Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

18 tháng 11 2009

Ðặt Lại Vấn Ðề Xóa Ðói Giảm Nghèo Tại Việt Nam

Trước khi có một vài nhận định về việc Xóa Ðói Giảm Nghèo Tại Việt Nam, chúng tôi xin sao chép lại nguyên văn những lời phát biểu của một vài viên chức hàng đầu của Ngân Hàng Thế Giới như dưới đây:
Vào ngày 31-10-2007, tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, ông Robert B. Zoellick Chủ tịch Nhóm Ngân hàng Thế giới (NHTG), tức World Bank đã chính thức cho biết: “Việt Nam có đủ điều kiện để tiếp cận nguồn tài chánh của NHTG dành cho các nước có thu nhập trung bình.” Ông Zoellick nói tiếp: “Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ghi nhận trong thập kỷ vừa qua về vấn đề Giảm Nghèo, và NHTG cam kết sẽ tiếp tục đẩy mạnh mối quan hệ đối tác tốt đẹp với Việt Nam khi đất nước nầy đang tiến trên con đường phát triển bền vững cho mọi người”. Ông Chủ tịch NHTG tiếp tục: ”Việt Nam đã là một khách hàng lớn của IDA, tức International Development Associations mà tiếng Việt gọi là Hiệp Hội Phát Triển Quốc tế, một trong các Tổ chức thuộc NHTG.
Từ năm 1993, nghĩa cách đây khoảng 14 năm, Việt Nam có tỉ lệ nghèo đói là 58%, nhưng qua đến năm 2007 thì tỉ lệ đó đã giảm xuống dưới 20%. GDP, (Gross Domestic Product), tức Tổâng Sản Lượng Nội Ðịa bình quân đầu người đã tăng nhanh, từ dưới 200 USD/người vào năm 1993, giờ đây đến năm 2007 đã lên 825USD/người. Như vậy tỉ lệ thu nhập trong vòng hơn 10 năm qua đã tăng trên 7.3% năm. Cũng vì lý do đó, ông Klaus Rohland, nguyên Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đã phát biểu: “Có thể nói rằng không có quốc gia nào trên thế giới, trong vòng 15 năm qua đã phát triển xa và nhanh chóng đến như vậy. Ông nhận xét tiếp,Việt Nam, từ là một nước phải nhập khẩu gạo cho người dân, nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn vào thứ nhì trên thế giới.”
Dựa vào những kết quả nói trên, NHTG công bố là sẽ đầu tư 800 triệu US đôla trong vòng 5 năm tới cho Việt Nam dưới dạng các khoản vay và viện trợ không lãi. Dưới mắt của họ, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng và một gương thành công về phát triển.
Trong một trường hợp khác, là ngay lúc vừa mới được bổ nhiệm thay thế Tiến sĩ Wolfowitzts cựu Chủ tịch NHTG, ông Robert B. Zoellick, tân Chủ tịch trong một chuyến thăm Hà Nội 2 ngày khi kết thúc vào 7-8-2007, ông Chủ tịch Zoellick đã đề nghị hỗ trợ toàn diện để Việt Nam tiến đến mức phát triển cao hơn. Ông Zoellick xác định:“ Việt Nam là một trong những nước cải thiện mức sống nhanh nhứt thế giới, với tỉ lệ giảm nghèo nhanh.” Ông nói:” Nhờ vào các chương trình cải cách giai đoạn đầu và việc gia nhập WTO, tức Cơ Quan Thương Mãi Thế Giới, Việt Nam đang trên con đường trở thành một nước có thu nhập trung bình vào đầu năm 2010 (?)
Cũng vào dịp nầy, trong một chuyến thăm viếng đặc biệt một tỉnh miền núi ở phía bắc, được xem là một vùng sâu, nói cách khác là một nơi hẻo lánh. Ông Zoellich được tận mắt chứng kiến các nông dân địa phương đang được hưởng các lợi ích từ các chương trình và dự án do Hiệp Hiệp Hội Phát Triển Quốc Tế hỗ trợ. Cụ thể tại xã Hồng Ca, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái ông lại được xem các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Dự Án Giảm Nghèo do Hiệp Hội Phát Triển Quốc Tế và Bộ Phát Triển Quốc tế Anh quốc đồng tài trợ. Tại khu vực nầy đã có tới 165.000 người dân địa phương được hưởng nhiều lợi ích từ các dự án nói trên, trong đó bao gồm nhiều người thuộc sắc tộc miền cao.
Và, cũng tại đây ông Zoellick đã tận mắt thấy những sáng kiến về “Ðiện Khí Nông Thôn”, kể cả việc ông Chủ tịch được hướng dẫn đi thăm trại biến áp 220v tại tỉnh Yên Bái; được xây dựng trong khuôn khổ “Dự Án Nâng Cao” hệ thống, Cổ phần hóa và Năng lượng tái tạo. Trạm nầy là điểm trung gian quan trọng của đường dây 220kv nối liền giữa Trung quốc và Việt Nam. Trạm nầy thể hiện vai trò rất hữu hiệu trong việc ổn định mạng lưới truyền tải điện trong khu vực, giảm bớt thất thoát điện năng, giúp Việt Nam cải thiện chương trình điện khí hóa nông thôn; theo đó có tới 92% các hộ gia cư trên toàn quốc đã được tiếp cận nguồn điện.
Nói chung, sơ lược qua thông cáo số 2008/43/EAP ngày 31-10-2007 của NHTG, thì việc tóm tắt những lời phát biểu và nhận xét của các quan chức đầu não thuộc NHTG được đánh giá rất tích cực. Khởi đầu từ ông Klaus Rohland, nguyên Chủ tịch NHTG tại Việt Nam thì ông khen là, “không có một quốc gia nào trên thế giới trong vòng 15 qua phát triển một cách nhanh chóng như Việt Nam: từ một nước phải nhập khẩu gạo đã trở thành nước sản xuất gạo đứng thứ nhì thế giới, qua đến ông Jim Adams, Phó Chủ tịch mới của NHTG phụ trách vùng Ðông Á Thái Bình Dương cho biết, việc Xóa Ðói Giảm Nghèo và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là “ngoạn mục”, tỉ lệ nghèo đói đã giảm từ 60% xuống dưới 20%; thu nhập đã tăng lên tới 7.3% trong vòng 10 năm qua.
Kế đến là việc ông Robert B. Zoellick, Chủ tịch NHTG qua cuộc thăm viếng Việt Nam trong mùa Hè năm 2007, khi quan sát hệ thống Ðiện Lực tại Việt Nam, đặc biệt việc “Ðiện Hóa Nông Thôn” và qua một vài Dự án Giảm Nghèo khác đã khẳng định, trong vài năm tới, tức năm 2010 Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình. Và nhằm tiếp tục phát huy những thành công mà Việt Nam đã đạt được, NHTG cương quyết chuẩn bị trợ giúp Việt Nam bằng cả tài chánh lẫn kỷ thuật.
Qua các tài liệu dẫn chứng nêu trên, nếu quý độc giả thấy tất cả nhận xét của các viên chức hàng đầu của NHTG mà đúng như báo cáo chính thức cùng sát với thực tế hiện nay, thì hình ảnh đất nước Việt Nam quả thật là một bức tranh xinh đẹp, phồn vinh và sống động về mọi mặt, từ kinh tế đến tiện nghi công cộng, cụ thể và điển hình là Việt Nam đã thành công trong việc “phong phú hóa” điện khí nông thôn. Hơn nữa, nếu những con số ghi trong bản thống kê không ngụy tạo, không là một sản phẩm tưởng tượng hay là “tiền chế” (frabriqué) thì đây quả là một phép mầu; nhờ đó Việt Nam, một xứ sở thường bị nạn cúp điện sẽ được giải quyết. Nói chung, Việt Nam hiện là một quốc gia có : đủ điện năng; phát triển kinh tế và thực sự đã thành công trong việc Xóa Ðói Giảm Nghèo.
Tuy nhiên, trên thực tế lại không giống như những hình ảnh được vẽ trong các bức minh họa của NHTG. Ðược vậy là nhờ các cơ quan truyền thông độc lập từ nhiều quốc gia khác nhau giúp kiểm chứng. Hơn nữa, còn dựa vào những bản tin chính xác của bà con quyến thuộc trong nước; đặc biệt nhờ bản thân của những người có kinh nghiệm, hiểu biết về mánh khóe, đường lối và chính sách bịp bợm,“nặng phần trình diễn” của bọn cầm quyền cộng sản, vì thế đại đa số đồng bào trong nước cũng như hải ngoại đều có một nhận xét chung và kết luận là, những con số ghi trong các bản phúc trình và thống kê của NHTG là một điều không đúng với thực tế vì lý do dưới đây:
Thứ nhất: Do chính nhân viên của các tổ chức quốc tế vì bị mánh mung, bị lừa gạt bởi bọn cầm quyền mà vô tình hay là cố ý lầm lẫn trong vấn đề ghi chép hồ sơ nên dễ bị qua mặt, vì vậy nên mới có những con số tưởng tượng phóng đại như trong báo cáo của NHTG.
Thứ hai: Do bọn cán bộ cộng sản quỷ quái, chúng đã bố trí một chiến thuật cổ điển là, dùng tiền và gái để mua chuộc các chuyên viên; dựng lên những dữ kiện giả tạo, tiền chế không đúng với thực tế để báo cáo. Cứ việc lấy Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (Asia Developpment Bank) làm thí dụ cụ thể để chứng minh. Biết rằng, tổ chức nầy đã từng ứng ra hàng trăm triệu đôla để chỉnh trang lại thành phố Sài Gòn, trong đó công tác chủ yếu là nạo vét các cống lạch để thoát nước trong khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn, điển hình là khu vực Minh Xuân, tức là khu từ Ngã Ba Ông Tạ lên Trương Minh Giảng; khu vực nầy bị ô nhiễm quá cao, không thể trồng trọt được hoa màu, và nước uống vì thế đã trở thành độc hại nguy hiểm, Mặt khác, nạn tham nhũng lại quá lộng hành do đó không thể thi công được phải đình hoãn và sau đó ngân hàng Phát Triển Á Châu đành rút lui lại vốn. Ngân hàng Phát Triển Á Châu, một cơ quan tài trợ ở ngay trong khu vực mà còn không thực hiện được thì mong chờ gì được NHTG tiếp tay. Quả là một chuyện quá xa vời.
Thử hỏi, một khi các quan chức hàng đầu của NHTG đã đua nhau “tô son trát phấn” cho chế độ CSVN, vẽ ra những hình ảnh tốt đẹp tỉ như Việt Nam đã phong phú hóa được các nguồn điện năng; kinh tế đã tăng trưởng và vấn nạn nghèo đói đã bị xóa giảm thì chúng ta hãy xét lại. Thử đem các dữ kiện được ghi nhận chính xác sát với thực tế so sánh với những con số trong bảng thống kê ắt quý độc giả sẽ thấy có nhiều sai biệt. Chúng tôi xin từng điểm một trình tới độc giả các tài liệu về những vấn nạn hiện có tại Việt Nam:
I-) Ðiện năng: Theo Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn, Giáo sư trường Ðại Học Bách Khoa Grenoble, Pháp, nguyên là cố vấn chiến lược và kinh tế của công ty điện lực Pháp EDF (Electrique De France) cho biết, việc thiếu điện tại Việt Nam là một vấn nạn trầm trọng. Mặc dầu nhà cầm quyền CSVN nỗ lực tối đa, đã xây dựng thêm nhiều nhà máy nhiệt điện tại các địa phương cũng như lập nhà máy thủy điện tại Sơn La và Hòa bình v.v.. Nhưng so với tốc độ tăng trưởng thì từ đây đến năm 2020, Việt Nam sẽ bị thiếu hằng chục tỉ KWH cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt mỗi năm.
Cụ thể trước mắt chỉ 8 năm nữa thôi, tức năm 2015 thì Việt Nam sẽ thiếu hẳn 9 tỉ KWH và đến cuối năm 2020 thì bị thiếu từ 36 tỉ tới 65 tỉ KWH. Cũng vì lý do đó, nên trong chuyến đi Hoa Kỳ vào tháng 9, Chủ tịch Nhà Nước Nguyễn Minh Triết đã cố thúc đẩy Hoa Kỳ tiến hành gấp việc xây dựng cho Việt Nam 02 lò phản ứng hạt nhân (2 tổ 2 x 1000 MW) tại Ninh Thuận mà người Mỹ đã hứa. Hiện tại, nạn thiếu điện đã bắt đầu tăng, do đó nạn cúp điện thường xuyên tại các thành phốâ lớn, đặc biệt các thành phố du lịch như Vũng Tàu, Nha Trang, Huế, Ðà nẵng và Ðà Lạt v.v. mỗi ngày một tăng. Hiện giới công thương buôn bán tại các khu vực nói trên đang bị khốn đốn vì nạn cúp điện.
