bắt đầu nhìn thấy.

Còn cơ quan hành pháp, ở nước nào cũng vậy, bị công việc hằng ngày lôi kéo nên khó nhận ra đầy đủ. Chưa kể, về nguyên lý, tự do ngôn luận hay tự do báo chí sinh ra là nhằm nói lên tiếng nói của nhân dân, thường nhắm đến chỗ nêu ra mặt yếu kém hoặc những vi phạm lợi ích của xã hội của các cơ quan hành pháp. Có thể nói bệnh của mọi cơ quan hành pháp trên thế giới là không thích dân chủ, không thích tự do báo chí, kể cả ở đất nước tự cho là tự do nhất như Hoa Kỳ.

Để thích nghi với quá trình quyền lực được kiểm soát, các chính phủ buộc phải rèn luyện để có thể nghe được tiếng nói của báo chí, ngôn luận.

Mở rộng dân chủ: Hướng cải cách đúng

. Trong cuộc hội thảo gần đây, một số học giả khi nhận xét về chiến lược lập pháp đã chỉ ra một loạt dự án luật về các quyền tự do, dân chủ đã được đưa vào chương trình xây dựng pháp luật nhưng chậm triển khai. Ví dụ, luật lập hội, luật tiếp cận thông tin, luật trưng cầu dân ý, luật sửa đổi luật báo chí… Theo ông, sự chậm trễ đó nói lên điều gì?

+ Việc dừng ấy không phải lúc nào cũng là tiêu cực. Có những cái không tích cực được hơn thì phải dừng. Ví dụ, luật sửa đổi luật báo chí phải dừng lại vì có thể nó không đưa ra được cải tiến tích cực nào vào thời điểm hiện nay. Như thế thà dừng còn hơn.

Luật pháp bao giờ cũng là khế ước. Khế ước ấy là kết quả của cuộc đấu tranh giữa quyền lực nhà nước và tiến bộ xã hội.

. Vậy theo ông, lập pháp trong thời gian tới nên có những điều chỉnh như thế nào?

+ Cách duy nhất là mở rộng dân chủ.

Cần thiết lập một hệ thống luật pháp đầy đủ để xã hội dân sự vận hành đúng như bản chất của cuộc sống sẽ giúp ngăn ngừa các rủi ro trong xã hội, đặc biệt là rủi ro chính trị.

Cần có luật báo chí rành mạch để bảo vệ "quyền kêu đau" của xã hội, thực hiện có hiệu quả "quyền kiểm soát quyền lực" của nhân dân. Hai quyền ấy đặc biệt quan trọng, nó bảo vệ lợi ích xã hội và cả lợi ích nhà cầm quyền.

Cần rành mạch khái niệm sở hữu. Không được để các tài sản, tài nguyên của đất nước và của từng cá nhân bị xâm phạm, bị tước đoạt, cưỡng bức.

Ba cái đấy, nói theo tư tưởng của Nguyễn Trãi, đặt trong hiện tại là "việc chính trị cốt ở yên dân".

Tôi nhấn mạnh rằng một trong những mục tiêu căn bản của lập pháp là kiểm soát quyền lực nhà nước, mở đường cho nhân dân thành lực lượng kiểm soát quyền lực Nhà nước. Chống tham nhũng cũng vậy. Chống tham nhũng mà lại bằng chính cơ cấu nhà nước thì hiệu quả sẽ không triệt để.

. Cảm ơn ông.

NN - TN

http://phapluattp.vn/20100806121139707p0c1013/se-la-nguy-co-neu-quyen-luc-khong-duoc-kiem-soat.htm


06 tháng 8 2010

Mê Kông: Năng lượng – Môi trường – An ninh sinh kế

Mê Kông: Năng lượng – Môi trường – An ninh sinh kế

Hằng Anh

clip_image001

Dòng sông Mẹ Mê Kông (Ảnh: ThienNhien.Net)

ThienNhien.Net – Một trong những vấn đề môi trường - kinh tế - xã hội - chính trị quan trọng nhất của khu vực đang nổi cộm hiện nay là hoạt động phát triển trên dòng chính sông Mê Kông, đặc biệt là các dự án thủy điện, trên con sông Mẹ đang bao bọc hơn 60 triệu người dân trong lưu vực. Giải quyết sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đảm bảo sinh kế cho người dân hiện đang là thách thức lớn nhất của lưu vực có diện tích gần 800 000km2 này. Đó cũng chính là vấn đề được thảo luận tại cuộc tọa đàm Mê Kông: Năng lượng – Môi trường – An ninh sinh kế diễn ra ngày 03/08/2010 tại Hà Nội.

Buổi tọa đàm do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Mạng lưới Sông ngòi (VRN) phối hợp cùng Trung tâm Henry L. Stimson (Mỹ) tổ chức, với sự có mặt của đại diện các cơ quan chính phủ, cơ quan nghiên cứu và các tổ chức phi chính phủ trong-ngoài nước..., đã cung cấp một bức phác họa về tình hình phát triển thủy điện trên dòng Mê Kông, những tác động đối với môi trường, xã hội và sinh kế của người dân, đồng thời đưa ra những khuyến nghị vì mục tiêu phát triển bền vững của lưu vực.
Cơn khát năng lượng và những hệ lụy từ phát triển thủy điện



Trong khi các nguồn năng lượng khác chưa đủ hiệu quả kinh tế để hấp dẫn các nhà đầu tư và hoạch định chính sách, thủy điện vẫn là lựa chọn hàng đầu cho cơn khát năng lượng vì mục tiêu tăng trưởng. Tuy nhiên, trong khi lợi ích kinh tế của nguồn năng lượng này, về ngắn hạn, là khó có thể chối cãi thì những hệ lụy mà các con đập thủy điện gây ra đối với môi trường, xã hội và sinh kế của người dân lại luôn là vấn đề. Điều này một lần nữa được khẳng định mạnh mẽ tại buổi tọa đàm.
Tiến sĩ Đào Trọng Tứ, nguyên Phó Tổng thư ký Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam và TS Richard Cronin, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm Stimson đã bày tỏ mối quan ngại sâu sắc về 8 dự án đập lớn trên thượng nguồn của Trung Quốc và 11 dự án đang được lên kế hoạch tại hạ nguồn, trong khi các đập thủy điện đang hoạt động đã chứng tỏ những tác động tiêu cực lên môi trường và sinh kế của người dân.
Những tác động ấy được cụ thể hóa bằng ảnh hưởng tới chế độ thủy văn, lưu lượng dòng chảy, "nhịp lũ", độ bồi đắp phù sa, dòng di cư của cá, đa dạng sinh học, rừng, đất nông nghiệp... và kèm theo đó là những ảnh hưởng tới cuộc sống của hàng ngàn, hàng triệu con người do phải di chuyển chỗ ở, mất sinh kế, suy giảm nguồn lợi thủy sản, nông sản...
"Trên thực tế, một số nước Đông Nam Á đã từng bị ảnh hưởng do việc xả lũ bất ngờ và giảm lưu lượng phù sa do những công trình thủy điện lớn tại Vân Nam, Trung Quốc gây ra. Nay họ lại phải đối mặt với những nguy cơ mới, xuất phát từ kế hoạch xây dựng 11 con đập trên dòng chính Mê Kông tại Lào, Thái Lan và Căm-pu-chia." – TS Cronin phát biểu.
Tiến sĩ Richard Cronin cũng chia sẻ mối lo ngại về nguy cơ xóa sổ ngành đánh bắt thủy sản thương mại tại lưu vực này. Bởi lẽ đến nay các chuyên gia thủy sản đã khẳng định, bất chấp các nỗ lực giảm thiểu, việc tạo luồng di cư cho cá tránh các đập thủy điện chưa bao giờ thành công tại Mê Kông.
Minh họa cho điều này, bộ phim "Mê Kông – Dòng sông quá tải" do Trung tâm Stimson thực hiện, được PanNature chuyển ngữ và giới thiệu tại buổi tọa đàm đã dẫn câu chuyện về con đập Don Sahong tại khu vực thác Kohne phía Nam Lào, nơi mỗi năm có khoảng 200 loài cá có giá trị thương mại di cư qua để về nơi sinh sản. Theo ước tính của Trung tâm Nghề Cá Thế giới, con đập Don Sahong sẽ phá vỡ chu kỳ sinh sản bình thường của cá và ảnh hưởng tới 70% sản lượng cá đánh bắt tại hạ nguồn sông Mê Kông.
Như vậy, để có được doanh thu hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm, các con đập thủy điện có thể gây thiệt hại hàng tỉ đô la do phá vỡ nguồn lợi thủy sản, mất việc làm và ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế khác phụ thuộc vào dòng sông này.
Đặc biệt, đối với Việt Nam, một trong những nước ảnh hưởng nhiều nhất từ biến đổi khí hậu, lại là nước nằm cuối nguồn sông Mê Kông, những tác động này được đánh giá là trầm trọng hơn. Như TS Đào Trọng Tứ nhận xét: Việt Nam sẽ phải chịu tác động kép – mất đất và xâm nhập mặn ở vựa lúa ĐBSCL do biến đổi khí hậu và tác động từ quá trình phát triển trên thượng nguồn khiến nguồn cá suy giảm, chế độ dòng chảy thay đổi, độ màu mỡ của đất giảm...

clip_image003
Hình ảnh buổi Tọa đàm (ThienNhien.Net)

An ninh môi trường, sinh kế và bài toán lượng giá tác động
Nhận định rằng xu hướng phát triển trên dòng Mê Kông hiện nay chưa đặt mối quan tâm đúng mức tới an ninh môi trường, xã hội và sinh kế, TS Richard Cronin phát biểu: "Vì không phải là ngư dân và nông dân, những người mà nguồn sống phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên của dòng Mê Kông, các nhà đầu tư phát triển quan tâm trước nhất tới sản lượng điện, tới lợi ích kinh tế mà các dự án phát triển sản sinh được".
TS Richard Cronin cũng cho rằng việc đáp ứng nhu cầu năng lượng là thỏa đáng. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là có nên đánh đổi lợi ích kinh tế với những tác động và hệ lụy về môi trường và sinh kế hay không? Câu trả lời trở nên phức tạp hơn vì đây là vấn đề xuyên quốc gia, khi mà trong nhiều trường hợp, lợi ích kinh tế lại do một nước thụ hưởng và hệ lụy môi trường lại là gánh nặng cho nước khác. Còn trong trường hợp khác, ví dụ với nước hạ nguồn Lào, khi mà việc xuất khẩu điện rõ ràng mang lại lợi ích kinh tế cho họ thì bài toán đánh đổi giữa nguồn thu từ xuất khẩu và thiệt hại do ảnh hưởng tới quyền lợi của người dân phải được cân nhắc kỹ lưỡng.
Bên cạnh đó, còn một vấn đề mà các nhà hoạch định cần giải quyết, theo TS Richard Cronin: Các đập thủy điện sau 10 năm hoặc hơn nữa mới có thể hoàn thành và sinh lợi. Vậy khoảng trống về an ninh lương thực, về sinh kế của người dân trong khoảng thời gian ấy được lấp đầy bằng cách nào?
Có một thực tế là trong khi những lợi ích kinh tế có thể nhìn thấy được thì những tác động về môi trường, xã hội lại khó quan sát hơn. Chính vì thế, theo TS Đào Trọng Hưng - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật - việc lượng giá các tác động môi trường, xã hội, văn hóa là vô cùng cần thiết để đánh giá cái được – mất trong các dự án phát triển và từ đó xem xét có cần thiết phải đánh đổi hay không.
Theo TS Cronin, việc giải quyết bài toán lượng giá được – mất còn đặc biệt quan trọng và trở nên phức tạp hơn khi lợi ích kinh tế từ thủy điện và an ninh năng lượng ở hạ nguồn không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc vào một "ông lớn" trên thượng nguồn. Bởi lẽ, các con đập ở hạ lưu không thể vận hành nếu các con đập lớn của Trung Quốc tích nước trên thượng nguồn vào mùa khô.
Giải pháp mang tên Hợp tác - Tri thức - Thông tin và Xã hội dân sự
Là một con sông quốc tế, rõ ràng việc hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia trong lưu vực Mê Kông là điều kiện tiên quyết để đạt được sự phát triển cân bằng, hài hòa lợi ích của các bên. Tuy nhiên, sự hợp tác trong quản lý tài nguyên nước giữa các nước trong lưu vực Mê Kông hiện vẫn là một câu chuyện dài chưa có hồi kết. Ủy hội sông Mê Kông (MRC) được thành lập năm 1995 với sự vắng mặt của 2 nước Trung Quốc và Myanmar đến nay vẫn chưa gánh vác được sứ mệnh mà nó tuyên bố và đáp ứng sự mong đợi của các nước thành viên.
Hiện Trung Quốc vẫn từ chối chia sẻ toàn bộ các thông tin quan trọng về các dự án đập và kết quả nghiên cứu về môi trường và thủy văn của họ. Hơn nữa, Trung Quốc trước sau vẫn một mực phủ nhận trách nhiệm về các tác động từ hoạt động phát triển trên thượng nguồn đối với hạ lưu, đồng thời còn khẳng định là họ chỉ "làm lợi" cho các nước hạ nguồn bằng chức năng điều tiết lưu lượng nước của các con đập.
Song, trong khi việc kêu gọi Trung Quốc và Myanmar vào MRC luôn được ưu tiên, thì một câu hỏi vẫn được đặt ra là liệu 4 nước thành viên MRC đã thực sự đồng thuận và thống nhất vì sự phát triển bền vững của lưu vực này? Câu trả lời, rất tiếc, lại không được mong đợi. Theo TS Đào Trọng Tứ, ngay cả quy chế giữa các quốc gia về thông báo và tư vấn giữa các nước thuộc MRC về các dự án đập trên dòng chính hiện vẫn chưa được thực thi đầy đủ, chứ chưa nói đến các cam kết xa hơn.
Nói về sự hợp tác của Mỹ đối với lưu vực này, TS Cronin cho biết, Mỹ và Việt Nam cùng quan tâm đến dòng sông này và đã nhìn thấy các tiềm năng về thương mại, sinh kế, môi trường... mà dòng sông mang lại. Mối quan tâm này của Mỹ phần nào được thể hiện bằng Sáng kiến hạ lưu Mê Kông (LMI) công bố tại Hội nghị ASEAN 2009 nhằm giúp các nước trong lưu vực tăng cường năng lực, phát triển công nghệ để quản lý bền vững nguồn nước sông Mê Kông.
Tuy nhiên, theo ông, điều quan trọng hơn là bản thân các nước trong lưu vực cần nâng tầm mối quan hệ hợp tác để tìm ra các giải pháp công bằng và thân thiện môi trường vì lợi ích chung của cả lưu vực Mê Kông. Và đặc biệt, vì là nước hạ nguồn chịu nhiều thiệt thòi, Việt Nam cần có tiếng nói mạnh mẽ hơn với các dự án phát triển trên dòng Mê Kông từ các nước láng giềng.
Ông Timothy Hamlin - Trung tâm Stimson - thì cho rằng trong bối cảnh hiện nay, thông tin, tri thức và sự tham gia của các tổ chức xã hội là rất cần thiết để cứu dòng Mê Kông. Theo ông, các nghiên cứu khoa học đồ sộ về tác động của các dự án phát triển trên dòng Mê Kông rất cần được các tổ chức xã hội dân sự chuyển tải thành những thông tin súc tích, dễ tiếp cận để gửi tới chính phủ, tới các nhà hoạch định chính sách, giúp họ có các quyết sách đúng đắn, cân nhắc hợp lý các hệ lụy đi kèm.
Thêm vào đó, các đại biểu tham gia tọa đàm cũng nhất trí rằng các tổ chức xã hội dân sự cần đóng góp hơn nữa những tiếng nói phản biện, tiếng nói thể thiện nguyện vọng của những người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển tới các quyết định của chính phủ.