Nếu một giới chức nào đó chỉ một đôi lần được xem cán bộ tuyên vận của bọn cầm quyền cộng sản biểu diễn vài trò ma thuật về điện, tỉ như chỉ cho xem một vài “đập nước nhỏ” ở vùng cao được coi là “sáng kiến” tạo ra điện (thực sự nó có từ thời thuộc địa Pháp); hơn nữa, bọn địa phương đã ngụy tạo và bố trí cho thấy, chỗ nào cũng có trụ điện, có giây tải điện, nhưng không có “ruột điện” hoặc có thì chỉ để tượng trưng. May mắn lắm mà được hướng dẫn đi quan sát một vài trạm biến điện kiểu 220kv của Trung quốc chuyển tải tới Việt Nam để bán cho vùng Bắc Sơn hay khu vực Nậm Thà tại Lào rồi nói Việt Nam đã phong phú hóa điện nông thôn; để rồi từ đó kết luận, là 92% dân chúng đã có nguồn cung cấp điện; quả thật đây là một chuyện khôi hài và là một việc phóng đại vô căn cứ. Phải chăng đây là một cách ngoại giao, cho VC đi máy bay giấy. Ngay cả việc xây dựng 02 tổ điện hạt nhân 2 x2 MW tại Ninh Thuận nếu thành công đi nữa thì Việt Nam vẫn bị thiếu điện cực kỳ nghiêm trọng.
II -) Tăng trưởng kinh tế: Hiện tại phần lớn ai cũng rõ, người Việt đang bước vào thế mê hồn trận mà cả Mỹ lẫn CSVN đang tung ra nhiều quái chiêu coi có vẻ rất hiền, nhưng đủ sức làm nát bét hàng ngũ quốc gia Việt Nam ở hải ngoại.
Thực sự kinh tế Việt Nam không giống như Việt Cộng (VC) và những tên ma đầu nâng đỡ chúng rêu rao; dù có ngụy tạo các con số trên bảng thống kê bằng cách nâng cao Tổng Sản Lượng Nội Ðịa GDP (Gross Domestic Product) đi nữa thì cũng chỉ thay đổi đôi chút chứ không cao giống như các con số trong bảng báo cáo.
Chúng tôi xin phép đưa ra một vài số liệu dưới đây để chứng tỏ sự dối trá của VC trên bình diện kinh tế.
Thử làm một cuộc so sánh giữa Việt Nam và Thái Lan. Sở dĩ chọn Thái lan, vì trước năm 1975 Miền Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa và Thái Lan đều tương đương với nhau.
Trước khi so sánh, chúng tôi xin nhắc lại một sự kiện điển hình là, vào đầu năm 2000, tại Trung Tâm Quản Trị Kinh Tế Hà Nội, (Centre Institutue For Economic Management), Giáo sư Kenmariza, một người Nhật thân cộng trước đây từng chống chiến tranh Việt Nam. Trong một buổi nói chuyện ông đã phải sửng sốt thốt lên: “Tại sao người Việt Nam thông minh, cần cù và đất đai màu mỡ như vậy, cớ gì Việt Nam lại quá nghèo. Làm sao Việt Nam có thể trở thành con rồng hay con cọp như Thái Lan vào năm 2020? Tuy Việt Nam hiện đang ở tình trạng của Thái Lan vào những năm 1970, nhưng mức tăng trưởng kinh tế không còn được như trước nữa, vì đã có quá cạnh tranh khốc liệt của Trung Hoa và Ấn Ðộ.
Xin trưng ra một vài ví dụ điển hình dưới đây để theo dõi và so sánh:
a -/ Thứ nhất - Năm 1968, Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (TSLNÐ), tiếng Anh gọi là GDP (Gross Domestic Product) của Thái Lan là 157/USD/người, trong khi đó VNCH là 163/USD/người, VNCH cao hơn Thái Lan 6 đô la. Qua năm 2002, CSVN nói là tăng 410/USD/người, thì Thái Lan đã trên 1970 USD/người. Với con số 410/USD/người, CSVN khoe là có tiến bộ rõ rệt; vì từ 163 đô la của năm 1968 đã nhảy vọt lên tới 410 đô la trong năm 2002 thì thiệt quá quý. Tuy nhiên, nếu đem so sánh con số 410 đô la của năm 2002 và 163 đô la của năm 1968, thì thử hỏi liệu có bằng 163 đô là của VNCH năm 1968 trước đây không.
Hơn nữa, vì 30 năm qua đồng đô la đã nhiều bị lần phá giá. Xin ghi nhớ, trong kinh tế học, thường thì người ta áp dụng phương pháp chuyển hoán của Gs Robert C.Sahr thuộc Ðại học “Oregon State University” để tính giá tương đương. Kết quả cho thấy: 410 USD/người của VC năm 2002 chỉ có giá trị bằng 86.10 USD/người của năm 1968 thay vì 163USD/người của Miền Nam trước đây. Như thế, kinh tế của CSVN đang“chạy lùi” chứ không phải “đi thụt lùi”như mọi người thường nói.
b -/ Thứ hai: Ðem trị giá đồng đô la đổi ra tiền Việt Nam thì dễõ thấy hơn:
Năm 1997, một USD đổi được 11745 đồng; năm 2001, một USD đổi được 15425 đồng; trong vòng 5 năm trị giá đô la tăng thêm 3680 đồng, nói cách khác đồng bạc VN bị phá giá tới 31%; bình quân mỗi năm bị mất 6%, đó là chưa kể hiện nay, những tháng cuối của năm 2007 thì một USD hiện đổi được trên 16.000 đồng bạc VN.
c - /Thứ ba: Nạn buôn lậu bạc giả. Lấy năm 2005 làm chuẩn, người ta thấy nội trong 3 tháng đầu của năm 2005, theo báo cáo của ông Nguyễn Ðức Phú, Phó Phòng Kiểm Soát Ðiều Tra Và Xét Xử Án Sơ Thẩm Viện Kiểm Soát Nhân Dân, tức Tòa Án Lạng Sơn cho biết đã bắt được trên 20 vụ buôn bán lậu bạc giã từ Trung quốc sang. Theo quy định của giới buôn lậu lúc bấy giờ, thì cứ 3 triệu bạc Việt Nam thật thì mua được 10 triệu bạc giả, Và mỗi lần bắt được bạc giả thì tịch thu được hàng hằng tỉ đồng chứ không phải số nhỏ. Thử hỏi với việc buôn bán lậu bạc giả công khai và lộng hành như thế, liệu không biết nền kinh tế Việt Nam sẽ sa sụp tới đâu chứ đừng vội nói đến việc tăng trưởng kinh tế.
d - / Nạn tham nhũng: Theo ông Nguyễn An Bình, Tổng Giám Ðốc công ty Ðịa Ốc Sài Gòn đã trả lời như sau khi có người đặt vấn đề tiết kiệm tiền để dành mua nhà ở. Ông Tổng Giám đốc Bình nói: “Lấy tiền lương của chúng ta mà so sánh với giá nhà đất là một điều cực kỳ vô lý và khập khểnh. Trên thực tế, khó ai mà sống được nhờ đồng lương. Và cũng vì nạn tham những, không trong sáng trong sổ sách kế toán mà đài Radio Úc châu phát thanh ngày 16-4-2004 thông báo cho biết là, quỹ IMF đã chấm dứt việc tháo khoán đợt II số tiền 100 triệu USD cho Việt Nam. Lý do: Không phải Việt Nam hết nghèo mà vì CSVN đã không chứng minh được kế toán một cách minh bạch. Chỉ mới cách đây có mấy năm, tình trạng vốn đã tồi tệ đến thế, mà bây giờ NHTG lại phong tặng cho Việt Nam là một nước tiến bộ vượt bực, và nạn nghèo đói giảm chỉ còn lại dưới 20%, thật quá vô lý.
Lần lượt cũ soát lại các vấn nạn liên quan đến kinh tế liệt kê ở trên, quý độc giả chắc đã thấy được một bức tranh kinh tế tại Việt Nam thật quá bi thảm. Nếu không có sự tiếp tay của đồng bào hải ngoại hàng năm chung sức “tiếp máu” trên 4 tỉ USD cho Việt Nam, thì chế độ CSVN đã tiêu vong từ lâu rồi, đừng vội cho là nó sẽ trở thành một nước có “Thu Nhập Trung Bình” trong vài năm tới.
Riêng việc ông Klaus Rohland, nguyên Chủ tịch NHTG tại Việt Nam cho rằng, nhờ tăng trưởng kinh tế, phát triển nhanh mà Việt Nam, từ một nước từng nhập khẩu gạo cho dân, nay đã trở thành nước xuất khẩu vào hàng II trên thế giới. Với lời phát biểu nầy, quả thật ông Klaus Rohland đã nói không đúng với thực tế địa lý về kinh tế của Việt Nam. Xin nhớ, ngay thời kỳ phong kiến của triều Nguyễn và trong giai đoạn lịch sử cận đại, đồng bằng sông Cửu Long đã là một vựa lúa phì nhiêu, từng sản xuất lúa gạo đủ nuôi sống Việt Nam đứng sau Miến Ðiện và Thái Lan; chưa bao giờ người dân Việt Nam bị đói.
Ngoại trừ trong hai năm 1945-1946 vì bị quân phiệt Nhật ép buộc người dân phải phá ruộng lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, ngặt hơn, lúa dư thừa trong Nam không chở ra miền Bắc tiếp tế cho dân chúng, nên mới bị chết đói tới 2 triệu người. Về sau dù bị chiến tranh tàn phá, nhưng vựa lúa miền Nam vẫn đủ nuôi sống VNCH. Vì thế nếu cho là nhờ NHTG mà Việt Nam trở thành nước sản xuất lúa gạo đứng nhì là một sai lầm lớn.
Có điều chúng tôi muốn đặt câu hỏi với các quan chức NHTG. Theo báo cáo của NHTG ngày 31-10-2007, thì Việt Nam đã được giảm nghèo, kinh tế đã tăng tới 7.3%, và chỉ một vài năm nữa thôi, Việt Nam sẽ trở thành một nước có thu nhập trung bình. Khẳng định như thế, Việt Nam ắt đã có một nền kinh tế phồn vinh, người dân đã có cơ may được hưởng một đời sống sung túc, cớ sao lại có hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam; những người phụ nữ Á châu thường sống theo văn hóa cổ truyền của dân tộc và truyền thống Ðông phương; chưa có chồng thì đặt nặng chữ “Trinh” mà có gia đình rồi thì xem trọng chữ “Tiết”; thậm chí giới nầy thà tự sát quyên sinh còn hơn để mất cái Trinh và thất cái Tiết. Với hoàn cảnh Việt Nam đã phát triển như NHTG thông báo, tại sao họ không ở lại sống dưới mái ấm gia đình tại quê nhà giống như những người phụ nữ tốt số khác mà lại phải chấp nhận xa xứ, bán thân nuôi miệng và gia đình ở các nước như Hàn Quốc, Ðài Loan, Singapor v.v.Nói chi đến hàng ngàn trẻ em vô tội bị bán làm “nô lệ tình dục” tại nước láng giếng Kampuchia và Thái Lan.
Thử hỏi tầng lớp nầy là hạng người vì ham mê nhục dục, hay quá nghèo mà phải bán thân. Ngoài ra, chưa kể hiện đã có hơn 70 ngàn công nhân đang tranh nhau lo hối lộ để được ra nước ngoài lao động kiếm tiền. Như thế thì thử hỏi NHTG nghĩ sao?. Với sự kiện đó thì “Giảm Nghèo” ở đâu? Và “Tăng Trưởng Kinh Tế” ở chỗ nào? Mặt khác, nếu thực sự có tăng trưởng kinh tế đôi chút; tài chánh do đó dồi dào hơn, thì xin hỏi quý quan chức NHTG, là số tiền được tăng đó, theo hiểu biết của quý vị, nó thực sự thuộc sở hữu quần chúng, hay nằm gọn trong túi tham không đáy của bọn cán bộ cộng sản?
Phùng Ngọc Sa.


SÁCH LƯỢC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN: "CHIA RẺ"

Xây dựng nhà hay bất cứ công trình kiến trúc nào cũng phải mất nhiều thời giờ, nhưng phá hoại rất nhanh, chỉ một tiếng nổ của quả bom cũng đủ làm sập cả một tòa nhà khang trang được xây dựng nhiều năm tháng, tốn nhiều tiền, công sức, nên tục ngữ có câu" đốn củi ba năm, rụi chỉ một giờ".
Trong bất cứ cuộc chiến nào, chủ trương phá hoại là một trong những phương cách đánh vào hạ tầng cơ sở, có khả năng là suy sụp kinh tế của dối phương, trong đó có cả việc thiệt hại nhân mạng, tài sản, gây hoang mang, kinh sợ cho dân chúng; trong đệ nhị thế chiến, hai phía tham chiến đều có những đơn vị cảm tử tinh nhuệ, được huấn luyện đặc biệt, xâm nhập, len lỏi và vùng đất địch để làm những công tác phá hoại những cơ sở trọng yếu như phi trường, kho nhiên liệu, kho đạn dược... thời miền Nam trước 1975, Việt Cộng dùng chiến thuật khủng bố để gây kinh hoàng cho dân chúng, gây hư hại vật chất của dân, chính phủ càng nhiều càng đạt thắng lợi; ngày nay tổ chức khủng bố Al Qaeda do Osama Bin Laden lãnh đạo cũng dùng biện pháp phá hoại như Việt Cộng đã từng làm trước đây, điển hình là vụ khủng bố 11-9-2001 làm sụp đổ toàn bộ Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế, một phần Ngũ Giác Đài, làm gần 4 ngàn người chết.