***

Trong bộ phim Tan chảy ở Tây Tạng của mình, M.Buckley - một nhà làm phim tài liệu Canada có nói: "Cách tốt nhất để giết chết một dòng sông là xây trên đó những con đập". Hy vọng bây giờ chưa phải quá muộn để các nước trong lưu vực cùng cân nhắc lại việc xây dựng những con đập thủy điện và các dự án phát triển được cho là đang "bức tử" dòng sông Mẹ này.

HA

Nguồn : Thiennhien

Năm mâu thuẫn cơ bản hiện nay của xã hội Việt Nam, nguyên nhân và giải pháp

Năm mâu thuẫn cơ bản hiện nay của xã hội Việt Nam, nguyên nhân và giải pháp

KS Doãn Mạnh Dũng

Tóm tắt

Từ 30/4/1975, Việt Nam thống nhất và bắt đầu vào giai đoạn xây dựng đất nước. Chúng ta  kiến quốc trong bối cảnh nền văn minh nhân loại đang dành những thành tựu to lớn, loài người ngày càng sống có văn hóa hơn, yêu thương nhau hơn. Nhưng loài người  cũng đứng trước sự thử thách lớn hơn đó là sự biến đổi nguồn tài nguyên trái đất do quá trình khai thác của con người và tính tự nhiên của trái đất.

Thế nhưng ở Việt Nam hiện nay, sự trì trệ về kinh tế, sự yếu kém về quản lý đang đưa đất nước đến mối hiểm nguy. Với lòng mong muốn tìm được bản chất các hiện tượng để có giải pháp hữu hiệu khắc phục, nhằm cùng nhau xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do và hạnh phúc, tác giả chọn góc độ nhìn từ lý thuyết tạo giá trị thặng dư của Mác (Karl Marx), tôi cho rằng có năm mâu thuẫn cơ bản hiện nay ở xã hội Việt Nam.

1. Mâu thuẫn giữa năng lực thật của con người Việt Nam và nhu cầu phát triển đất nước.

2. Mâu thuẫn giữa nhu cầu môi trường sống với sự biến đổi môi trường  trong quá trình khai thác tài nguyên.

3. Mâu thuẫn giữa quyền lợi  của cộng đồng dân tộc và quyền lợi nhóm.

4. Mâu thuẫn giữa đồng bào bị tổn thất trong chiến tranh, trong di tản và trong cải tạo Công thương với Chính quyền trong nước.

5. Mâu thuẫn nội bộ Việt Nam trong đường lối quan hệ với Trung Quốc.

Các mâu thuẫn trên đang làm xói mòn tiềm năng kinh tế và quân sự của đất nước. Để giải quyết các mâu thuẫn này, tác giả cho rằng chúng ta cần trân trọng ý kiến của ông Nguyễn Văn An –Cựu Chủ tịch Quốc hội là cần khôi phục Hiến pháp 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng.

Dẫn nhập

Thế giới hôm nay là thế giới của các quốc gia liên kết và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, ảnh hưởng lẫn nhau về chính trị và văn hóa. Mỗi cá nhân chỉ thành công khi biết hợp tác và làm việc nhóm. Mỗi dân tộc cũng chỉ thành công khi biết hợp tác quốc tế và tiếp thu tinh hoa của các quốc gia khác. Nền kinh tế hàng hóa đang chuyển dần sang nền kinh tế trí thức. Với thành tựu của tin học, hàm lượng trí tuệ ngày càng chiếm nhiều hơn so với hàm lượng vật chất trong hàng hóa hay dịch vụ. Quá trình khai thác thiên nhiên cũng tạo sự ấm dần của khí hậu mang tính toàn cầu gây nguy hiểm cho loài người, nên cả thế giới không chỉ hợp tác với nhau trong làm ăn mà còn hợp tác với nhau để bảo vệ trái đất này. Tình yêu của con người không còn giới hạn trong phạm vi lòng yêu nước, yêu quốc gia nơi mình sinh ra và cùng ngôn ngữ, mà tình yêu con người và con người đang vượt qua biên giới cứng của quốc gia, mở rộng hơn đến đồng loại, dù ở hòn đảo nhỏ giữa biển khơi hay góc núi xa xôi trên trái đất. Lòng nhân ái và khoan dung của con người ngày càng được ngợi ca và trân trọng trong nền văn minh của thế kỷ XXI. Đó là thời đại tuyệt vời mà chúng ta đang được sống. Tiếc thay trong thời đại đó ngưòi dân Việt Nam vẫn loay hoay với nhiều khó khăn do chính mình tạo ra, con người vẩn sống quá kham khổ, quá gian truân.

Cách đây hai ngày, hôm 31/7/2010, tại sân bay Tân Sơn Nhất, tôi gặp một đoàn bạn trẻ đi xuất khẩu lao động tại Malaysia. Hỏi kỹ, mới biết các em chỉ học hết lớp 5, quê ở Quảng Bình, tuổi 18 nhưng người nhỏ bé vì thiếu dinh dưỡng. Phải chăng chúng ta tiến hành một cuộc kháng chiến trường kỳ, mất mát 3 triệu con người và bị thương 10 triệu dân để hôm nay đi làm nông dân cho các nước láng giềng nhằm mưu cầu hạnh phúc?