Một tổ chức cũng thế, những nổ lực xây dựng uy tín, lòng tin với người dân rất khó, phải mất nhiều thời gian, nhưng tan biến nhanh chóng chỉ vì một vài sai phạm của những người điều hành, lãnh đạo hay không đáp ứng được tình hình hoặc bị khám phá ra tổ chức nói láo, lừa đảo đồng bào để trục lợi. Đoàn kết kêu gọi mãi, từ năm nầy qua năm khác, văng vẳng như các bài thánh kinh Công Giáo, bài kệ Phật Giáo, thế mà thiên hạ cứ chia rẻ, càng kêu gọi đoàn kết, thì người ta càng chia rẻ, thế mới là vấn đề:
"Chia rẻ chẳng cần gọi mời.
Đoàn kết hao sức, gọi hoài, ai nghe?"
Giống như trường hợp các vỉa hè, người ta ghi hay đề câu trên vách, tấm bản có hàng chữ:" cấm đái" hay "cấm đổ rác", thế như người đến đó" TÈ" và phóng uế không giảm, đôi khi còn gia tăng cường độ, hình như những câu cấm nầy được coi là sự thách thức, khiến người ta làm ngược lại cho bỏ ghét?. Việc làm lành lánh dữ được mọi tôn giáo đề cao, nhưng thế gian nầy vẫn có nhiều kẻ gây nên tội phạm, điều đáng nói ở đây là ngay chính những người hành đạo, được coi là mẫu mực, thế mà cũng làm bậy như ai, thì đạo biết dạy ai bây giờ?.
"Chia rẻ" là sách lược chủ yếu của người Cộng Sản, dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới; nhờ khai thác chia rẻ một cách có phương pháp, hoàn toàn dựa trên" cơ sở chủ nghĩa Marx Lenin" mà đảng bền, cán giàu, là lý do đưa đến sự thành công của các chế độ bạo tàn, có mặt tại nhiều châu lục, từng làm mưa làm gió từ năm 1917 đến 1991; dù cái nôi Cộng Sản Liên Sô và khối Đông Âu sụp đổ, nhưng ngày nay vẫn còn tồn tại tàn dư ở Trung Hoa lục địa, Việt Nam, Cu ba, Bắc Hàn, Lào. Tức là gần 2 tỷ người vẫn còn bị kiềm kẹp bởi chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân; tức là các đảng Cộng Sản tàn dư vẫn tiếp tục áp dụng sách lược chia rẻ để tồn tại. Trong xã hội, ngoài miệng đảng Cộng Sản cổ động" xóa đói giảm nghèo" để mị dân, đánh lừa thế giới hầu xin xỏ thêm viện trợ, cứu tế nhân đạo...nhưng bên trong, chủ trương chia rẻ hai thành phần giàu nghèo càng cách biệt càng tốt, là đảng càng vững chắc:
Thành phần giàu có là tư bản đỏ, thuộc đảng viên Cộng Sản, kèm theo quyền lực; là lực lượng nồng cốt, được đảng mặc nhiên ban cấp quyền bốc lột, tham nhũng để trở thành tường đồng vách sắt bảo vệ đảng hữu hiệu nhất, hầu đương đầu với thành phần dân chúng bị bốc lột đứng lên chống, lật đổ bộ máy cai trị; tức là đảng viên phải làm mọi cách để bảo vệ thành trì của đảng tối đa, là cũng nhằm bảo vệ tài sản, quyền lợi của họ vậy.
Cho nên, trung ương, các quan chức chóp bu làm lơ rất nhiều vụ dân oan bị chiếm đất, tài sản từ hơn 20 năm qua, không có biện pháp chế tài đối với những tên" cường hào ác bá" quan chức địa phương, trái lại còn ngầm khuyến khích, bao che bọn nầy cứ tiếp tục phát huy để chúng càng gắng bó với đảng. Nạn tham nhũng cũng nằm trong chính sách bảo vệ, cũng cố đảng" như con ngươi trong tròng mắt", nhờ thành phần tham nhũng để bảo vệ đảng, hệ thống nhà nước, nên quan chức nhà nước công khai đòi hối lộ rất phổ biến tại Việt Nam.
Thành Phần dân nghèo bị bốc lột tàn tệ, họ đứng dậy thì bị thành phần tư bản đỏ đàn áp để bảo vệ quyền lợi vật chất ăn cướp. Thành phần giàu là cá lớn nuốt cá bé để sống, là nhu cầu bức thiết để giữ vững giai cấp bốc lột có vũ trang, có bạo lực và bản chất bạo tàn. Cho nên, dù đảng Cộng Sản đã hội đủ tiêu chuẩn để sụp đổ từ lâu, thế mà họ vẫn tồn tại là nhờ biết khai thác sự chia rẻ trong dân chúng, thanh trừng trong đảng, nuôi dưỡng tay sai; đối với quốc tế thì cải cách giả hiệu như Kỳ nhông thay màu để đánh lừa thế giới Tây Phương, vốn còn có nhiều kẻ ngây thơ hay mang danh" cấp tiến dỏm" thuộc thành phần" cựu phản chiến" trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Quỷ kinh vô thần của Karl Marx chủ trương dùng sách lược" chia rẻ" làm nồng cốt qua việc khai thác" mâu thuẫn nội tại" áp dụng hầu hết trong mọi" tình huống", môi trường, như một chìa khóa dành cho các" chế độ vô sản chuyên chính" được suy diễn qua sự biến dịch từ Chủ Thể sang sự hủy thể và từ đó tiến đến những hủy thể khác, cứ thế mà phát huy không ngừng; được hầu hết các đảng Cộng Sản khi nắm được chính quyền đều áp dụng phương pháp:" đấu tranh giai cấp" không ngừng, tạo xã hội luôn trong tình trạng" biến động" và càng rối loạn càng tốt, để thiêu số đảng và nhà nước chỉ đạo, hướng dẫn những rối loạn ấy theo" định hướng xã hội chủ nghĩa" hầu dễ cai trị, duy trì chế độ bền lâu, bảo đảm quyền lực.
Trong chế độ Cộng Sản, xã hội luôn đặt trong tình trạng bất ổn, đảng chủ trương chính sách kích động hận thù giữa người dân với nhau, thành phần nghèo thù kẻ giàu có; nông dân, bần cố nông coi kẻ chủ đất là kẻ thù không đội trời chung; công nhân coi chủ nhân là giai cấp bốc lột tàn nhẩn, ngồi mát ăn bát vàng; chỉ trừ đảng và nhà nước là nơi hoàn hảo, đỉnh cao, ưu việt thì dân phải thuần phục, đầu hàng vô điều kiện như câu" đầu hàng giai cấp vô sản", chớ không được đấu tranh chống lại, dù thành phần cai trị nầy trở nên giàu có, sang trọng nhờ bốc lột tận cùng mồ hôi của tất cả mọi thành phần dân chúng. Câu kích động hận thù trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc sau 1954 là: "dựa vào bần nông, liên hiệp trung nông, đoàn kết phú nông, tiêu diệt địa chủ" làm một bằng chứng điển hình cho sách lược nầy: sau khi dùng bần cố nông, trung nông, phú nông làm lực lượng" công cụ" trong cuộc đấu tố để tiêu diệt địa chủ hết sạch; sau đó những thành phần phú nông, rồi trung nông, bần nông lần lượt bị đôn lên thành địa chủ, phản động theo "tỷ lệ kích" qua cái chỉ tiêu đấu tố do trung ương qui định chi từng địa phương; thanh toán đến khi sạch hết" kẻ thù của đảng Cộng Sản" và tất cả đất đai, tài sản đều nằm gọn trong tay của đảng thì coi như đạt đến mục đích yêu cầu theo đúng chủ nghĩa Marx Lenin trong việc quản lý toàn bộ tài sản, con người ( kể cả kiểm soát tư tưởng)...
Do đó bất cứ một quốc gia dân chủ nào trên thế giới, khi dân chúng sinh sống, cạnh trạnh làm ăn theo luật định trong một xã hội ổn định, có luật pháp minh bạch; các thành phần xã hội tôn kính với nhau, ai cũng được luật pháp bảo vệ, sống một cách hòa bình, thì chủ nghĩa Cộng Sản không có môi trường hoạt động và nếu có đảng Cộng Sản ở các nơi ấy, cũng không thể tồn tại, như vi trùng gặp môi trường sạch sẽ đành phải co cụm và tự hủy theo thời gian; nói đúng hơn thì" xã hội ổn định, hòa bình cũng là kẻ thù không đội trời chung với người Cộng Sản"; cũng như" tâm dao động là kẻ thù của những người tu hành của bất cứ tôn giáo nào". Theo Phật Giáo thì cứ một Satna, một đơn vị đo thời gian nhỏ rất nhiều so với một giây đồng hồ, cơ thể con người trải qua 4 giai đoạn: sinh, trưởng, dưỡng, diệt. Kiếp con người là vô thường, thấy đó mất đó, nên cõi đời là cõi tạm, là gác trọ như câu của nhà thơ Cao Bá Quát: "ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy nực cười".
Vật chất cũng hữu hạn, đá mòn, cây tàn, vật chết khi đúng hạn tuổi...ngay cả vĩ trụ, trái đất cũng được các nhà khoa học định tuổi, tức là cũng có ngày tan rả thôi. Trên trái đất, nhiều loài khủng long thời tiền sử đã trở thành những bộ xương hóa thạch hiếm hoi sau hàng triệu triệu năm bị chôn vùi qua những biến động mặt đất, môi trường sinh thái, kết thúc một thời oanh liệt làm mưa làm gió đã qua trên hành tinh nầy, nay chỉ còn là di tích lịch sử mà thôi. Cho nên bất cứ cái gì trên trái đất nầy cũng không tồn tạo mãi mãi là điều không ai phủ nhận, thế mà người Cộng Sản chủ quan, ngu muội cho là:" chủ nghĩa Marx Lenin bách chiến bách thắng, vô địch, muôn năm", tức là cái chủ nghĩa của họ là ưu việt, đỉnh cao nhất trí tuệ loài người, không bao giờ lạc hậu, không bị tiêu diệt.
Nhiều học thuyết, luồn tư tưởng, kể cả các định đề toán học được phát khởi thời trước, cũng có thể bị thay thế bởi những phát minh sau nầy: hình học không gian đánh đổ định đề hình học phẳng của Euclide, cao trào dân chủ thế giới qua bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền làm lổi thời Nho Giáo vốn chủ trương" trọng nam khinh nữ".... do đó lý thuyết dạy cách " cướp của giết người" một cách có bài bản do Karl Marx đề xướng, lại càng không thể mãi mãi tồn tại, tiếp tục làm hại loài người, nó phải bị đào thải sau thời gian. Sự biến dịch của tất cả moi vật chất, con người, sinh vật, hành tinh, vũ trụ... đều theo qui trình tự nhiên mà có, như đêm hết đến ngày, như phân loài thú vật ủ lâu ngày với thời gian hội đủ tiêu chuẩn phân hủy để thành phân bón cho cây...và làm người, không ai thoát khỏi vòng: sinh, lão, bịnh tử; thế nhưng cái biến dịch của người theo chủ nghĩa Cộng Sản do Karl Marx đề ra là" đi ngược lại thiên nhiên" do chính những con người theo Cộng Sản thực hiện; theo sự quan sát từ năm 1917 đến nay, thì tuyệt đại đa số những người tự nhận là tiến bộ theo kiểu Marx, nhưng tai hại là đều thất học, tàn ác, tham lam, thế mới gây ra đại họa cho nhân loại.
Chủ nghĩa biến dịch Cộng Sản, được họ tự hào là" làm cách mạng" với công thức" đấu tranh giai cấp" đã tàn sát hơn 100 triệu người, hành hạ hàng tỷ người khác trong gần suốt thế kỷ 20 và ngày nay vẫn còn tồn đọng ở thế kỷ 21, chưa bao giờ loài người gánh chịu một tai họa khủng khiếp như thế, khi so sánh với sự tác động của đế quốc La Mã, Hy Lạp, Mông Cổ và hai cuộc thế chiến, cũng thua xa. Người Cộng Sản vô thần, họ tự nhận thay Trời, Phật, Chúa và thay cả thiên nhiên để cải tạo toàn thể nhân loại theo ý muốn của một thiểu số, dựa theo kinh điển của Karl Marx, tức là họ cao ngạo làm ông Trời ở trên hành tinh nầy, như câu sau đây của đảng Cộng Sản Việt Nam:
"Nghiêng đồng đổ nước ra sông.
Vắt đất ra nước, thay Trời làm mưa".
Người Cộng Sản chỉ thực hiện được một phần trong việc thay Trời, tác động vào loài người: họ muốn kiểm soát cả việc sinh sản, kiểm soát dân số, Trung Cộng có chính sách một con, Việt Nam có chính sách" sinh đẻ có kế hoạch" như câu cổ động trước đây:
"Tát nước, cấy cày, tăng năng xuất.
Đặt vòng cai đẻ, giảm miệng ăn".
Họ không thể" khắc phục" được bịnh tật, nhưng cán bộ cao cấp lãnh đạo có thể kéo dài tuổi thọ bằng những phương tiện y học, kỷ thuật tối tân ưu tiên, nếu cần được đưa đi nước ngoài điều trị, nên bọn ác ôn sống dai như đỉa đói. Người Cộng Sản có khả năng thay" tử thần" để kết liễu mạng sống con người, đảng tự ban cấp quyền định đoạt chuyện hôn nhân đới với đảng viên; nhưng họ không thể" cải lão hoàn đồng" để được trường sinh bất tử, hầu làm hôn quân, bạo chúa mão mãi. Cho nên những ông "Trời" tự phong Cộng Sản không thể thoát khỏi" sinh lão bịnh tử", cái chế độ bạo ngược nầy tất nhiên cũng phải bị đào thải như tất cả các triều đại bạo chúa trên thế gian nầy phải ra đi, sau thời kỳ làm mưa làm gió là điều tự nhiên thôi.
Khai thác tối sự mâu thuẫn nội tại từ con người, gia đình, xã hội, giai cấp....là sách lược trấn đảng, nếu không có chia rẻ thì đảng Cộng Sản không thể tồn tại; như những nước buôn bán vũ khí không làm ăn khắm khá nếu thế giới hòa bình. Nhờ chiến tranh luôn đe dọa nên nước nào cũng muốn trang bị vũ khí để phòng thủ, như lời bàn chí lý của binh pháp gia người Trung Hoa thời cổ là Tư Mã Tương Như:" đất nước thái bình mà không lo chiến tranh, tất bị diệt vong"; hay sự thống kê binh pháp gia người Bỉ là ông Novicow:" cứ 100 năm, thì nhân loại chỉ hưởng được 20 năm thái bình". Thời thực dân Pháp cai trị, họ cũng áp dụng chính sách chia rẻ giữa ba miền đất nước: Bắc, Trung kỳ bảo hộ và Nam Kỳ thuộc địa, dù dân 3 miền có thể đi lại với nhau dễ dàng. Chính sách chia rẻ của thực dân không làm cho dân tộc phân hóa, lòng yêu nước, chống ngoại xâm luôn nung nấu trong lòng mọi người dân; nhưng chỉ có đảng Cộng Sản và Hồ Chí Minh là làm dân tộc tan tác, chia rẻ triền miên từ ngày có mặt đảng năm 1930 đến nay, muốn hàn gắng cũng phải mất rất nhiều thời gian, có khi hàng thế kỷ, hậu quả của chế độ Cộng Sản quả vô cùng tai hại.
Công lao tiền nhân dựng, giữ nước, hợp nhất dân tộc kết tựu từ hàng ngàn năm lịch sử, nay bị hủy hoại chỉ trong vòng vài mươi năm do người Cộng Sản gốc Việt gây ra. Đó là tập đoàn Việt gian, làm tay sai ngoại bang, gây ra ba cuộc chiến: Đánh Tây, đánh Mỹ, đánh Miên.bán đứng đất đai biên giới, hải đảo, vùng biển cho Trung Cộng; chưa kể đến hàng chục triệu nhân mạng, đất nước nghèo nàn, lạc hậu. Tội lổi của tập đoàn Cộng Sản không bút mực nào tả hết, dân Việt Nam bất hạnh từ khi có mặt tên Việt gian Hồ Chí Minh và một lũ phản dân hại nước, luôn chủ trương đập phá, chia rẻ để đảng tồn tại. Chủ trương lấy chia rẻ để trị, để khống chế đối phương, nhưng miệng vẫn luôn kêu gọi" hòa hợp hòa giải" để lừa đảo những ai còn ngây thơ, hay vì chút lợi lộc mà lọt vào quỷ kế. Hòa hợp hòa giải theo mô thức của người Cộng Sản là luôn gắng liền với cái đuôi khỉ" xã hội chủ nghĩa", là hình thức đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận sự lãnh đạo của một tập đoàn gian ác, dốt nát. Vì nhu cầu sinh tồn, dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận cảnh trái tai gai mắt tồn tại trên quê hương:
"Năm đồng đổi lấy năm xu.
Thằng khôn đi học, thằng ngu dạy đời".
Đảng Cộng Sản không bỏ qua bất cứ đối tượng nào, gây chia rẻ ngay cả trong mỗi người qua hình thức sinh hoạt là hội họp từ đơn vị tổ đến cấp trung ương. Họ cho là sinh hoạt dân chủ, nhưng lại phi dân chủ, những người tham dự bất cứ cuộc họp nào dưới sự" chủ trì" của cán bộ Cộng Sản, đều phải có hình thức có bài bản là tự khai, tự kiểm điểm cá nhân, bản thân theo mục đích yêu cầu do tổ chức đưa ra; nếu không tìm ra hay dấu dím những việc làm, suy nghĩ, thì những người trong tổ có nhiệm vụ bới móc, đấu tố đến tận cùng, không khoan nhượng, để cuối cùng đối tượng phải bị buộc nhìn nhận những gì mà người khác phê phán, nhìn thấy và người bị phê bình, muốn được yên thân tạm thời, phải chấp nhận khuyết điểm, có khi họ không làm gì sai trái, rồi bước kế tiếp là tự phê, làm bản tự kiểm; đó là bản án chính mình kết án mình, đảng chỉ có nhiệm vụ dựa vào những lời tự thú ấy để trù dập, thi hành bản án do chính đương sự" giác ngộ", thật là dân chủ lắm thay!. Hình thức khai thác chia rẻ cá nhân, gọi là" phản ánh" nầy được áp dụng liên tục từ khi có người Cộng Sản có mặt cho đến nay tại Việt Nam, họ gọi là" học tập chính trị" từ địa phương đến trung ương, áp dụng ngay trong thành phần dân chúng dưới sự kiềm kẹp của chế độ qua các tổ chức khóm, phường, ấp, xã, trường học, công xưởng, nhà máy.
Nhất là trong những thời kỳ chiến tranh, thời kỳ phát động một cuộc cải cách, nên ngay trong nội bộ đảng, những đảng viên có ý kiến khác với đảng, được các đồng đảng vạch lá tìm sâu, mổ xẻ đến khi quật ngả đối tượng và trừng trị đích đáng, là thanh toán được một đối tượng, kẻ nội thù, mầm mống chống đảng một cách" dân chủ tập trung". Cách học tập, tự phê phản dân chủ nầy là sách lược giữ đảng bền vững qua nhiều giai đoạn. Qua hình thức xâu xé tư tưởng cá nhân nầy, nhiều người đã bị đảng bức hại, những người không vững tinh thần đều trở thành công cụ của đảng, vì sự an nguy cá nhân, gia đình mà làm những việc trái với lương tâm; điển hình là vụ Văn Nhân Giai Phẩm, nhiều nhà văn thi sĩ nổi tiếng thời ấy bị khủng bố tinh thần, bị chia rẻ trong tư tưởng nên đứng lên đấu tố bạn bè mình để được đảng ban chút ăn huệ, sống tạm, tức là những người:
"Văn chương chữ nghĩa bề bề.
Bị đảng hù dọa, làm hề tự phê"
Những người coi như khuôn mẫu xã hội, là văn nghệ sĩ tiêu biểu thời đại, đã trở thành công cụ, đầu hàng giai cấp chăn trâu, du thủ du thực, thất học, gian manh, đầu trộm đuôi cướp... sau nầy có nhiều kẻ hối hận đã tạ lổi những nạn nhân như Phùng Quán, Hữu Loan..... Một ngoại lệ trong sinh hoạt truyền thống của đảng Cộng Sản đối với những cán bộ, đảng viên nào có gốc gác lớn, quyền lực, khi làm sai phạm có ảnh hưởng đến uy tín của đảng, gây bất mãn với dân chúng, thì đảng bộ cũng bày ra chuyện" tự phê" để lấy lệ, rồi sau các cuộc họp mổ xẻ, làm tờ tự kiểm, đương sự được thuyên chuyển từ nhiệm sở cũ sang nhiệm sở có nhiều quyền lực và lợi nhuận cao hơn, là hình thức lên chức; do đó trong đảng có câu tục ngữ:" phê bình như nói láo, báo cáo như nói chơi". Khai thác tình cảm, nhu cầu vật chất, nên nhiều trại tù không tránh khỏi một thiểu số ăn ten, làm tai mắt cho cai tù, quản giáo hại bạn cùng cảnh ngộ, là cách dùng tù để quản lý tù. Gia đình giống như một tế bào trong xã hội, khi tế bào bị ung thư, lan truyền ra các mô, cơ phận và sau cùng là giết chết bịnh nhân; đợi đến khi toàn bộ cơ thể rả rời, thì đảng bôm vào yếu tố di truyền Cộng Sản, biến toàn bộ thành công cụ phục vụ, như nhà bác học Nga là Pavlov đã thí nghiệm thành công với bầy chó qua" phản xạ có điều kiện"; sau khi bầy chó trải qua cơn lụt lội khủng khiếp, quên hết những thói quen cũ, chúng được tập tành làm quen với những điều kiện mới, làm phương pháp tẩy não của chủ nghĩa Cộng Sản.
Đảng Cộng Sản khai thác mâu thuẫn trong gia đình, yếu tố "ham sống sợ chết" để chia rẻ, nên có nhiều người đấu tố nhau trong những chiến dịch đánh tư sản, cải cách ruộng đất; người trong gia tộc tố cáo nhau và đảng chỉ cần dựa vào những lời tố cáo ấy để áp dụng luật rừng, trừng trị, giết chết, tù đài, tịch thu tài sản và sau đó không tha những người đứng ra đấu tố.
Chính sách lược đấu tố nầy, tập đoàn Hồ Chí Minh đã đánh sập truyền thống đạo đức của dân tộc về giếng mối gia đình, xã hội từ ngàn ngàn năm; chỉ mất vài năm mà bị tiêu diệt hầu như tận gốc, nên mới có cảnh vợ chồng, con cái đấu tố lẫn nhau để được đảng cho hưởng chính sách khoan hồng. Đảng Cộng Sản đánh phá tận gốc, nhắm vào mầm non trong từng gia đình mà xé thành mảnh vụn qua câu thiệu của Hồ Chí Minh:" mười năm trồng cây, trăm năm trồng người", từ con nít đến thanh niên do cha mẹ cực khổ nuôi dưỡng, như lại là" cháu ngoan Bác Hồ" ngang hông, được đảng đoàn ngũ hóa, giáo dục, nên các cháu ngoan nầy làm công cụ đắc lực để báo cáo những gì cha mẹ làm, nói...cho nhà trường, công an; nhờ vậy mà gia đình bị phân hóa, nghi kỵ lẫn nhau, kẻ thủ lợi kiểm soát từng gia đình dân chúng không ai khác hơn là đảng Cộng Sản.
Trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc sau 1954, Ban Cải Cách Ruộng đất do Trường Chinh và Hồ Viết Thắng điều hành, do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, tàn sát hàng trăm ngàn người dân nông thôn nhờ biện pháp đấu tố, kích động hận thù, gây chia rẻ. Đây là chủ trương của đảng rập khuôn theo mô thức quan thầy Nga, Trung Cộng, chớ không có chuyện sai lầm nào cả; trong thời kỳ phát động chiến dịch, Hồ Chí Minh và những cán bộ nồng cốt theo sát hàng ngày, kiểm điểm, ghi nhận, thì làm gì có sai lầm; nếu có sai thì Hồ Chí Minh là người lãnh hết mọi trách nhiệm trước nhân dân. Sau khi giết hết những thành phần" trí, phú, địa, hào" và một số bần cố nông, nông dân, thì đảng quay sang giết luôn những người thi hành chiến dịch, là thành viên trong Ban Cải Cách ruộng đất, nên nhiều tên ác ôn mới hôm qua làm mưa làm gió, giết người, hãm hiếp con cháu bọn" phản động", nay bị đảng giết vì làm sai chính sách, để vừa lòng dân và cũng để thanh toán những kẻ thù của đảng, một số bị tù đài cải tạo dài hạn.
Tôn giáo là mục tiêu hàng đầu, đảng thừa biết đây là một thế lực khó tiêu diệt; ngoài những biện pháp trấn áp thông thường như giết hại, bắt bớ, quản thúc các vị lãnh đạo tinh thần uy tín, không phục và theo đảng. Biện pháp Chia Rẻ tôn giáo được áp dụng rất tinh vi, ngoài miệng hô hào tự do tôn giáo để đánh lừa thế giới, nhưng bên trong luôn tìm cách tận diệt; để cho tôn giáo suy yếu, đảng chia rẻ tôn giáo ra làm hai, hay nhiều phe phái càng tốt, do đó tại Việt Nam ngay nay, tất cả các tôn giáo đều có" giáo hội nhà nước" do đảng khống chế, chỉ đạo qua cánh tay nối dài là Mặt Trận Tổ Quốc.
Dùng người cùng tôn giáo kình chống nhau đến khi diệt cánh tôn giáo không theo nhà nước và sau đó triệt hạ những kẻ từng giúp đảng đánh phá tôn giáo, bài học cải cách ruộng đất hảy còn đây, xin các vị lãnh đạo tinh thần nào đã lỡ đầu quân vào hàng ngũ quỷ đỏ, hảy thức tỉnh; bọn quỷ đỏ chỉ lợi dụng quí vị trong một giai đoạn để tiêu diệt các đồng đạo chân chánh mà thôi, và sau đó quỷ sẽ ăn tươi nuốt sống quí vị luôn, diệt tận gốc sau khi nhờ tay quí vị tiêu diệt các đồng đạo của mình. Đây là thông điệp gởi đến các tu sĩ giáo hội quốc doanh, là những kẽ CHÁN TU chớ không phải CHÂN TU; những LINH MỌP chứ chẳng phải LINH MỤC đâu.