Để mưu cầu hạnh phúc, trước hết dân tộc đó phải có độc lập. Sau khi có độc lập, cộng đồng dân tộc đó muốn mưu cầu hạnh phúc thì phải lao động sản xuất hay làm dịch vụ. Nhân dân Mỹ đã từng nổi dậy chiến đấu giành độc lập từ nước Anh. Người Việt Nam cũng vậy, vì vậy nhiều thế hệ người Việt đã đứng dậy giành độc lập cho đất nước. Người Mỹ tự hào về một thế hệ yêu nước đã giành độc lập cho nước Mỹ. Người Việt Nam cũng tự hào về những thế hệ đã chấp nhận hy sinh tất cả vì độc lập và thống nhất đất nước.  

Sức mạnh lớn nhất của người Việt là lòng yêu nước. Sức mạnh của lòng yêu nước lại được lãng mạn hóa với giấc mơ hạnh phúc của loài người: "Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu". Chính sự lãng mạn này đã nhân thêm sức mạnh, làm nên các chiến thắng quân sự mà loài người khó tưởng tượng.

Nhưng sau 35 năm kiến quốc, giấc mơ lãng mạn một xã hội tốt đẹp như trên ngày càng xa vời và bị thay thế dần bằng một xã hội mà chính các đại công thần tham gia việc sinh ra và dựng nên cũng phải thất vọng, đừng nói đến lòng dân hay bạn bè chân chính trên thế giới. Xã hội tích tụ ngày càng nhiều kẻ biếng nhác hơn, nói dối nhiều hơn, nói một đằng làm một nẻo. Con người làm giàu bằng bàn tay và trí tuệ sáng tạo thì ít mà chủ yếu bằng con đường quyền lực của quan chức hoặc gắn bó với các quan chức để chiếm hữu các nguồn lực dành cho sản xuất, dịch vụ hay phân chia kết quả của sản xuất, dịch vụ. Hậu quả, xã hội ngày càng thiếu nhiều hơn sản phẩm hay dịch vụ có chất lượng cao của Việt Nam và Việt Nam trở thành xã hội tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nước ngoài. Đổi lại Việt Nam phải bán các nguồn tài nguyên thô và đi vay tiền các nước để thế hệ con cháu đời sau sẽ trả. Hiểm nguy hơn, nền độc lập của Việt Nam đang bị đe dọa và lãnh thổ Việt Nam đã bị ngoại bang cắt xén.

Vậy xã hội Việt Nam thật sự tồn tại những mâu thuẫn cơ bản gì, nguyên nhân và giải pháp. Tác giả chọn sự quan sát với góc độ nhìn từ nguyên lý tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ để phân tích. Vì nhu cầu kiến quốc có bản chất chủ yếu từ các quá trình sản xuất hay làm dịch vụ.

Bản chất sự hình thành hàng hóa và dịch vụ

Con nguời ta muốn sống phải lao động nhằm mục đích tạo ra hàng hóa hay dịch vụ để tự sử dụng hay trao đổi. Trong nền kinh tế hàng hóa, các sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được tạo ra chủ yếu dùng để trao đổi lẫn nhau. Sự trao đổi trên được định giá bằng tiền theo quy luật cung và cầu. Trong quá trình trao đổi hàng hóa và dịch vụ có sự chênh lệnh giữa tổng vốn bỏ ra và tổng vốn thu được, người ta gọi đó là giá trị thặng dư hay lãi thu được.

Trong học thuyết của Mác, học thuyết về giá trị thặng dư là hòn đá tảng của học thuyết Mác. Học thuyết giá trị thặng dư được Mác mô tả bằng công thức sau:

G= c+v+m (Công thức 1)

Trong đó: G: Giá trị hàng hóa và dịch vụ được tạo ra; c: là máy móc, vật tư. Mác cho rằng  "c" có giá trị bất biến ; v: là phần tiền đưọc trã cho người công nhân; và m: là phần nhà tư bản chiếm hữu.

Thời mà Mác viết công thức trên, khi đó nhà tư bản bóc lột giai cấp công nhân chủ yếu dựa vào hai yếu tố: cường độ lao động và thời gian lao động. Chính khi tăng cường độ lao động hay tăng thời gian lao động trong ngày thì người công nhân chỉ còn con đường nổi dậy phá tan xiềng xích hoặc là chết. Vì vậy Mác cho rằng giai cấp công nhân là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản. Với nhận thức "c" là bất biến nên những người nghèo tin rằng kẻ giàu vì cướp phần lao động của mình. Với nhận thức trên, những người nghèo đã tập hợp lại, tạo ra sức mạnh vô biên cho các cuộc cách mạng lật đổ chính quyền tư sản và phong kiến.

Nhưng khi kiến quốc, chúng ta phải đối mặt với  "Công thức 1" của Mác.

Để hiểu "Công thức 1" ta xem xét các công đoạn sản xuất ra chiếc máy hơi nước như sau:

Muốn chế tạo máy hơi nước, phải dùng quặng sắt và than để luyện thành thép. Quặng sắt và than là tài nguyên thiên nhiên. Để có thể luyện thành sắt, người công nhân phải sử dụng trí tuệ luyện thép của loài người tích lũy hàng ngàn năm. Để ráp các mảnh sắt thành máy hơi nước phải sử dụng phát minh chiếc máy hơi nước của ông Giêm Oát.

Hai vị trí khác nhau trên trái đất sẽ có nguồn tài nguyên thiên nhiên khác nhau. Chính vì vậy, tại hai vị trí khác nhau trên trái đất con người sẽ tạo ra sản phẩm có giá thành khác nhạu.

Hai con người khác nhau nên khả năng tích lũy nguồn tài nguyên trí tuệ của loài người cũng  khác nhau. Chính vì vậy hai con người khác nhau sẽ tạo ra những chiếc máy có hiệu suất khác nhau.

Chính những sự khác nhau đó đã tạo ra sự chênh lệch về lợi nhuận. Hay nói cách khác, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn tài nguyên trí tuệ đã tạo ra lợi nhuận cho nhà tư bản. Hai vị trí khác nhau, hai con người khác nhau sẽ tạo ra giá trị thặng dư khác nhau.

Vì vậy "c" là biến và không phải bất biến như Mác nhận định.

Khi thừa nhận "c" là biến, có nghĩa nhà tư bản có những ba hướng tìm ra lợi nhuận  xếp theo thứ tự  như sau: một là từ lao động giản đơn của người công nhân hay chính nhà tư bản, hai là từ tài nguyên thiên nhiên, ba là từ tài nguyên trí tuệ. Các yếu tố sau có xu thế  tạo ra nhiều lợi nhuận hơn  yếu tố trước theo sự tiến hóa của xã hội loài người. Ví dụ, các nước ở Trung Đông giàu có nhờ dầu thô; ông Bill Gate giàu có nhất thế giới nhờ tài nguyên trí tuệ tạo ra phần điều hành máy tính. Khi chỉ ra nhà tư bản có ba hướng tìm được lợi nhuận thì mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư bản không phải là mâu thuẫn đối kháng.

Tóm lại quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ được mô tả bằng công thức giản đơn như sau :

G= Lq+Lg +Lt +T  (Công thức 2)

Trong đó, G: Giá trị hàng hóa hay dịch vụ; Lq: Lao động quá khứ (vốn tự có hay vốn đi vay) ; Lg: Lao động giản đơn ; Lt : Lao động trí tuệ; và T: Tài nguyên thiên nhiên.