Hiện tượng các đảng phái, tổ chức, tôn giáo...trong nội bộ thường hay có sẵm mầm mống con siêu vi" chia rẻ" nằm mai phục trường kỳ, chờ khi có bất đồng ý kiến, xé bé thành to, đi đến tan rả, lái sang bất đồng chánh kiến. Chia rẻ chỉ kình chống nhau, nhưng không đi đến thanh toán, giết hại nhau; nhưng thông thường thì chia thành hai, ba đảng vẫn hoạt động thoải mái trong cùng một vùng đất. Trong khi đó, đảng Cộng Sản cũng có chia rẻ trong nội bộ, là điều khó tránh khỏi, như là một lề thói thông thường, khi có đám đông là có chia phe, kết nhóm với nhau; trong quyển sách tựa" thế nào là thi đua" do nhà xuất bản Sự Thật ở Hà Nội phát hành, Lenin cảnh báo:" bè cánh là kẻ thù của đảng Cộng Sản".
Chia rẻ trong đảng là điều đương nhiên, đó là "mâu thuẫn nội tại" lúc nào cũng có, là qui luật tất yếu; nhưng chia rẻ mà không bao giờ có chuyện tách rời để thành lập ra một đảng Cộng Sản khác ngay trong một vùng đất, đó là sự khác biệt giữa đảng Cộng Sản và các đảng phái không Cộng Sản. Tại Liên Sô thời Lenin cũng có hai cánh do Stalin và Trosky lãnh đạo, cuối cùng Stalin tàn sát cánh kia, để trở thành độc quyền lãnh đạo; Stalin hay bất cứ lãnh tụ nào cũng luôn có những cuộc thanh trừng đẫm máu trong nội bộ để cuối cùng chỉ còn một khối duy nhất là trung ương đảng Cộng Sản, nắm giữ tất cả quyền hành từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở; tuy nhiên, nếu bất cứ nơi nào có những mầm móng chống lại thành phần lãnh đạo nằm trong đảng, đều bị đưa lên bàn mổ trong sinh hoạt họp tổ, ban hay học tập chính trị, rồi tùy theo mức độ phản ứng mà bị thủ tiêu, ám sát, tù đài hay bị phục viên, hạ tầng công tác...
Tại Việt Nam, trước đây có phe cánh thân Tàu, thân Nga hay ngày nay đổi mới với bảo thủ...cứ đánh đấm, tàn sát nhau để củng cố sức mạnh nội bộ, quyền lực của cánh lãnh đạo. Chia rẻ chính là chủ trương để cho đảng được sức mạnh; tức là đảng khai thác sự bất đồng ý kiến, phe cánh để" phát hiện" hầu thanh toán những thành phần thù nghịch tàn dư " trí, phú, địa, hào" trà trộn, họ còn thanh toán nhau phe cánh, nên trong đảng có nhiều cái chết bí mật như trường hợp của thượng tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Chu Huy Mân, nguyên chiếc phi cơ chở trung tướng Đào Trọng Lịch bị rớt tại đất Lào, cái chết vì bị ú tim của Lê Mai, dàn dựng tai nạn như Đinh Bá Thi...v..v.. đảng Cộng Sản phần lớn do người miền Bắc lãnh đạo, nên có tình trạng"kỳ thị Bắc-Nam" do chính Hồ Chí Minh chủ trương, đến nay truyền thống ấy vẫn duy trì, do đó cái chức vụ cao nhất là Tổng Bí Thư được chuyền từ tay cán bộ gốc Bắc nầy đến người khác; sau nầy mới có vài chức thứ yếu, tay sai như thủ tướng lọt vào tay người miền Nam với Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, và nay là Nguyễn Tấn Dũng.
Ngay trong thời kháng chiến, Hồ Chí Minh từng hạ sát tướng Nguyễn Bình, quản thúc Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai và muốn thanh toán luôn Trần Bạch Đằng, nhưng tên nầy khôn hơn mà không chịu ra Bắc, dù Hồ chiêu dụ nhiều lần. Như trường hợp của tên tay sai Trần Văn Giàu là người có học, từng sang Pháp du học, sau đó học trường Cộng Sản Đông Phương, cùng khóa với những nhân vật tăm tiếng Cộng Sản: Giàu là người được chấm số 1 luận án ra trường, Tito thứ hai ( sau làm chủ tịch nước Nam Tư ) và người thứ ba là Thoreze ( lãnh tụ đảng Cộng Sản Pháp). Mỗi người được Stalin tặng bức hình chụp có chữ ký; Giàu ra bắc và bị quản thúc, thân bại danh liệt một thời. Còn Dương Bạch Mai bị Lê Đức Thọ cho người mang trà đến uống và chết tại chỗ vì thuốc độc.
Sau hiệp định Geneve 1954, nhiều người tập kết ra Bắc vì không biết bộ mặt thật Cộng Sản là kỳ thị Nam- Bắc; điển hình là trung đoàn 99 của thủ trưởng Đồng Văn Cống ( tức là Cai Tổng Cống), ra Bắc năm 1955, đóng ở Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Lợi dụng lúc sơ hở, trung đoàn dùng công xa chạy về phía Nam với giấy phép giả tập trận, qua được nhiều trạm kiêm soát trên đường số 1. Hồ Chí Minh hay được, cử Đồng Văn Cống, vốn là người miền Nam, nhưng cam tâm làm đầy tớ trung thành với Hồ, hắn mang quân đuổi theo, hai bên nổ súng ở bờ sông Bến Hải, số bị chết và số khác may mắn lội qua sông, trở được vào Nam, những người nầy thù tên Cống vì hắn làm tay sai cho Hồ, giết đồng đội miền Nam. Trong đảng Cộng Sản, khai thác chia rẻ nội bộ để thanh trừng liên tục, cuối cùng nhờ chia rẻ mà đảng có được thành phần hợp nhất, nồng cốt, cùng chia nhau quyền lực, đẻ ra quyền lợi và chia chác. Rồi sau đó phát hiện ra bất ai có mưu đồ tranh giành quyền lực, thì thành phần lãnh đạo thanh toán ngay, cứ thế mà phát huy để gạn lọc thành phần lãnh đạo.
Ở hải ngoại, sách lược chia rẻ luôn được đảng áp dụng, qua bàn tay gián điệp nằm vùng, tay sai, khai thác những mâu thuẫn các nhân về ý kiến, quyền lợi, lái sang bất đồng chính kiến, nên nhiều hội đoàn, đảng phái chia hai cánh, kình chống nhau quyết liệt, thay vì chống Cộng. Phong Trào Cộng Sản Thế Giới suy vong, sau khi Liên Sô sụp đổ, Đảng Cộng Sản Việt Nam bị buộc phải mở cửa để vừa cứu đảng trong lúc thoái trào và cũng vừa" tương kế tựu kế", dùng những người Việt trở về thăm quê hương, du lịch, du hý, du dâm, làm ăn, đem tài giúp đảng, mua nhà.....trở thành lực lượng" ù lì" mất hết ý chí chống Cộng, hoặc trở thành chống Cộng tiêu cực.
Chính thành phần quay lưng vì nhiều lý do, trở thành trái độn giữa làn ranh Quốc-Cộng, như con Dơi, ở hải ngoại thì chào cờ vàng ba sọc đỏ và về nước chào cờ đỏ sao vàng.... đương nhiên là họ không thích những ai không giống như họ, tức là trong tập thể tỵ nạn có sự" mâu thuẫn nội tại" giữa kẻ về, người không về; từ nhiều năm qua, hiện tượng phân hóa làm suy yếu tìm năng chống Cộng của một thế lực bao vây giặc Cộng về mặt ngoại giao suốt hơn 3 thập niên qua; là lịnh cấm vận ngoại giao bất thành văn được người Việt tỵ nạn duy trì, những người có tâm huyết chỉ xã vận khi chế độ Cộng Sản không còn nữa.
Hiện nay tập đoàn Cộng Sản đang gặp sức chống đối từ trong và ngoài nước sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền bao trùm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, nên đảng mong muốn những thế lực chống đảng phân hóa để mua thời gian và cũng để thực thi hợp đồng bán nước với khách hàng Trung Cộng. Do đó, mọi người cần sáng suốt để khỏi rơi vào quỷ kế chia rẻ của giặc Cộng lần nữa; tức là mục tiêu chống kẻ BÁN NƯỚC VIỆT CỘNG LÀ ƯU TIÊN HÀNG ĐẦU, đừng bị đảng và thành phần tay sai lái sang mục tiêu khác là chỉ chống Trung Cộng thôi, rồi bị lôi kéo vào chiêu bài" xóa bỏ làn ranh Quốc-Cộng, để cùng đoàn kết để chống ngoại xâm".
Hiện tượng tờ báo Người Việt ở Nam California mở hơi qua một bài viết nhằm tạo thế đứng cho Việt Cộng ở hải ngoại, với chủ trương biểu tình chống Trung Cộng, nhưng lại mang cả hai lá cờ: vàng ba sọc đỏ và cờ đỏ sao vàng, bị người Việt vạch trần, đây có thể là tờ báo có liên hệ với kẻ thù từ lâu, nay lộ mặt? Thời Nhật thua do 2 quả bom nguyên tử của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh là người mời Pháp sang đô hộ lần nữa và cũng chính hắn lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Một số đảng phái quốc gia có người biết thì bị thanh toán, thủ tiêu nhưng đại đa số dân chúng không biết nên lọt vào quỷ đạo của Hồ. Đáng lẽ ra, lúc ấy mọi người nhìn thấy mà tiêu diệt kẻ phản quốc, manh tâm mời Pháp sang tái cai trị trước khi kháng chiến chống Pháp, thì đảng Cộng Sản đã bị diệt trong trứng nước, trừ được mối đại họa cho dân tộc; đó là sự lầm lẫn của hàng triệu người Việt yêu nước, bị đảng Cộng Sản lợi dụng xương máu, rồi sau khi chiếm được miền Bắc, hàng triệu người bị bức hại.
Sau năm 1975, đảng muốn loại bỏ những người gốc miền Nam ra khỏi quyền lực trong hệ thống nhà nước để cho cán bộ miền Bắc làm vua, chúa. Đảng biết rất rõ những người miền Nam tập kết năm 1954 còn sống sót sau những đợt đưa vào nằm vùng, trận Mậu Thân và các chiến trường khác trong suốt thời gian gây chiến. Những người gốc miền Nam trở thành cán bộ thâm niên, có khi nắm những chức vụ quan trọng, thế là họ vì tình cảm gia đình mà bảo nộp đơn lãnh cho con, em, thân nhân....phục vụ trong chính quyền, quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Vì bảo lãnh nên nhiều cán bộ đành bị hạ tầng công tác, phục viên, và nếu không bảo lãnh cũng bị ra rìa sau đó vì lý lịch, đúng là" vắt chanh bỏ vỏ" một cách tinh vi. Trận chiến biên giới Tây Nam với Khmer Đỏ cũng là cơ hội tốt để đảng lùa con cháu của thành phần" ngụy quân, ngụy quyền" chết, vừa thanh toán được thành phần nguy hiểm và vừa làm nhiệm vụ phục vụ quyền lợi của quan thầy Liên Sô trong sách lược xích hóa thế giới.
Nhiều cán bộ miền Nam trở thành "hồn ma bóng uế" sau ngày" đất nước hoàn toàn bị giải phóng", họ bị chính những "ĐỒNG CHÍ" thân thương từ miền Bắc, nay trở nên "ĐÌ CHỐNG" để loại bỏ ra khỏi những chức vụ quan trọng, dể tham những, làm ra tiền mà không hao một giọt mồ hôi, đã vậy mà con cướp luôn đất, nhà của những người từng là tay chân đắc lực cho đảng Cộng Sản.
Sách lược CHIA RẺ để đảng bền, cán giàu luôn được tập đoàn Bắc Bộ Phủ sử dụng nhằm duy trì chế độ độc tài lâu dài, dù trên thực tế, thì đảng nầy đã hội đủ điều kiện ắt có và đủ để sụp đổ như lời của binh pháp gia Tôn Tử:" thiên thời địa lợi bất như nhân hòa", ứng nghiệm ở Liên Sô, Đông Âu. Tuy nhiên, sách lược chia rẻ để giữ đảng trở thành vô hiệu với những trường hợp sau đây:
¨ Nội bộ đảng chia rẻ làm nhiều cánh, nhưng các phe cánh không đủ mạnh để thanh toán lẫn nhau, để sau cùng chỉ còn một cánh lãnh đạo độc quyền như thời chiến tranh lạnh, điển hình như cánh Liên Sô do Lê Duẫn lãnh đạo, đã triệt hạ thẳng tay cánh Trung Cộng, đến nổi Hoàn Văn Hoan phải đào tỵ sang Trung Quốc vào năm 1978. Khi các phe cánh gườm nhau, thì đảng càng suy yếu và sau cùng sẽ có một cuộc đảo chánh của phe phái hay của một nhóm trung dung nào đó, lâu nay nằm im chờ thời. Đó là trường hợp ở Liên Sô, khi đảng Cộng Sản phân hóa trầm trọng, phe Cộng Sản bảo thủ không đủ mạnh để thanh trừng các phe cánh cải cách, họ giằng co với nhau một thời gian và sau cùng có cuộc đứng dậy của nhân dân, giựt sập chế độ bạo tàn chỉ 3 ngày, chấm dứt hơn 70 năm xây dựng quyền thống trị dựa trên bạo lực.
¨ Sau nhiều thập niên, dân chúng bị bốc lột tân xương tủy, mọi thành phần dân chúng, kể cả đám người ngu muội thuộc Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam bị trù dập, bị cướp đất, thành phần đảng viên miền Bắc bị trù dập vì nằm ngoài phe cánh, phản tỉnh...không còn bị đảng phân hóa nữa, vì tất cả các nạn nhân hay có khuynh hướng đoàn kết với nhau thành một khối để đương đầu với bọn cướp. Đó là một lực lượng quần chúng có sức mạnh" vô địch" có khả năng cuốn trôi bất cứ chế độ độc tài nào từ xưa đến nay. Nhất là vụ đảng Cộng Sản ký bán đất, hải đảo, vùng biển cho Trung Cộng, là chất keo" đoàn kết" càng dính chặc với nhau hơn, trong tương lai, những biến động chắc sẽ đến, đảng Cộng Sản không thể dùng" bức tường cán bộ giàu sang" để bảo vệ thành trì của họ, khi cao điểm" tức nước vở bờ" xảy ra, là đột biến chính trị, khó ai ngờ được. Do đó, sau những lần biểu tình phản đối Trung Cộng chiếm đất, đảng Cộng Sản Việt Nam hoảng hốt, phản ứng vá víu bằng biện pháp kiểm soát các trang mạng báo điện tử do những người yêu nước trong nước thực hiện.
¨ Tại hải ngoại, từ lâu nay những người lãnh đạo các tổ chức, hội đoàn, tôn giáo, nhiều người bị chiêu bài du lịch về thăm quê hương lôi cuốn...bị phải đòn "chia rẻ" làm lung lạc, suy yếu. Nếu không sáng suốt thì cái thòng lọng của đảng Cộng Sản qua bọn gián điệp nằm vùng, tay sai, đón gió cứ xiết chặc và ở hải ngoại trở thành chiến trường hổn loạn của thời" sứ quân" hùng cứ từng hội đoàn, tập thể, địa phương...trở thành loạn cào cào, mà kẻ hưởng lợi là đảng Cộng Sản. Trong bất cứ tổ chức, tôn giáo, tập thể quần chúng nào cũng đều có sự khác biệt Ý KIẾN, nên hay có những bàn cải mất nhiều thời giờ, có khi đi đến đổ vở. Nếu tách rời Ý KIẾN khỏi CHÁNH KIẾN thì đòn chia rẻ của giặc Cộng cũng trở thành vô hiệu; những lực lượng, tổ chức, hội đoàn, tôn giáo, tập thể...của người Việt hải ngoại ví như các binh, quân chủng, địa phương, nghĩa quân trong quân lực V.N.C.H hay Nhân Dân Tự Vệ. Dù có khác nhau sắc áo, trang bị và kỷ năng chiến đấu, nhưng tất cả đều cùng màu CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ, cùng nhau chiến đấu để chống giặc Cộng bạo tàn. Tức là sụ khác nhau ý kiến không nên đồng hóa với chánh kiến.
Ngày nay đảng Cộng Sản có chân trong Liên Hiệp Quốc, thành viên hiệp hội Asian, bang giao với Hoa Kỳ, các nước Liên Âu, vào WTO, gần đây trở thành thành viên không thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Nhìn bên ngoài, có vẻ như vững chắc, nhưng thật ra thì cái qui luật của Karl Marx là" mâu thuẫn nội tại" đang có chiều hướng tác động mạnh vào bộ máy quyền lực nầy, gậy ông đập lưng ông, nhân quả nhản tiền là thế. Trong nội bộ đảng thì các thế lực bè cánh chia rẻ căn bằng, nên đảng không thể thanh toán nhau mà tạo sức mạnh đồng nhất như trong những thời kỳ qua. Từ những năm gần đây, hiện tượng tố cáo tham nhũng, lôi ra những con vật tế thần như vụ Năm Cam, PMU 18, công ty dầu khí.....chỉ là những sự thanh trừng nội bộ giữa các phe phái lẻ tẻ, nhưng không đủ sức để cho một phe cánh nào có đủ thực lực để tận diệt tất cả phe phái khác như thời Hồ Chí Minh, Lê Duẫn...
Dân chúng ngày nay càng gần nhau để đòi cơm áo, đất đai, quyền sống, thêm thành phần Cộng Sản phản tỉnh, gốc miền Nam bị vắt chanh bỏ vỏ và sức ép cải cách dân chủ của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, Liên Âu....cô lập đảng Cộng Sản Việt Nam từ trong ra ngoài, và mới đây Trung Cộng ngang nhiên công bố chủ quyền bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi đảng và nhà nước phản ứng chiếu lệ, nhu nhược, hay đã ký bán từ lâu, nay đến lúc phải thực thi nghĩa vụ bán nước cho ngoại bang; nên đảng Cộng Sản tìm mọi cách ngăn cấm dân chúng biểu tình, phản ứng đòi đất. Rõ ràng là bán nước, dân Việt Nam ngày nay không còn mù quáng, ngây thơ như trước, đó là lý do giải thích cảnh người Việt hải ngoại biểu tình trước sứ quán Việt Cộng để lên án hành vi bán nước, phải chống kẻ bán trước; nếu không có kẻ bán thì làm gì có người mua là đệ tam nhân mà thôi. Vụ Trung Cộng ban hành thành lập huyện Tam Sa, được hiểu như là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước./.
TRƯƠNG MINH HÒA.

BỨC THƯ GỬI TƯỚNG LÃNH VÀ BINH SĨ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM.

Thưa quí vị và tất cả anh em binh sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam.
Trước hết cần nói rõ một điều kiện: Tôi không làm chính trị, và không có ý định làm việc đó. Tôi chỉ là một công dân Việt Nam. Nhưng trong cơn quốc biến, mọi người công dân Việt Nam phải gánh phần trách nhiệm của mình. Chính vì vậy mà lá thư nầy được gửi tới quí vị và anh em binh sĩ. Như quí vị đã biết, chúng ta đang ở trong một khoảnh khắc vô cùng nghiêm trọng của lịch sử, Trung Cộng đã và đang lấn chiếm các vùng biên giới lãnh thổ và lãnh hải nước ta. Nhưng nhà cầm quyền Việt Nam hoàn toàn tảng lờ, coi như không có chuyện gì xảy ra, họ không có phản ứng gì, ngược lại một số người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đã hợp tác với giặc, vì quyền lợi riêng của phe cánh, họ đã cam tâm dâng hàng mấy ngàn cây số vuông đất đai và một phần vùng Vịnh Bắc Việt của Tổ Tiên cho giặc Tàu. Việc này gây kinh hoàng cho cả nước. Nó sẽ dẫn tới những hậu quả xấu không lường.
Ngày xưa thì có Trần ích Tắc, Lê Chiêu Thống, những người mà cha ông ta gọi là “Cõng rắn cắn gà nhà”, “Rước voi dày mả Tổ”. Ngày nay bọn Mười, Anh, Trà, đang làm tôi tớ cho Bắc Kinh, rước quan thái thú Hồ Cẩm Đào qua Hà Nội hà hơi tiếp sức, hù dọa dân ta như Lê Chiêu Thống. Thì Tướng lãnh như các ông, còn hy vọng trông mong gì nơi họ ? Nói đạo lý thì các ông ăn cơm dân, mặc quân phục do dân cấp. Giặc vào nhà, sao có thể làm ngơ? Bọn Việt gian Mười, Anh, thì lộng hành nghênh ngang công khai làm tay sai cho giặc. Bọn họ đã thực sự trở thành vật cản nguy hiểm cho lịch sử dân tộc. Kìm hãm mọi sự phát triển của đất nước. Vậy hãy loại trừ chúng đi để cho dân tộc Việt Nam đi lên từ đây, từ lúc này. Hỡi những người mặc áo lính. Lịch sử nước Việt Nam phải chuyển sang một giai đoạn mới.
Những người Việt Nam biết suy nghĩ, có lương tâm và lòng tự trọng phải biết xấu hổ, biết sỉ nhục, khi đất nước mất độc lập, khi bị ngoại bang khống chế, chiếm mấy chục ngàn cây số vuông đất đai. Và phải nhớ rằng, Trung Hoa là mối đe doạ thường trực lúc nào chúng cũng chỉ lăm le muốn chiếm cả Việt Nam.
Đối với người Việt Nam ta, người Tàu lòng dạ họ như những bụi gai và không bao giờ hết tàn ác, ngay thời đại ngày nay, ngày 17 tháng 2 năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã xua 8 Quân Đòan cộng thêm 2 Sư Đoàn độc lập, với hàng ngàn xe tăng, xe bọc thép, hàng chục ngàn khẩu đại pháo bất ngờ mở cuộc tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, từ Quảng Ninh đến Lai Châu,đến đâu chúng thi hành chính sách diệt chủng: Giết sạch, đốt sạch, phá sạch, đến nỗi các hạ tầng cơ sở, vùng mỏ không còn một cái xẻng nguyên vẹn để xúc, Thị xã Lạng Sơn và vùng phụ cận không còn sót lấy một viên gạch lành, còn dân ta, chúng bắt được già trẻ, trai gái, lột truồng cho xe tăng nghiền nát và thử hỏi, cổ kim đông tây có sự tàn bạo dã man nào hơn giặc Tàu ? Mà chính các ông đã tận mắt chứng kiến sự man rợ của họ. Tại sao chúng ta không nhìn vào tấm gương lớn của lịch sử? Và có lẽ nào ta lại quên chuyện vừa mới xảy ra đầu năm nay. Bọn lính Tàu đã vô cớ bắn chết chín ngư phủ Việt Nam. Họ là đồng bào của các ông.
Hỡi các tướng lãnh, hỡi những người lính đã chiến đấu chống giặc Tàu năm 1979, các bạn đã bị phản bội! Bọn lãnh đạo đảng Cộng Sản đang hân hoan nâng cốc chúc mừng giặc Tàu, chúng đang cao giọng đồng ca bài “ Việt Nam Trung Hoa, Núi liền Núi, Sông liền Sông”,” mối tình thắm thiết Việt Hoa vừa là đồng chí vừa là anh em”, một cách trơ tráo vô liêm sỉ nhất.
Thưa quí vị.
Lâu nay dân ta bị những người lãnh đạo đảng cộng sản lừa dối. Vì rằng có nhiều việc liên hệ đến quyền lợi dân tộc và vận mệnh của Tổ Quốc, họ không bao giờ nói thật, và công bố sự thật cho dân biết những hiệp ước họ đã ký với Bắc Kinh, mà không hề được các ban, các ngành viện chuyên môn nghiên cứu xem xét trước. Bất chấp cả nhà nước, lãnh đạo đảng trên hết, Tổng Bí Thư ký hiệp định, bằng một loạt các hiệp ước mù mờ, nguy hiểm và bất bình đảng vẫn hạ bút ký. Bên cạnh họ là một lũ ươn hèn, ngu tối, bất lực, chấp nhận những đòi hỏi ngang ngược của Bắc Kinh. Trong đó có việc cắt nhượng nhiều vùng đất trên biên giới như khu vực Bình Độ 400 thuộc huyện Cao Lộc, và hai dãy núi thuộc xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, Tỉnh Lạng Sơn; 5 dãy núi thuộc huyện Vị Xuyên thuộc tỉnh Hà Giang , ngoài Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc cho giặc Tàu….. Chưa hết, trong vùng vịnh Bắc Việt, Lãnh đạo Đảng Cộng sản Vịêt nam còn thiết lập đường biên giới mới và nhượng cho Trung cộng hơn 11,000 cây số vuông. Đó là chưa kể đến việc cho Trung cộng chính thức vào khai thác tài nguyên trong vùng Vịnh.
Mọi người công dân của nước này, ắt phải đau lòng khi thấy nhà cầm quyền tự ấn vào tay Bắc Triều những vùng đất, vùng biển mà ông cha ta đã đổ biết bao nhiêu xương máu để gìn giữ từng tấc đất.
Hỡi nhũng người Việt Nam: Quyết không thể để cho bọn Việt gian tiếp tục dâng đất cho giặc, và trước khi mọi việc trở nên quá trễ. Tất cả công dân Việt Nam bằng mọi cách loại trừ những kẻ bất lương trong nhóm lãnh đạo đảng Cộng sản đang liên minh với Bắc Kinh, cảnh báo trước những tai hoạ hợp tác với Trung Cộng. Nhóm lãnh đạo này đã ký kết nhiều, văn kiện mà chúng không công bố trước quốc dân. Chúng thực hiện phương châm mười sáu chữ Vàng của Trung cộng: “Láng giềng hữu nghị hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai.” (Dẫn lời phát biểu của Tề Kiến Quốc đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Trung Cọng tại buổi chiêu đãi kỷ niệm lần thứ 55 , ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Trung Việt, tổ chức tại Hà Nội ngày 14 tháng 01 năm 2005).