Tùy theo từng loại hàng hóa hay dịch vụ mà tỷ lệ các thành phần trên khác nhau.

Dựa vào nguyên lý tạo ra sản phẩm và dịch vụ, ta có thể thấy các hiện tượng phức tạp của xã hội Việt Nam hiện nay nằm trong năm mâu thuẫn cơ bản sau đây:

1. Mâu thuẫn giữa năng lực thật của con người Việt Nam và nhu cầu phát triển đất nước.

Sau 80 năm nô lệ dưới chính quyền đô hộ Pháp và 30 năm chiến tranh, cả dân tộc Việt Nam đều háo hức xây dựng lại đất nước, mưu cầu hạnh phúc cho chính mình và cho cả cộng đồng dân tộc. Nhưng năng lực thật của người Việt Nam là còn quá thấp so với nhu cầu kiến quốc.

Mặc dầu trong chiến tranh chúng ta đã tiến hành đào tạo  nhiều cán bộ khoa học ở trong và ngoài nước, nhưng năng lực chuyên môn của cán bộ khoa học Việt Nam quá ít và quá kém.

Tiêu biểu là nhóm các Tiến sĩ học ở Liên xô trong thời chiến tranh, đã trình với Quốc hội tiềm năng cảng nước sâu Dung Quất. Thực chất ở vịnh Dung Quất tiềm năng về cảng biển là yếu kém nhất miền Trung, đê chắn sóng hiện tại làm xong chỉ làm tăng nhanh sự bồi lấp cảng Dung Quất. Sự dốt nát trên đã làm ngành hóa dầu Việt Nam - ngành mũi nhọn mà toàn dân hy vọng - bị sa lầy.

Hoặc ngành đóng tàu Việt Nam được ưu tiên với một nguồn ngân sách khổng lồ, kể cả tiền vay đổ vào Vinashin. Nhưng sau nhiều năm, ngành đóng tàu Việt Nam đến hôm nay không làm được việc gì hơn là công việc cắt thép sau đó hàn lại và lắp ráp. Việt Nam chưa sản xuất được những thứ nhỏ nhất như cái công tắc điện hay vòi nước cho con tàu, đừng nói gì đến các thiết bị phụ trợ cho con tàu. Trong khi đó lại đầu tư quá nhiều ụ đà cho dự án "cắt và hàn con tàu"  cùng các dự án ngoài chuyên môn đóng tàu nên ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam phá sản là tất yếu.

Tư duy quy hoạch đô thị từ Hà Nội đến TP Hồ Chí Minh đều có vấn đề, làm khủng hoảng trầm trọng hơn giao thông và môi trường đô thị.

Nguyên nhân sự yếu kém này vì chúng ta đã tiếp nhận "Công thức 1", coi trọng giá trị tạo ra sản phẩm  hàng hóa và dịch vụ từ lao động giản đơn. Coi trọng cán bộ có lý lịch tốt, có quan hệ  thân hữu, có biểu hiện tích cực bằng hành động và nói hay, ngược lại coi thường tầng lớp trí thức trung thực, những người dành nhiều thời gian cho nghiên cứu.

Để giải quyết mâu thuẫn này, giải pháp cơ bản là tập trung nâng cao giáo dục và dân trí của toàn dân với quan điểm cụ thể như sau:

a) Bằng mọi giá, chúng ta nên phổ cập cấp III cho thanh niên Việt Nam. Có nghĩa là Nhà nước phải ưu tiên đặc biệt cho hệ thống giáo dục phổ thông bằng tiền ngân sách.

b) Bằng mọi giá, chúng ta nên cho thanh niên vay tiền để học những nghề mà xã hội Việt Nam hay trên thế giới cần.

c) Giáo dục đại học hay trên đại học mang tính chuyên sâu nên rất cần những người có năng khiếu nghiên cứu. Hệ thống giáo dục đại học chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt để chọn nhân tài. Nhà nước chỉ tạo thuận lợi về tài chính cho các nhân tài đặc biệt của đất nước.

Bằng  giải pháp trên, chúng ta tập trung được nguồn tài chính  giúp thanh niên Việt Nam có thể tự lập vào đời với hành trang tốt nghiệp phổ thông. Với giáo dục nghề phổ cập, giúp xã hội Việt Nam ổn định vì ai cũng có khả năng cung ứng lao động của chính mình cho thị trường trong và ngoài nước. Còn những người tốt nghiệp đại học và trên đại học thực sự là nhân tài của đất nước là nguyên khí của quốc gia.

2. Mâu thuẫn giữa nhu cầu môi trường sống với sự biến đổi môi trường trong quá  trình khai thác tài nguyên.

Khi sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho sản xuất hay dịch vụ, tài nguyên có các loại như sau:

- Tài nguyên không tái tạo được: than, dầu mỏ

- Tài nguyên tái tạo chậm: rừng

- Tài nguyên được tăng lên trong quá trình khai thác: Tài nguyên đất, tài nguyên địa lý giao thông.

Đặc biệt có loại tài nguyên trong quá trình khai thác buộc thải ra nhiều chất thải gây ô nhiểm nặng môi  trường. Ví dụ khai thác bôxít Tây Nguyên, khai thác vàng sử dụng các chất xúc tác để phân kim …

Mâu thuẫn giữa môi trường sống cần trong sạch và sự biến đổi trong quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên là mâu thuẫn tất yếu trong quá trình phát triển. Mâu thuẫn sẽ gay gắt khi trí tuệ của các quan chức có quyền lực bị hạn chế, lợi ích nhóm đặt trên lợi ích của cộng đồng. Với nhận thức đúng đắn về môi trường, Chính phủ sẽ chủ động hướng các doanh nghiệp chọn sản phẩm hay dịch vụ kinh doanh phù hợp với môi trường thiên nhiên của đất nước. Hơn nữa Chính phủ giúp các doanh nghiệp chủ động xử lý môi trường trong quá trình sản xuẩt hay là dịch vụ.  

Mâu thuẫn này có xu thế ngày càng gay gắt và chỉ có thể giải quyết trên nền tảng hai yếu tố: Dân trí cao và Dân chủ thật sự trong xã hội.

3. Mâu thuẫn giữa quyền lợi của cộng đồng dân tộc và quyền lợi nhóm

Sau khi nước nhà được độc lập, ai cũng mong kinh doanh sản xuất hay làm dịch vụ để kiếm sống. Nhưng để sản xuất hay làm dịch vụ, cá nhân hay doanh nghiệp phải cần bốn yếu tố như "Công thức 2".

Về vốn, không phải ai cũng được tiếp cận với nguồn vốn thuận lợi. Điển hình như Vinashin tiếp cận dể dàng nguồn vốn, còn các doanh nghiệp khác thì vô cùng khó khăn. Nhiều đơn vị sử dụng tiền thuế của dân lại đứng ra kinh doanh cạnh tranh với hệ thống dân doanh. Như vậy sự tiếp cận với nguồn vốn là còn nhiều bất cập và không công bằng.

Việc tiếp cận với tài nguyên thiên nhiên vô cùng khó khăn với người dân thường. Đơn giản với đất ở hay đất sản xuất và kinh doanh. Người dân rất khó khăn làm thủ tục sở hữu đất đai. Thậm chí nơi cư trú và kinh doanh của người dân nếu có tiềm năng đặc biệt thì dễ bị chiếm hữu bởi các nhóm có quyền lực. Chúng ta chưa có chính sách rõ ràng và công bằng trong việc sử dụng các loại tài nguyên của đất nước.

Sự tham nhũng, bản chất của nó là sự sử dụng quyền lực để chiếm hữu các nguồn lực cung ứng cho sản xuất hay dịch vụ hay phân phối lại các kết quả của quá trình sản xuất hay dịch vụ. Tham nhũng chỉ có thể có khi có quyền lực. Vì vậy việc thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực là nguyên nhân tham nhũng tràn lan. Chính vì vậy, con người trong  xã hội Việt Nam có xu hướng đi tìm kiếm quyền lực hơn là đi tìm kiếm các phát minh trí tuệ. Khi cả xã hội không có hàng hóa chứa nhiều chất xám, thì xã hội đó nghèo là tất yếu.

Để giải quyết mâu thuẫn này cần tạo ra môi trường tự do, dân chủ và bình đẳng giữa các cá nhân cũng như giữa các doanh nghiệp trong quá trình sử dụng các nguồn lực để sản xuất hay làm dịch vụ, cũng như công bằng trong chia sẽ các kết quả kinh doanh. Trên thế giới, kết quả kinh doanh được chia sẻ công bằng bằng công cụ thuế,  như vậy toàn dân có lợi chứ không chỉ vài cá nhân có lợi. Giải pháp khắc phục mâu thuẫn này chính là tôn trọng sự dân chủ và trực tiếp của toàn dân. Để chính sách này có thể trở thành hiện thực, việc đầu tiên Việt Nam cần sòng phẳng tôn trọng công lao các công thần, các cựu chiến binh và những người có công trong chiến tranh. Chấp nhận sự ưu đãi về tinh thần, vật chất và cả sự thừa kế về vật chất với các công thần, các cựu chiến binh và những người có công  như nước Mỹ vẩn trân trọng với các chiến binh của họ đã chiến đấu giành độc lập từ nước Anh. Có như vậy mới hy vọng rút ngắn thời gian khủng hoảng  để có nền dân chủ thật sự trên đất nước Việt Nam.

4. Mâu thuẫn giữa đồng bào bị tổn thất trong chiến tranh, trong di tản và trong cải tạo Công thương với Chính quyền trong nước.

Cuộc chiến tranh và các chính sách của quá khứ đã gây tổn thất từng con người, từng gia đình là vết thương đau đòi hỏi cần nhiều thời gian cho tất cả các bên. Đất nước cần mọi người khép lại quá khứ, nhìn về tương lai với tấm lòng khoan dung vì tình yêu đất nước, vì tấm lòng nhân bản mong muốn con cháu người Việt sống trong tự do, hạnh phúc và yêu thương nhau.

Người Việt trong nước hiểu rõ ba triệu người Việt ở nước ngoài là một trong các yếu tố rất quan trọng cung cấp nhân lực, tài lực hay thông tin để khắc phục sự lạc hậu về năng lực xây dựng và quản trị đất nước.

Ba triệu người Việt sống ở nước ngoài cũng như nhiều triệu người dân trong nước cần có thời gian để giảm dần các nỗi đau mất mát do chiến tranh, trong di tản và trong cải tạo Công thương ở miền Nam. Để hòa hợp và hòa giải dân tộc, Chính quyền trong nước không chỉ chấp nhận Việt kiều có hai quốc tịch mà còn cần chấp nhận chính sách tôn trọng sự bình quyền giữa người Việt trong và ngoài nước kể cả quyền bầu cử và ứng cử. Có như vậy chúng ta mới mong tạo một trào lưu đại đoàn kết giữa người Việt Nam với nhau.

5. Mâu thuẫn nội bộ Việt Nam trong đường lối quan hệ với Trung Quốc

Chúng ta biết ơn sự hỗ trợ của Trung Quốc trong các cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước. Chúng ta tôn trọng sự lớn mạnh và phát triển của Trung Quốc, nhưng quyết không bị lệ thuộc vào họ. Chúng ta luôn luôn mong muốn hữu hảo với Trung Quốc nhưng không thể vì sự hữu hảo mà phải cúi đầu để trở lại làm nô lệ và buộc phải thực thi chính sách của họ.

Trung Quốc đang phát triển mạnh trong sản xuất hàng hóa nhưng chủ yếu dựa vào yếu tố sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên như nhiên liệu, khoáng sản, thủy sản… Vì nền kinh tế phụ thuộc vào tài nguyên nên càng làm Trung Quốc bất chấp dư luận, bất chấp láng giềng, bất chấp ý thức hệ … tìm mọi cách thôn tính và mở rộng lãnh thổ để có nhiên liệu và nguyên liệu phục vụ cho sự phát triển nóng của nền kinh tế Trung Quốc. Nếu Trung Quốc hướng nền kinh tế của Trung Quốc sang nhanh nền kinh tế trí thức, ít dùng nhiên liệu và nguyên liệu hơn thì sức mạnh Trung Quốc sẽ tăng nhanh hơn và góp phần xây dựng tình hữu nghị và ổn định trong khu vực.

Người Việt Nam hiểu rõ sự cay đắng khi lệ thuộc là phải thực thi chính sách của họ. Đó là chính sách chia rẽ và tàn sát người Việt Nam như trong Cải cách ruộng đất 1954, như ngăn cản thống nhất đất nước Việt Nam, như bị mất Hoàng Sa 1974, như bị chiếm Núi Đất (bây giờ kẻ cướp được đặt tên là Lão Sơn) - Hà Giang 2-4-1984, như bị chiếm Gạc Ma (Trường Sa) 14-3-1988. Gần đây Trung Quốc áp dụng chiến lược âm thầm chiếm các rừng đầu nguồn và đặt chân vào các vị trí trọng yếu quân sự của Việt Nam như  Tây Nguyên. Tháng 7/2010 Trung Quốc xây dựng Nhà máy điện nguyên tử tại Phòng Thành cách thủ đô Hà nội 280 Km, nằm về phía đầu hướng gió Đông Bắc. Khi sự cố nhà máy điện nguyên tử xảy ra, nếu có thì Thủ đô Hà Nội và cả đồng bằng Bắc bộ nằm trong khu vực nhiễm xạ nhanh nhất. Hành động trên càng làm mối quan hệ Việt Trung càng thêm gay gắt. Muốn hay không Việt Nam buộc xem xét lại chiến lược quy hoạch  kinh tế, an ninh và cả Thủ đô trong tình hình mới.

Bài học ở Cam-pu-chia, một dân tộc tự tàn sát lẫn nhau theo chính sách của bọn Pôn Pốt là bài học lớn cho cả loài người phải cảnh giác khi thích hợp tác và bị phụ thuộc vào Trung Quốc.

Về phía Việt Nam chỉ còn con đường duy nhất là tập trung nâng cao sức mạnh Việt Nam về kinh tế và quốc phòng. Mặt khác phải sẵn sàng hợp tác với các nước đồng minh mạnh trên Thế giới để bảo vệ an ninh Biển Đông và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Lời kết

Mọi học thuyết mà giúp con người yêu con người hơn là học thuyết tiến bộ. Còn học thuyết nào giúp con người căm thù hay đố kỵ với con người đều là tội ác với nhân loại. Với phương pháp luận trên nền tảng học thuyết cơ cấu hình thành hàng hóa và dịch vụ theo "Công thức 2" chúng ta dễ dàng tìm được nguyên nhân và giải pháp để đẩy nhanh quá trình kiến quốc. Để giải quyết năm mâu thuẫn trên trong xã hội Việt Nam, chúng ta nên trân trọng đề xuất của ông Nguyễn Văn An - Cựu Chủ tịch Quốc hội Việt Nam - cần khôi phục Hiến Pháp năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chi Minh đề xướng. Nguyên tắc của nó là Dân lập Hiến, Quốc hội lập Pháp, Chính quyền hành pháp theo Hiến pháp và Pháp luật, Tư pháp theo Hiến pháp và Pháp Luật. Không đi theo con đường trên, năm mâu thuẫn trên của xã hội Việt Nam ngày càng trầm trọng, kéo dài sự khốn khó cho số đông người Việt Nam và làm suy yếu tiềm năng bảo vệ đất nước. Thực tế chúng ta đã mất nhiều vùng biển, đảo và đất liền với Trung Quốc. Vì sự tồn vong của dân tộc, sự chọn lựa của chúng ta không còn con đường nào khác.

TP HCM, 1/8/2010

DMD

ĐN Mạng Bauxite Việt Nam biên tập


Hoàng Sa & Trường Sa CỦA Việt Nam

Hoàng Sa & Trường Sa CỦA Việt Nam

Kính gửi: BBT Bauxite Việt Nam

Chúng em là nhóm talamot (http://www.youtube.com/talamotweare1) mới làm một clip video nho nhỏ để hỗ trợ phong trào vẽ 6 chữ HS.TS.VN với ước mong được góp phần mình cùng các bạn trẻ khắp nơi cùng bày tỏ tấm lòng quyết tâm cho sự vẹn toàn của đất nước.

 

Trong thời gian qua, trang web của các bác đăng tải nhiều thông tin liên quan đến HS.TS.VN và qua đó chắc chắn nhiều bạn trẻ khắp nơi đã cùng hưởng ứng. Ước mong video clip nhỏ bé này được các bác xem và giới thiệu trên trang nhà Bauxite Việt Nam qua đó sẽ truyền đến tay hàng ngàn bạn đọc khác và mọi người sẽ cùng nhau thấy, cổ võ và góp sức thêm nữa cho tinh thần tuổi trẻ Việt Nam hôm nay.

Xin cảm tạ các bác và chúc các bác luôn khỏe mạnh để giữ vững trang mạng bauxite.

Nhóm Talamot


05 tháng 8 2010

Washington be bờ/chống đỡ quyền lợi chiến lược của mình ở châu Á

Washington be bờ/chống đỡ quyền lợi chiến lược của mình ở châu Á

Philip Bowring

image HỒNG KÔNG – Hoa Kỳ đã bị suy yếu trầm trọng vì vướng vào hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan và hệ quả là đã bỏ ngỏ tầm quan trọng chiến lược của vùng Đông Á. Nhưng hai động thái mới đây của Washington – những cuộc tập trận trên biển chung với Nam Hàn và cuộc chiến bảo vệ mạnh mẽ trên mặt ngoại giao đối với quyền thông thương tự do trên Biển Đông – đã chứng tỏ Hoa Kỳ bắt đầu quan tâm trở lại quyền lợi an ninh của mình ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Cả hai động thái này đã được tiếp nhận hoan nghênh rộng rãi trong vùng, ngoại trừ Trung Quốc.

Những cuộc diễn tập quân sự với Nam Hàn tuần rồi nhắc nhở Trung Quốc rằng Hoa Kỳ và đồng minh của họ vẫn còn giữ thế mạnh áp đảo về hải quân trong vùng. Đồng thời, tại Hội nghị Diễn đàn khu vực ASEAN tổ chức ở Hà Nội tháng rồi, mà đã qui tụ các Bộ trưởng Ngoại giao của 10 quốc gia Đông Nam Á, Trung Quốc và Hoa Kỳ cùng với những giới chức khác, Việt Nam đã thành công kết hợp với Hoa Kỳ để cùng đưa vấn đề Biển Đông trở lại bàn nghị sự trong những hội nghị quốc tế. Sự kiện này đã chọc giận Bắc Kinh, quốc gia khăng khăng đòi giải quyết những tranh chấp trên vùng biển này theo thể thức song phương giữa chính họ với riêng từng quốc gia tranh chấp khác, đồng thời tái khẳng định tuyên bố họ có chủ quyền đối với toàn bộ vùng biển này.

Theo lẽ tự nhiên, Bắc Kinh phẫn nộ trước việc can thiệp của bất ky cường quốc xa xôi nào vào trong khu vực nơi mà ảnh hưởng của nó nếu không bị can thiệp sẽ không gặp thách thức nào. Nhưng sự lớn mạnh về quân sự của Trung Quốc và áp lực ngày càng gia tăng mà Trung Quốc áp đặt lên những quốc gia lân bang trong khu vực Biển Đông – bằng việc đe dọa những công ty dầu lửa nên ngừng khai thác tại vùng biển ngoài khơi Việt Nam là một điển hình – đã làm dấy lên nhiều phẫn nộ. Mặc dù một vài quốc gia vẫn còn e dè không lên tiếng vì sợ làm phật lòng Trung Quốc, đại đa số nay đã bày tỏ mối lo ngại với sự lấn lướt dần dần của bá quyền Trung Quốc hơn là với hành động đế quốc của Hoa Kỳ. Trên tất cả, nhiều người tin rằng Bắc Kinh có tham vọng khẳng định một "Học thuyết Monroe" để loại trừ những cường quốc ngoài khu vực ra khỏi Đông Á.

Không phải tất cả các nhà quan sát đều đồng ý cho rằng Washington và Seoul đã khôn khéo trong phản ứng khi kết hợp phô trương sức mạnh để đáp trả lại vụ tàu chiến Cheonan của Nam hàn bị đánh chìm – mà thủ phạm hầu như chắc chắn là Bắc Hàn. Tại Nam Hàn những ý kiến vẫn còn chia rẽ sâu sắc trong việc chọn lựa phương cách như thế nào để đương đầu tốt nhất với Bình Nhưỡng – với lời lẽ cứng rắn và tăng cường cấm vận, hoặc tảng lờ đi những khiêu khích của nó, hoặc thử gắng tái tục lại chương trình danh nghĩa tình anh em xuyên Hàn.

Những cuộc tập trận chung trên biển đã khiến Trung Quốc thấy khó chịu và đã tăng cường mối cam kết của họ với Bắc Hàn. Nhưng sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với Bình Nhưỡng trong vụ tàu chìm Cheonan, vượt qua vấn đề hàng đầu là Bắc Hàn tiếp tục phát triển tên lửa và nguyên tử, đã khiến cho nhiều người Nam Hàn tỏ ra cảnh giác hơn với Trung Quốc. Mối quan hệ được hâm nóng một thời nay đã nguội lạnh và nhiều người Nam Hàn bây giờ tỏ ra lo ngại trước thực tế đang trở nên lệ thuộc quá nhiều vào giao thương với Trung Quốc. Viêc Trung Quốc ủng hộ Bình Nhưỡng cũng làm xấu đi hình ảnh của Trung quốc trong mắt các nước Đông Nam Á, nơi thủ đô các nước có quan hệ gắn bó gần gủi với Seoul.

Hoa Kỳ, qua việc tuyên bố tại Hội nghị ở Hà nộị rằng Hoa Kỳ có quyền lợi tự do thông thương trên Biển Đông và đòi giải quyết mọi tranh chấp theo đúng luật lệ quốc tế, đã mạnh mẽ tự đặt mình đứng cùng một tuyến với Việt Nam, Philippines, Malaysia và các quốc gia khác có hưởng quyền lợi từ kết quả giải quyết. Mặc dù Trung Quốc sở hữu chỉ 1 phần 5 đường bờ biển , Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ các đảo và quần đảo, mọi nguồn tài nguyên và quyền thông thương. Bắc Kinh đã tăng cường củng cố tuyên bố của mình với phiên bản lịch sử lấy Trung Quốc làm trung tâm và không thèm đếm xỉa gì đến một thực tế rằng những thủy thủ thuộc chủng tộc người Malay, những tổ tiên của người Mã lai, Inđô, Philipin và Chăm của Việt Nam ngày nay đã kiểm soát toàn bộ mọi hoạt động giao thương trên vùng biển này hàng thế kỷ trước người Trung Quốc.

Việt Nam mới đây đã tỏ rõ quyết tâm hơn những quốc gia tranh chấp khác – Malaysia, Philippiné và Brunei – trong việc phản bác chống lại Bắc Kinh, tăng cường bảo vệ biển đảo của mình và đặt mua sáu tàu ngầm của Nga. Sức mạnh của Hoa Kỳ cộng với quyết tâm của Việt Nam đã khiến những quốc gia tranh chấp khác sẵn sàng ủng hộ việc quốc tế hóa vấn đề tranh chấp hơn là, giống như Philippines, bị lôi cuốn vào những cuộc đối thoại song phương và những hợp tác cùng khai thác dầu với Trung Quốc.

Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã chứng tỏ là một phương tiện kém cỏi trong việc ấn chứng tuyên bố của Hiệp hội bởi vì chỉ một nửa hội viên của nó có quan tâm liên đới đến vấn đề. Cũng như không quốc gia tranh chấp nào tỏ rõ quyết tâm để cùng thỏa hiệp và chứng tỏ cho Trung Quốc thấy họ là một mặt trận đoàn kết. Nhưng Hội nghị Hà Nội một lần nữa đưa vấn đề ra trước chú ý của quốc tế và nhắc nhở Nhật Bản, LB Nga cùng những quốc gia khác rằng không một quốc gia nào thấy hứng thú chứng kiến Bắc Kinh nắm quyền kiểm soát toàn bộ vùng Biển Đông tối hệ trọng về mặt chiến lược này.

Hồ Kim Sơn dịch

Nguyên văn

Washington Shores Up Its Strategic Assets in Asia

By PHILIP BOWRING
Published: August 2, 2010

o Linkedin

o Digg

o Mixx

o MySpace

o Yahoo! Buzz

o Permalink

o

HONG KONG — The United States has been gravely weakened by its Iraq and Afghan wars and consequent neglect of the strategic importance of East Asia. But two recent moves by Washington — the joint naval exercises with South Korea and a spirited diplomatic defense of the freedom of the South China Sea — have shown a renewed concern with America's security interests in Northeast and Southeast Asia. Both these actions have been generally well received in the region, but not by China.

America's military maneuvers with South Korea last week reminded China of the overwhelming naval superiority that the U.S. and its allies still enjoy in the region. Meanwhile, at the meeting last month in Hanoi of the Asean regional forum, which brought foreign ministers from the 10 Southeast Asian nations together with U.S., Chinese and other officials, Vietnam successfully conspired with the United States to get the South China Sea issue back on the table for discussion at international meetings. This annoyed Beijing, which insists on treating disputes over those waters as a series of bilateral issues between itself and other claimants and has reasserted its claims to sovereignty over the sea.

Naturally, Beijing resents interference by a distant power in a region where its influence might otherwise go unchallenged. But China's military buildup and the increasing pressure it has been putting on its South China Sea neighbors — by frightening oil companies away from exploring off Vietnam, for example — have raised resentment. Although some countries remain reluctant to speak out for fear of offending China, most now worry more about creeping Chinese hegemony than they do about U.S. imperial behavior. Ultimately, many believe Beijing has aspirations to assert a "Monroe Doctrine" to exclude non-regional powers from East Asia.

Not all observers agree that it was wise of Washington and Seoul to respond with a show of force to the sinking — almost certainly by North Korea — of a South Korean warship, the Cheonan. In South Korea opinion remains deeply divided about how best to deal with Pyongyang — with tough talk and more sanctions, or by ignoring its provocations, or by attempting to re-engage in the name of pan-Korean fraternity.

The joint military exercises annoyed China and strengthened its commitment to the North. But Beijing's support for Pyongyang over the Cheonan incident, coming on top of the North's continuing nuclear and missile development, has made many South Koreans more wary of China. The once-warming relationship has cooled and many Koreans now worry about becoming too dependent on China trade. Support for Pyongyang has also hurt China's image in Southeast Asia, where many capitals have close relations with Seoul.

The United States, by declaring in Hanoi that it has an interest in freedom of navigation in the South China Sea and the settlement of disputed claims by international law, has put itself firmly in the camp of Vietnam, the Philippines, Malaysia and other nations with stakes in the outcome. Although China owns only about one-fifth of the coastline, Beijing claims almost all the islands, resources and navigation rights. It bolsters its claims with a Sino-centric version of history that ignores the fact that ethnic Malay seafarers, the ancestors of today's Malaysians, Indonesians, Filipinos and the Chams of Vietnam, dominated commerce in those waters centuries before the Chinese.

Vietnam has recently been showing more determination than the other claimants — Malaysia, the Philippines and Brunei — to talk back to China, strengthening its island defenses and ordering six submarines from Russia. U.S. power and Vietnamese resolve have now made the other claimants willing to support internationalization of the issue rather than, like the Philippines, be sucked into bilateral discussions and oil exploration joint ventures with China.

Asean itself has proved a poor vehicle for pressing the Southeast Asian claims because only half its members are concerned about the issue. Nor have the claimants shown much willingness to compromise among themselves and present China with a united front. But the Hanoi meeting has again brought the issue to international attention and reminded Japan, Russia and other nations that no one has an interest in seeing Beijing in control of the strategically vital South China Sea.

vvv

Nguồn: Nytimes