Trung cộng chủ trương: “hợp tác toàn diện” và “nhất thể hoá khu vực” nghĩa là thực hiện âm ưu “Trung Quốc hoá”. Theo Tân Hoa Xã ngày 02, 12. 2000, khi nói về hợp tác toàn diện, bản tuyên bố hữu nghị Việt Trung giữa người lãnh đạo hai đảng tập trung vào 3 nội dung chủ yếu: Quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, và quan hệ giáo dục. Cùng thời kỳ Lê khả Phiêu ký hiệp định biên giới năm 2000, còn có bài viết của Cổ Tiêu Tùng, giáo sư nghiên cứu Đông Nam Á, Viện khoa học xã hội Quảng Tây Trung quốc, nói về việc “nhất thể hoá” vành đai kinh tế: vịnh Bắc Bộ là quan trọng nhất trong hợp tác giữa Trung quốc, Việt Nam và các nước Asean, vùng duyên hải phía Tây Bắc Thái Bình Dương.
Sự liên thông vành đai này có thể làm cho vùng Đông Bắc Á, với Đông Nam Á liên kết lại, hình thành toàn diện và sâu rộng về chính trị. Nó đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự mở rộng phát triển của Trung Quốc. Với Việt Nam thì vành đai hành lang bao gồm các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Mười tỉnh duyên hải vịnh Bắc Bộ mở rộng cửa toàn bộ khu vực miền Bắc. Để những khu vực này trực tiếp có ảnh hưởng của Trung Cộng (bao gồm toàn bộ Quảng Tây, toàn bộ đảo Hải Nam, và Quảng Đông), chúng đang xây dựng nhiều tuyến đường cao tốc nối liền giữa Trung quốc với các tỉnh Việt Nam.
Đây là quy hoạch chung theo nghĩa đen, Việt Nam thành một tỉnh tự trị của Trung Quốc, trong cái gọi là “hợp tác toàn diện”, và “nhất thể hoá khu vực”. Tất nhiên vịnh Cam Ranh và các tỉnh phía Nam cũng nằm trong vành đai này. Cho nên các hiệp ước mà Lê Khả Phiêu ký với Bắc Triều năm 1999- 2000 về biên giới trên đất liền, phân định vịnh Bắc Bộ, cho đến bảy văn kiện hợp tác với Trung cộng khi Hồ Cẩm Đào đến Hà nội ngày 31 tháng 10 năm 2005 vừa qua được bộ chính trị đảng Cộng sản nhắm mắt, cúi đầu ký một cách mau lẹ, đều đã được nằm sẵn trong âm mưu xâm lăng, và ăn cướp công khai, ăn hiếp một cách lộ liễu, thô bỉ. Thí dụ như cái gọi là: “Hiệp ước hợp tác nghề đánh cá vịnh Bắc Bộ, người Tàu bắt được ngàn con cá, ngư phủ Việt Nam khó bắt được một con, vì không có phương tiện mà lại dễ bi cho ăn đạn, hay như Hiệp định Trung Cộng Việt Nam cùng tuần tra chung vùng biển Bắc Bộ, mà Phạm Văn Trà vừa ký với giặc, chỉ có nghĩa là Trung Quốc toàn quyền kiểm soát vùng biển Bắc Bộ mà thôi. Còn trong Bảy văn kiện hợp tác Trung quốc, trong đó có việc Trung Quốc sẽ cung cấp điện đại qui mô cho Việt Nam, nếu nó không hài lòng điều gì với các anh. Nó sẽ cúp điện thì Hà Nội thắp đèn dầu!
Bọn lãnh đạo đảng Cộng sản đối với đồng bào thì tàn nhẫn và thù hằn dai dẳng. Trong những đợt vượt biên từ sau mùa bão máu năm 1975 bao nhiêu người đã chìm trong lòng biển? Những người còn sống nhiều người bị tù đày, bị cướp đoạt, bị lừa gạt năm lần bảy lượt, nhưng trong trái tim của họ vẫn đượm màu độ lượng hơn là hận thù, hằng năm họ vẫn gửi về Việt nam hàng mấy tỷ dollars. Trong lúc những tấm bia tưởng niệm đồng bào bạc phước ở đảo Ga Lăng, Bi-Đông, Palawan, những người lãnh đạo Hà Nội tìm mọi cách đập phá. Họ làm cho người chết không được sự yên tĩnh. Đối với đồng bào thì như vậy. Nhưng đối với kẻ thù thì tỏ ra quá hèn hạ, lú lẫn, u mê, quên cả chuyện vừa mới xảy ra cuộc chiến tàn bạo của giặc Tàu năm 1979. Với các công trình viện trợ hợp tác xây dựng của Trung Quốc với Việt Nam, khi có sự bất đồng với nhau, họ lập tức rút các chuyên gia về nước, tự ý phá bỏ các hợp đồng, và phá huỷ tất cả các công trình không còn một cái nào có thể hoạt động được! Rồi lại còn chuyện Tàu mua sừng trâu giá cao, mua ngô non v.v. để triệt hạ dân Việt! Người Tàu không từ một thủ đoạn đê hèn nào đối với người Việt.
Thật là bất hạnh cho những quốc gia nào có biên giới chung với nước Tàu. Chúng là người láng giềng tham tàn độc ác, hèn hạ nhất. Không có thể hợp tác với chúng. Tất cả việc hợp tác với Trung Cộng mà đảng Cộng sản Việt Nam đã ký kết với Bắc Kinh đều là xiềng xích tinh thần và vật chất, hết sức nguy hiểm cho đất nước. Không thể để cho chúng “hợp tác toàn diện” với giặc.
Hãy để một bàn tay rắn rỏi loại trừ tức khắc bọn Việt gian bán nước, và làm cho chính quyền lành mạnh! Mỗi hành động đi đêm với Bắc Kinh đều vi phạm quyền lợi của dân tộc phải được xử lý nghiêm minh.
Tôi tin tưởng rằng, nguồn ánh sáng chính nghĩa sẽ soi rọi cho chúng ta trong nhiệm vụ trừ gian cứu nước. Có ai là người Việt Nam lại từ chối nghĩa vụ cao cả này? mà toàn dân Việt Nam sẽ đón nhận nó, và tôi cũng tin là bất cứ ai trong chúng ta, trừ bọn Mười, Anh, Trà…. muốn mình trở thành người Tàu. Tất cả sức lực, niềm tin và sự hy sinh mà chúng ta sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc Việt Nam, sẽ toả sáng và được thế giới ủng hộ.
Thưa quí vị và các chiến sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam. Không còn con đường nào khác, không còn lựa chọn nào hơn là phải ra tay trừ khử những tên Việt Gian trong nước trước. Cả dân tộc đang mong đợi các vị. Ai làm được việc đó, tên tuổi sẽ rực rỡ muôn đời, nêu danh muôn thuở.
Thưa quí vị, tôi không gửi tới quí vị và các chiến sĩ thông điệp chiến tranh. Nhưng sẽ sai lầm và ngu xuẩn tin là có thể dùng lẽ phải để thuyết phục được bọn Việt gian tỉnh ngộ. Các vị đã biết đấy, sau hàng ngàn những kiến nghị, góp ý, những lời khuyên răn và can gián quí báu của những người có tâm huyết trong và ngoài đảng, kể cả những tướng lãnh và nhiều cựu viên chức cao cấp như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các tướng Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, Nguyễn Trọng, Lê Văn Hiền, Phạm Hồng Sơn, Đoàn Y Thành, Nguyễn Nam Khánh, các Đại tá như Thiết Vi Hùng, Trần Quốc Thuần v.v…
Giớí trí thức, Phan Đình Diệu, Gs. Trần Văn Hà, Gs. Sử học Dương trung Quốc… các cán bộ văn phòng Quốc Hội như Luật sư Trần Quốc Thuận, Trần Văn Lâm…. Các nhà báo Trần đình Bá, Nguyễn Trần Thiết v.v… đã không thể dùng lẽ phải và giải pháp ôn hoà để thuyết phục được bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Khoa Điềm… Tất cả lời khuyên không lay chuyển được họ. Bọn này một mực dựa vào Bắc Triều để bảo vệ quyền lợi. Chúng cúi đầu thần phục, noi gương Mạc Đăng Dung ngày xưa dâng đất năm động. Còn bọn Việt gian bây giờ, dâng đất, dâng biển.
Hỡi những người lính: Quân đội là bức tường thành bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ. Mục đích to lớn trọng đại của quốc gia là duy trì bảo vệ những tài nguyên của đất nước và chống lại mọi nguy cơ xâm lấn của ngoại bang.
Thực hiện những việc làm trên là nhằm bảo vệ nền độc lập, bảo vệ quyền lợi tự do của người dân. Ở nước nào cũng vậy, tố chất quân đội quốc gia, bao giờ cũng gắn bó mật thiết với tố chất dân tộc của quốc gia đó. Nhưng khi nó bị nhào nặn trong chế độ chính trị không hoàn thiện, thì quân đội ấy không còn quân đội lý tưởng của dân tộc nữa. Chỉ khi nào nhân dân thấy ở người lính thực sự là nơi an toàn để gởi gắm quyền lợi và tự do, mới đúng nghĩa quân đội nhân dân.
Các bạn thân mến. Nhân dân phải làm việc cực nhọc để tạo ra của cải, nộp thuế cho nhà nước một phần để nuôi quân đội, mà niềm vui nỗi buồn của người lính có quan hệ máu thịt với sự sinh tồn của dân tộc. Các bạn đều là con em của nhân dân, phải bảo vệ họ. Không phải người lính đổ xương máu ra để bảo vệ một nhóm nhỏ lãnh đạo. Lẽ ra xương máu của anh em đổ ra để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sự an lành cho dân. Nhưng lâu nay máu của các bạn đổ ra và mồ hôi nước mắt của dân đổ ra đã bị những con muỗi mòng, con đỉa ở Bộ Chính trị hút kiệt. Nhà văn Dương Thu Hương gọi chúng là những con giòi bự, nhưng chưa giải thích rõ nó từ đâu sinh ra. Nó từ đống phân tư tưởng Hồ Chí Minh hủ hoá với ruồi nhặng Mao đẻ trứng, trứng nở ra giòi, cái quả từ cái nhân gieo tạo ra.
Hồ Chí Minh với chiến lược trồng người, đào luyện con người xã hội chủ nghĩa sinh ra toàn bọn sâu dân mọt nước, cả đảng lẫn chính quyền không có bộ mặt nào sạch sẽ. Bà Dương Thu Hương nhờn tởm chúng. Trong lá thư trả lời ông Đinh Ngọc Ninh ở Pháp, bà viết: “Hãy nhìn lại những con giòi khổng lồ thời hiện đại Hà Nội đang lưu truyền bản photocopie trên đó đăng thứ tự 50 con giòi hạng một, những con giòi chủ nhà bank khắp thế giới, nhiều nhất là ở Mỹ và Thuỵ Sĩ. Mức tiền thấp nhất là trên 600 triệu USD… Tôi không phải chủ nhà Bank nên không biết rõ ngân khoản thấp nhất hay cao nhất là bao nhiêu.
Nhưng tôi biết một số vụ “làm ăn” của các bự giòi, con thì ăn cắp một nửa số cement đổ làm hồ thuỷ điện Hoà Bình khiến mỗi năm một lần mời chuyên gia Hà Lan sang hàn vết nứt, mỗi lần tốn kém hằng trăm triệu USD. Và các ngân hàng bị huy động chạy nháo nhác như cứu hoả, con thì mua tàu bãi rác của Hải quân Nga thải đi sơn quét lại mang về lúc diễn tập sự việc đổ bể mới biết, con thì mua tên lửa Nga đã tịt ngòi đem về bắn không nổ, mang tàu trục vớt không được phải thuê dân chài mò lên, con thì cướp ngân quỹ quốc gia cho vợ trổ tài xây sân bay trên đảo hàng tỷ USD, ngày khánh thành cả sân bay, máy bay, phi công bị sập chìm xuống biển vô tăm tức, báo chí không được phép đưa tin” Bà Dương thu Hương than phiền, “không đủ giấy và đủ thờì gian để liệt kê 50 con giòi cấp một , làm sao có thể đủ kiên nhẫn kể cho ông nghe những con giòi cấp hai và cấp ba.”
Tiền bạc hút xương máu của dân nhiều đến thế. Còn nhà ở của bọn chúng là những toà biệt thự sang trọng, những đồ vật cực kỳ lộng lẫy, vương giả, mà đến một quốc vương cũng phải thèm muốn. Thế mà đó lại chính là con người vô sản, giản dị, khiêm tốn mà người ta gọi là người đầy tớ của dân. Nhưng giữa cái tên và sự việc lại là một việc khác biệt quá lớn.
Các bạn đã hy sinh cả cuộc sống của chính bản thân mình để rồi cuối cùng đau xót nhận ra rằng phần thưởng những cống hiến của các bạn chỉ là sự lừa dối. Và đã bị bọn họ lợi dụng trở thành lá bài hộ mệnh cho một nền độc tài đảng trị, mà mỗi đảng phái chỉ là một thiểu số người trong cộng đồng dân tộc. Nếu chỉ mang ý tưởng của đảng mình ra áp dụng thay vì nguyện vọng của toàn dân là một lỗi lầm lớn. Nhưng kể từ năm 1954. đây là lần đầu tiên của Việt Nam: một chính quyền áp dụng công khai nguyên tắc đảng lãnh đạo (có một nhóm người đứng ra thống trị cả một dân tộc, trên cả Tổ quốc.) Đây cũng là một điều ngu xuẩn trái đạo lý phi dân tộc, phản nhân văn. Người có trí thức, phải biết rằng, đảng phái nào dù ưu việt đến đâu cũng phải đặt Tổ quốc và quyền lợi dân tộc lên trên hết, kể cả các tôn giáo, hết thảy phải tôn trọng nguyên tắc này, không bao giờ vượt qua phạm vi đó.
Nhân đây, tôi cũng muốn nói với những người lãnh đạo đảng cộng sản rằng: Lịch sử các nước văn minh, phát triển không cần có đảng Cộng sản lãnh đạo, như nước Đức, nước Mỹ, nước Nhật v.v…ngược lại nước nào có đảng Cộng sản lãnh đạo, tất nhiên là bị bần cùng hóa, thoái hoá, lạc hậu, tụt hậu như Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v…Và cũng không cần đảng cộng sản lãnh đạo, người ta vẫn dành được độc lập. Nên biết rằng ở thời điểm năm 1945 – 1946, sau đệ nhị thế chiến, các nước Anh, Mỹ, Pháp đã lần lược trao chủ quyền độc lập cho nhiều quốc gia “ phi liên kết”.
Năm 1947 chính phủ Lao Động Anh dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Attlee đã trao chủ quyền độc lập cho Ấn Độ, Tích Lan, và Miến Điện, Mỹ trao trả độc lập cho Philippines năm 1957. Thủ tướng Pháp Guy Mollet cũng đã trao chủ quyền quốc gia cho Tunisie và Ma Rốc năm 1956. Sau nầy quân Mỹ đến miền Nam Việt Nam, là do sự mời gọi của cộng sản Nga Tàu, bọn bành trướng đế quốc đỏ. Giống như quân đội Mỹ đến tham chiến ở Triều Tiên năm 1951, chủ trương của Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng Hoà giữ vững nền độc lập, không phải muốn biến nơi đây thành thuộc địa, như người Pháp trước kia. Hiện còn mấy chục ngàn quân Mỹ đóng ở Nam Hàn, và một điều hiển nhiên, ai cũng biết. Sau Đệ Nhị Thế Chiến đến nay vẫn còn mấy chục ngàn quân My đóng ở Tây Đức. Ở nước Nhật quân Mỹ còn mấy chục ngàn, nhưng không có ai bảo Nước Đức, Nước Nhật, Nước Đại Hàn là tay sai của đế quốc Mỹ hay các nước nầy bị Mỹ đô hộ. Thế mà bao nhiêu năm nay Đảng Cộng sản Việt nam cứ lợi dụng khẩu hiệu chống Mỹ xâm lược tuyên truyền để buôn xương bán máu của dân. Và gán cho người anh em đủ mọi thứ xấu xa như ngụỵ quân, ngụy quyền, tay sai, thử hỏi ai là tay sai? ai bán nước?
Đảng Cộng sản Việt nam đánh đĩ hai chữ kháng chiến quí giá. Tôi lột mác kháng chiến của các anh vì các anh cứ khoe khoang mãi về công lao kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, mà quên rằng, các anh chỉ là tên lính xung kích của bọn đế quốc đỏ lúc đó là Nga sô và Trung Cọng. Vả lại các anh có bao nhiêu đảng viên cộng sản trong thời gian kháng chiến chống Pháp? Và bao nhiêu đảng viên hy sinh ở Điện Biên Phủ? Hay các anh chỉ là những kẻ chiến đấu bằng xương máu của người khác để thực hiện mưu đồ đen tối. Lại hỏi nữa: 30 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, các anh có cái gì ngoài cái lăng lỗi thời và mất vệ sinh nhất. Còn 30 năm hòa bình các anh đã làm được những gì cho đất nước ngoài một số công trình được dựng lên từ tài lực của bọn tư bản cá mập. Trong đó đáng kể nhất là tiền và công sức của người Việt Nam lưu vong. Dân tộc ta có cuộc sống an bình no đủ, đất nước tồn tại và đứng vững, phát triển mà không cần sự có mặt của đảng cộng sản Việt nam. Ðảng cộng sản Việt Nam luôn luôn là tai ương cho đất nước này, một tai ương mà tất cả chúng ta đã có dịp kiểm chứng đầy đủ.
Tôi tin chắc rằng chế độ cộng sản hiện nay là một tội lỗi về đạo đức, về chính trị vô cùng to lớn. Các anh sẽ là người hạnh phúc, nếu anh được từ giã nó. Trên thế giới này, không có lý do nào có thể giải thích tại sao người Việt Nam không có cả quyền tự nhiên, tự do căn bản, mà bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã đưa ra như quyền được sống, được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc riêng của họ.
Việc nhắc lại quá khứ chỉ có thể là bài học cho hiện tại và hậu thế. Các anh đều biết đấy, từ năm 1945, những mơ ước cháy bỏng nhất cho nhân dân không trở thành hiện thực. Tuyên ngôn độc lập mùng 2 tháng 9 năm 1945 cảm thấy bi phản bội nữa là khi hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa bị chính người đọc tuyên ngôn độc lập dâng cho giặc Tàu năm 1958 và việc dâng đất, cắt đất cho giặc sẽ không dừng lại chừng nào chưa xảy ra … và chưa kết thúc…. Nguyên nhân cuối cùng và đại họa đến với dân tộc dường như đã và đang ngầm núp trong nền chính trị của đảng Cộng sản. Một đảng có lịch sử lừa đảo để chiếm quyền, với lòng kiêu hãnh ngu dốt bỉ ổi, lì lượm vô sỉ và tham tàn, mà ngừời sáng lập ra nó đã có công lưu manh hoá toàn đảng, về cuối nó tập họp những tâm hồn khiếp nhược và những bộ óc tê liệt trước sức ép của ngoại bang. Tại sao lại nói đại hoạ ngầm núp trong đảng cộng sản Việt Nam, vì rằng: trong việc giải quyết mối quan hệ với Trung Cộng, họ đã đi quá xa, với những lo lắng xấu nhất cho đất nước. Bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Phạm Văn Trà… tỏ rõ sự nhu nhược quá đáng với những đòi hỏi của Bắc Kinh, những nhượng bộ liều lĩnh, vô vọng và vô trách nhiệm đối với Tổ quốc, coi thường nhân dân.
Trong việc hoạch định chính sách đối ngoại, những người lãnh đạo đảng bị ràng buộc bởi những nỗi lo trước kia không dám quan hệ chặc chẽ với phương Tây. Nhưng lại liên kết chặt chẽ với kẻ thù truyền kiếp là Trung Quốc. Sự thực Việt Nam chưa bao giờ có sự an toàn đáng tin cậy của người Tàu. Vấn đề quan trọng ở đây là lịch sử xâm chiếm Việt Nam của người Tàu để lại… Và tâm lý dân Việt hàng ngàn thế hệ được giáo dục với tinh thần rằng kẻ thù chính của họ là bọn bành trướng Phương Bắc, rằng chúng luôn luôn muốn chiếm cả Việt Nam từ khi mới lập quốc. Nhưng đảng cộng sản Việt Nam đã thay đổi hẳn chính sách của họ, từ khi Hồ Chí Minh lên nắm chính quyền. Họ Hồ thường giáo dục đảng viên “Mối tình thắm thiết Việt Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em và Trung quốc với Việt Nam như chân với tay, như môi với răng”.
Điều đó, có nghĩa là họ Hồ không biết, và không hiểu lịch sử nước mình. Cũng có thể là ông không muốn biết và không muốn hiểu.
Có thể tinh thần thời đại và đổi thay, nhưng việc lấn chiếm đất đai của Việt Nam thì các nhà lãnh đạo Bắc Kinh không muốn thay đổi. Đó cũng là nét đặc trưng của người Tàu là như vậy. Họ luôn luôn muốn mở rộng lãnh thổ Trung Hoa, gây ra nguy hại, và mất an bình của các nước láng giềng, như Ấn Độ, Việt Nam, Mông Cổ, Tây Tạng v.v. Làm thế nào nữa đây để chúng ta có thể sống yên bình, hoà hợp và thân ái với họ. Khi họ luôn luôn dòm ngó, xâm lấn lãnh thổ nước ta.
Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy rằng, Việt Nam càng ít quan hệ chính trị với Trung Hoa bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Quan hệ với họ thì dễ, nhưng rứt ra khỏi tay họ thì rất khó! Huống hồ là những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt nam lại xác định phương châm “hợp tác toàn diện” với người Tàu “Nhất thể hoá khu vực” theo phương châm của Tàu. Lãnh đạo Việt cộng luôn nêu khẩu hiệu học tập nước bạn.
Tại sao ta cứ phải làm theo họ, cái tệ nô lệ này có từ năm 1946, khi đảng Cộng sản Việt Nam, lấy “tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho hành động”. Phải dứt bỏ hẳn cái vòng kim cô của Bắc Triều. Phải dứt bỏ điều ô nhục đáng hổ thẹn này. Nó trái với nguyên tắc đạo đức và chủ nghĩa yêu nước.
Chúng ta đồng thời được tiền nhân kính yêu cảnh cáo về tai họa của việc liên minh với Bắc triều. Nếu cần chiến đấu chúng ta không sợ vài triệu quân Tàu. Chúng là một lũ hết sức thâm độc, nhưng cũng là một đội quân hèn nhát nhất thế giới. Bọn tướng Hán từ cổ đến kim tên nào cũng nhát như chuột; ông cha ta, chưa bao giờ chiến đấu trong một trận ngang sức: Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ. Tiền nhân ta đã chiến thắng kẻ thù lớn mạnh gấp nhiều lần. Và cũng rộng lượng với kẻ thù khi chúng bị đánh bại. Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi từng viết: “Đánh một trận sạch không kinh ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông.” Hãy ngẩng cao đầu hãnh diện về Tiền nhân của chúng ta.
“Lịch sử bao giờ cũng có nhiều mặt… Trong Vương triều nhà Trần luôn luôn bị sức mạnh từ bên ngoài đè nặng không thể tưởng tượng được. Nhưng sự thống nhất trong nội bộ của nó luôn luôn được chuẩn vị và nhân dân một lòng, thì cho dù giặc Mông cổ có sức mạnh mẽ, hùng cường đến đâu cũng chẳng làm gì nổi. Trên thực tế chưa bao giờ có sức mạnh đáng kể bên ngoài nào ưy hiếp được triều đại nhà Trần. Đây là bài học được rút ra từ thực tế lịch sử chứ không phải lý thuyết” (Dẫn sách TTPGNT trang 486 tập I cuả tàc giả.)
Sức mạnh của cộng đồng dân tộc là tổng hợp ở mỗi cá nhân, vì vậy dân tộc có thể hùng mạnh. Và ngược lại, từ mỗi cá nhân đến với cộng đồng. Chúng ta thực hiện chưa được chu toàn sức mạnh ấy. Vấn đề chia rẽ giữa người Việt với nhau quá lâu rồi! Hãy cho qua đi, chúng ta hướng về tương lai. Chúng ta có quá nhiều việc phải làm ở phía trước. Đây là lúc tạo cho chúng ta cơ hội để hàn gắn vết thương quá khứ, cùng tiến đến một cơ sở chung. Bất kể những gì đã chia rẽ chúng ta trước đây, chúng ta hãy xếp nó vào quá khứ. Hãy để cho giây phút nhân ái nầy theo: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nuớc phải thương nhau cùng”. Là một điều hàn gắn vết thương và đoàn kết cùng nhau cứu nước. Cho dù chúng ta có thể nghĩ như thế nào đi nữa về những khuynh hướng chính tri cho Việt Nam tương lai. Nhưng những người Việt Nam dũng cảm đã dấn thân chiến đấu cho động cơ cao cả vì tự do độc lập dân tộc sẽ không có gì ngăn cách. Tôi tin chân lý là chất keo gắn bó chúng ta với nhau. Đó là sợi giây ràng buộc cho dù bị kéo căng ra vẫn không bị đứt cả bên trong lẫn ngoài nước. Chúng ta hãy cùng nhau tạo dựng tinh thần dân tộc trên cơ sở thống nhất cho một nước Việt Nam Tự do.
Để thay đổi một chế độ độc tài chúng ta cần phải can đảm và dám làm những gì mà thế hệ trước chưa làm được. Các vị tướng lãnh trong quân đội, phải là người tiền phong khai thông để kỷ nguyên bế tắc trôi giạt qua đi và một mùa xuân đổi mới trên toàn cõi Việt Nam bắt đầu.
Dân tộc đang cần con người hành động, con người chúng ta cần là con người trung thành với nước Việt Nam, con người đặt Tổ quốc và quyền lợi nhân dân lên hàng đầu. Người đó, nhất định sẽ thống nhất được lòng dân và tập họp được các lực lượng yêu nước tạo được sức mạnh. Người đó sẽ đưa dân tộc tới một kỷ nguyên hoà bình tự do và công lý.
Một niềm tin mà tất cả đồng bào trong và ngoài nước đều có quyền hy vọng!
Trân trọng.
Trần Nhu

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn xôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông ta miệt mài
Từng giờ qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng

Ta như giống dân di tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
Ôm vết thương rĩ máu ta cười đưới ánh mặt trời
Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi đậy hùng cường đi lên.

Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang.