Bauxite Việt Nam

Vietland

Đài Á Châu Tự Do

18 tháng 11 2009

Giải Pháp Nào Hữu Hiệu Giúp Việt Nam Thoát Khỏi Chế Ðộ Cộng Sản Hiện Nay?

Sau hơn năm mươi mấy năm thống trị đất nước, đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) do thiếu tài đức nhưng lại dành độc quyền lãnh đạo nên đã đưa Việt Nam tới bờ vực thẳm, bị khánh kiệt cả vật chất lẫn tinh thần. Từ lãnh thổ đến lãnh hải đều bị kẻ thù Bắc phương Lấn & Gậm dần, thậm chí các quần đảo, những phần đất có giá trị chiến lược hoặc kinh tế tỉ như phần phía nam quần đảo Trường Sa hiện là củaViệt Nam, nhưng Trung Cộng (TC), kẻ thù phương Bắc vẫn tìm cách khống chế ngăn đe không cho Việt Nam bén mảng tới đó. Vụ TC nổ súng bắn vào tàu đánh cá Việt Nam ngoài khơi biển Ðông cách bờ biển chưa đầy 300km vào ngày 9-7-07 vừa qua đã chứng minh thái độ lấn lướt của TC và thế yếu hèn của đương quyền CSVN.
Ngay như đảo Côn Sơn, Hải Quân TC cũng còn lăm le dòm ngó. Hành động gây hấn, khiêu khích liên tục của TC tại Biển Ðông mỗi ngày mỗi tăng khiến các nước có hợp đồng kiếm tìm dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam phải ngưng các hoạt động thăm dò; cụ thể hãng British Petrolium phải ngưng khai thác dầu khí ở “Lô 62” (phần phía Nam Trường Sa ngoài khơi tỉnh Bạc Liêu) từ năm 2006 vì TC hăm dọa. Phải chăng, vì bị ám ảnh và sợ sệt trước vụ chiếc trực thăng chở phái đoàn quân sự CSVN bị gài bom nổ tan xác ngoài khơi tỉnh Thanh Hóa khi họ đi điều tra vụ TC giết 9 ngư dân và bắt đi nhiều người khác trong vùng đảo Bạch Long Vỹ (thuộc hải phận Việt Nam) vào ngày 8-1-05 nên nhà cầm quyền Hà Nội phải im lặng không dám lên tiếng sợ trả thù?
Về mặt kinh tế trên lý thuyết, đương quyền Hà Nội nhờ tài báo cáo láo, phóng đại nên mọi thứ đều lạc quan, tăng trưởng hơn 7%. Trên thực tế hệ thống tài chánh hiện đang bị què quặt, kinh tế hoàn toàn lệ thuộc vào số vốn đầu tư của ngoại quốc. Thê thảm nhứt là chế độ độc tài toàn trị Việt Nam đã tạo ra một nền học vấn lạc hậu và thấp kém so với các nước khác trong khu vực Á châu. Ngoài ra, đảng CSVN vì vô đạo, không tôn trọng luân lý và chủ động làm tiền bằng mọi cách, thậm chí khai thác tình dục của phụ nữ và trẻ con để làm giàu riêng cho băng đảng vì thế Ðông-Nam-Á đã trở thành một thị trường buôn bán đàn bà và trẻ con Việt Nam.
Trước cảnh quốc phá gia vong, nhiều người còn có lòng với quê hương đều cảm thấy lo lắng, chưa biết xoay xở cách nào để đưa đất nước thoát ra khỏi vũng lầy hiện nay. Một số lại kỳ vọng vào giải pháp quân sự, tức là một cuộc đảo chánh của quân đội mới mong xóa bỏ được chế độ hiện hữu; hoặc may hơn có được một vị cứu tinh tầm cỡ như lãnh tụ cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev xuất hiện thì đất nước còn phương cứu chữa, nếu cứ ngồi chờ sung rụng hoặc theo đuôi Mỹ “diễn biến hòa bình” thì sớm muộn gì Việt Nam cũng sẽ rơi vào vòng cương tỏa củaTrung Cộng.
Thử tính nhẩm: Nên theo phương cách nào, tìm giải pháp quân sự hay nhờ một vị “cứu tinh”.
A-/ Giải Pháp Quân Sự:
Phải khẳng định, dưới chế độ cộng sản độc tài toàn trị, chưa có một một cú đảo chánh nào của quân đội xảy ra mà thành công, ngoại trừ dưới chế độ độc tài của tổng thống Ceaucescu nước Roumani. Lý do: Khi nhân dân Roumani nổi dậy chống lại thế lực kềm kẹp của công an thì Quân Ðội hầu như “bất động”; mãi cho đến lúc Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng ra lệnh cho Quân Ðội Roumani truy bắt và hạ sát cặp vợ chồng nhà độc tài Ceaucescu cùng khống chế Lực Lượng công an, cuộc đảo chánh mới có kết quả và quốc gia Roumani mới thoát được thống trị của cộng sản.
Riêng đối với các nước cộng sản Á châu mà đứng đầu là Trung Hoa, vì cấp lãnh đạo tại những nước nầy vốn tính rất đa nghi và vô cùng tàn ác. Một khi cảm thấy tình hình bất ổn, không lợi cho chế độ thì họ sẵn sàng phóng tay tận diệt tất cả những ai mà họ nghi ngờ có hại cho phe cánh; điển hình và cụ thể là qua các chiến dịch “Vận Ðộng Chỉnh Phong” năm 1935, Mao Trạch Ðông đã dùng làm chiêu bài đó để loại các đối thủ. Và trong cuộc “Cách Mạng Văn Hóa”, Mao Trạch Ðộng cũng nhờ vợ là Giang Thanh phát động phong trào tố khổ để loại bỏ các đối thủ của mình như, Thống chế Bành Ðức Hoài, Chu Ðức, Trần Nghị, Ðặng Tiểu Bình, Lưu Thiếu Kỳ và đặc biệt nhứt là tướng Lâm Bưu Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội Giải Phóng Trung Hoa; mặc dầu Hiến Pháp Trung Hoa ghi Lâm Bưu là người thay thế Mao, nhưng vì ghen ghét và đa nghi, Mao cũng ra lệnh thủ tiêu bằng cách tạo ra tai nạn máy bay giết tất cả gia đình Lâm Bưu.
Trung cộng và CSVN cùng chung một lò đào tạo, do đó cách hành xửû của họ hoàn toàn giống nhau; bọn đầu sỏ chỉ mới đánh hơi ngửi có mùi “phản động”thôi cũng đủ để bọn nầy ra tay trước. Chúng giết hết tướng Chu Văn Tấn đến ám sát tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái; triệt hạ từ tướng Lê Liêm, Ðặng Văn Giang rồi đến Lê Trọng Tấn, chưa kể việc thủ tiêu dã man tướng Ðinh Ðức Thiện, tức Phan Ðình Vinh em ruột của Lê Ðức Thọ Ủy viên BCT; phần lớn bọn cao cấp trong Ðảng đều biết, chính Lê Ðức Thọ, tức Phan Ðình Khảiï đã ra lệnh giết Thiện bằng cách bố trí cho xe cán chết em ruột của mình vì Thiện bị kết tội trái lệnh đảng; đó là chưa kể phản gián của cục An Ninh đã gài bom cho nổ tan chiếc trực thăng chở tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Ðào Trọng Lịch và toàn Bộ Tham Mưu phần lớn là “tay em”của Tướng Giáp tại Cánh Ðồng Chum, Lào vì chúng nghi Giáp “trở mặt”. Với cung cách phòng ngừa triệt để và hành sử tàn nhẫn như thế; ngoài ra lại có sự “yểm trợ” của đông đảo cán bộ “Quốc Tế Tình Báo Sở” TC ngày đêm giám sát và theo dõi, sẵn sàng can thiệp vào nội bộ của Lực Lượng Vũ Trang CSVN, việc tổ chức đảo chánh tại Việt Nam khó mà xảy ra. Hơn nữa, với hệ thống chính ủy và tính chất “chuyên chính”, tức là chỉ có quyền lợi của Ðảng thì khó có chuyện binh biến trong Quân Ðội CS.
Cũng xin nhắc lại, vào cuối thập niên “90”, một vài cựu sĩ quan cao cấp VNCH cũ tự cho mình là “chuyên viên đảo chánh”, họ có cơ hội tiếp xúc với vài tướng lãnh CSVN tại tư gia một ái nữ của cựu Ð/T T ở Hong Kong để mưu tìm cách lật đổ bọn Hà Nội bằng giải pháp quân sự; tiếc thay vì quá non kém, hơn nữa những tay này không chứng minh cụ thể được “sức mạnh” của kẻ đứng đàng sau và sự đóng góp của thế lực nầy khi cuộc binh biến xảy ra nên bị mấy tướng cộng sản đã phỉ báng nhóm nầy một cách thậm tệ. Bọn đó nói:”ÐM. . . các anh không chứng minh được sức mạnh và phương tiện yểm trợ, lại đòi hỏi quá nhiều thì nên dẹp chuyện bàn thảo đảo chánh, đi chỗ khác chơi”.(Cũng nên đặt câu hỏi, tướng CS họp bàn việc đảo chánh đây là thật hay phản gián trá VC trá hình). Nêu lên một vài sự kiện điển hình để chứng minh: áp dụng giải pháp quân sự để lật đổ chế độ cộng sản hiện nay là một việc không tưởng.
B-/ Trông chờ các vị lãnh đạo tốt.
Nhìn vào gương lãnh tụ Mikhail Gorbachev của Liên Xô hoặc Ðại tướng Jaruzenski(?), Tổng thống nước Ba Lan, người ta thấy rằng ít nhiều các nhân vật đó cũng đã góp công vào việc thay đổi chế độ cộng sản tại các quốc gia nói trên, vì thế một số nhà hoạt động chính trị Việt Nam hy vọng một vài cán bộ trong hàng ngũ cộng sản chóp bu nếu có cơ hội thuận tiện, biết đâu họ sẽ tìm cách chuyển đổi dần chế độ cộng sản toàn trị hiện nay thành chế độ dân chủ trong tương lai.
Mời quý độc giả thử xét qua thành tích của một vài nhân vật cộng sản thường nhắc tới. Lý do: vì các người nầy vốn gốc miền Nam, (phải chăng ít sắt máu?) đó là Trương Tấn Sang, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng.
Trước hết nói về Trương Tấn Sang: theo dõi qua một vài hành động điển hình, tỉ như người ta thấy Trương Tấn Sang, tức Tư Sang từng đề nghị đặt lại tên Sài Gòn cho thành phố Hồ Chí Minh khi đang làm Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố rồi họ hy vọng là Trương Tấn Sang sẽ trở thành một Gorbachev của Việt Nam. Tiếc thay, Tư Sang qúa tham nhũng; do ăn chia không đều nên một thời gian đã bị thất sủng; qua đến Khóa X, Tư Sang lại được sung vào BCT làm Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương Ðảng (hạng thứ 5/14). Nhưng chuyến nầy y chỉ chú tâm làm giàu cho Ðảng nên hết còn mong chờ.
Hết hy vọng Tư Sang, người ta lại nhắc đến Nguyễn Minh Triết vì nghĩ rằng, dù sao y cũng là người miền Nam, đã từng được giáo dục tại Sài Gòn, nếu trước nay Triết không vội tìm cách trèo cao lặn sâu bằng cách xin vào ngành An Ninh của V.N.C.H, và không bị cơ quan tình báo VNCH phát giác sớm buộc phải trốn vào chiến khu, biết đâu y đã trở thành một chức quyền miền Nam. Ngoài ra, cũng có lý do khác để người ta nhắc đến Nguyễn Minh Triết vì trước đây hơn 3 năm, theo tin tức của những nhà ngoại giao thông thạo về nội tình Việt Nam, thấy họ vẫn còn tin tưởng vào “cái gốc miền Nam” của Triết, hy vọng rằng con người gốc Bình Dương kia sẽ có đủ khả năng chuyển đổi chế độ khi y có cơ hội. Do đó trong giao tiếp, một vài nhân vật đã kín đáo cho biết sự tin tưởng của họ đối với Triết, thậm chí đã có một nhà báo kín hở nói, hai nhân vật Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng là những con bài của Mỹ rồi mạnh dạn khuyên hải ngoại chớ nên đả kích mấy tên nầy vì sẽ phiền Mỹï. Tuy nhiên sự kiện đã thay đổi nhiều từ khi Triết được chuyển từ Bình Dương về làm Thành Ủy Sài Gòn.
Khi Triết được chuyển về Sài Gòn thì lúc đó lại có sự xâm nhập ồ ạt của Tình báo Hoa Lục vào các tỉnh miền Nam. Trong giai đoạn nầy lại xảy ra một vài điều quan trọng như: - Tình báo TC yêu cầu, một là người Hoa nên tích cực tình nguyện tham gia đông đảo vào hàng ngũ đảng CSVN; thứ hai là khuyến khích phụ nữ người Hoa dứt bỏ đầu óc kỳ thị cũ và nên lấy chồng Việt Nam để theo đúng kế hoạch “đồng hóa” dần Việt Nam của Bắc Kinh. Với kế hoạch nầy thì tư tưởng của Nguyễn Minh Triết hầu như đã lần hồi thay đổi. Nguyễn Minh Triết trong chức vụ mới đã có một hồ sơ mang quốc tịch Trung Hoa dưới tên là Trần Phong và từ đó Triết đã ngã lần về phía Hoa Lục. Người ta tự hỏi, phải chăng vì chiến dịch “Dấm Xủ” do tình báo Hoa lục giăng ra, gài kỹ vào nội bộ Thành ủy thành phố HCM khiến Nguyễn Minh Triết xa lần gốc Bến Cát, Bình Dương của mình và trở thành cán bộ của Trung-Nam-Hải.
Thất vọng về Nguyễn Minh Triết, một số nhà hoạt động trong nước kể cả đảng viên cộng sản gốc miền Nam lại nghĩ tới tên tuổi Nguyễn Tấn Dũng, một cán bộ cao cấp cộng sản được tiếng là “thân Mỹ”; ngay với những người Mỹ trong tư thế “thầy giáo riêng” của Dũng cũng nghĩ vậy. Tuy nhiên, “dzậy mà không phải dzậy”, trên thực tế đã khác hẵn. Qua những năm tháng dài làm Phó Thủ tướng Thường Trựïc và chính thức Thủ tướng đương nhiệm từ tháng 6 năm 2006, theo đánh giá của những người am hiểu thì Nguyễn Tấn Dũng là một loại người xảo quyệt và lật lọng hơn bất cứ thủ tướng VC nào khác từ trước đến nay.
Có thể khẳng định, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một nhân vật đầy bí ẩn và khó hiểu nhứt so với đa số người Việt Nam; bí ẩn từ lý lịch đến công tác đảng vụ.
Về lý lịch của Nguyễn Tấn Dũng mà thường được gọi tắt là Ba Dũng cũng được các “thợ viết” cộng sản thêu dệt nhiều cách khác nhau. Người thì nói, Ba Dũng là con rơi của tướng VC Nguyễn Chí Thanh; kẻ khác lại phịa là con của Võ Văn Kiệt. Thực tế, theo tiết lộ của nội bộ CSVN, Ba Dũng là con đẻ của Mai Chí Thọ, tức Phan Ðình Ðống em ruột của Phan Ðình Khải tức Lê Ðức Thọ tự Sáu Búa.(Như vậy Dũng gọi Lê Ðức Thọ bằng bác ruột).
Sự kiện được nhắc lại, là sau khi CSVN cướp được chính quyền vào tháng 8-45, Phan Ðình Khải đã bố trí cho em ruột là Mai Chí Thọ, tức Phan Ðình Ðống bí danh Năm Xuân vào Nam để làm giám đốc “Tự Vệ Cuộc” tỉnh Bến Tre. Ở đây một thời gian, Thọ lấy một phụ nữ địa phương và sinh ra Ba Dũng vào ngày 17-11-1949, tại xã Tân Lộc, huyện Cà Mau tỉnh Cà Mau. Do công tác. Mai Chí Thọ giao Ba Dũng lại cho Mười Minh, một Ủy viên kháng chiến xã Rạch Sõi, tỉnh Kiên Giang nuôi nấng. Ðến khi gần chết Mười Minh lại nhờ Võ Văn Kiệt săn sóc và huấn luyện Ba Dũng. Vào ngày 10-6-1967 khi Ba Dũng vừa được 18 tuổi, lúc y đang tham gia kháng chiến “chống Mỹ cứu nước” trong Xã Ðội Du Kích Rạch Sõi, Kiên Lương thì được kết nạp vào đảng cộng sản dưới tên đảng Nhân Dân Cách Mạng Miền Nam.
Theo một Bác sĩ và một doanh gia địa ốc đều là người gốc Rạch Sõi, Kiên Giang, cả hai hiện đang cùng sinh sống tại thành phố San Diego, họ rõ biết Nguyễn Tấn Dũng rất nhiều. Theo những nhân vật nầy thì Nguyễn Tấn Dũng mới bước vào trường Trung học Kiên Lương, Rạch Sõi nhưng nhờ con cha cháu ông, cụ thể là con ruột của Mai Chí Thọ, tức là cháu ruột của Lê Ðức Thọ và là con nuôi của Võ Văn Kiệt do đó Nguyễn Tấn Dũng mới phất rất mau.
Năm 1975, khi cộng sản vừa chiếm được miền Nam, Nguyễn Tấn Dũng mới mang cấp bực thiếu úy, một thời gian sau đó Ba Dũng được Ðảng bộ Kiên Giang cử theo học “Ðại Học Chính Trị” tại trường Ðảng (1981-1984) tức là trường Nguyễn Ái Quốc ở Hà Nội, và chỉ trong vòng 10 năm Ba Dũng đã lần lượt nắm giữ các chức vụ quan trọng từ Tỉnh Ủy viên kiêm Phó Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy kiêm Bí thư Ðảng ủy Quân sự Kiên Giang, Ủy viên Trung ương Ðảng khóa X.
Từ năm 1991-1996 Võ Văn Kiệt đưa Nguyễn Tấn Dũng lên làm Thứ trưởng Bộ Nội Vụ kiêm Ðảng ủy viên Ðảng ủy Công an.
Như đã nói trên, tuy ít học nhưng nhờ phe cánh nên dù mới chỉ có một văn bằng Cử Nhân Luật học tại chức (học đêm) Ba Dũng vẫn đắc cử vào ủy viên Trung ương và được bầu vào Bộ Chính Trị (BCT) trung ương khóa VII (hạng 17 trong số 19 ủy viên).
Năm 1997 được cử làm Phó Thủ tướng Thường trực, bước qua năm 1998, ngoài chức vụ Phó Thủ tướng Dũng còn kiêm nhiệm các chức vụ quan trọng dưới đây:
· Chủ tịch Hội Ðồng Tài chánh và Tiền tệ Quốc gia
· Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nguyên nhằm trấn áp đồng bào Thượng trên 2 mặt: Quyền sở hữu đất đai và quyền Tự Do tín ngưỡng.
Riêng trong 2 năm1998-1999 Dũng còn kiêm nhiệm chức vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà NướcVN.
Thử hỏi, một viên du kích xã, mới vào Trung học, và chỉ học tại chức ban đêm để biết sơ sài về luật mà “dám” đảm nhiệm nhiều chức vụ có tính cách chiến lược quốc gia như An Ninh, Nội vụ, Tài chánh, Ngân hàng thì thật quá lố. Sự kiện nay chỉ xảy ra dưới chế độ CSVN.
Phải nói, Ba Dũng một phần phất nhanh là nhờ “có công” tận diệt người Việt quốc gia.
Ba Dũng giống hệt bản tính sắt máu và thù hận người Việt quốc gia của cha y, mà người ta nói là Mai Chí Thọ, tức Phan Ðình Ðống bí danh Năm Xuân hay ông Năm Sư Tổ.
Nếu Mai Chí Thọ hiếu sát, gian dối, lật lọng và tìm cách tận diệt “Ngụy Quân”, Ngụy Quyền” và thù ghét nhân dân miền Nam mà Thọ gọi là “Ngụy Dân” thì Nguyễn Tấn Dũng cũng rập nguyên khuôn; nghĩa là cũng chủ trương thẳng tay thủ tiêu, ám sát hàng ngũ quốc gia sinh sống trong vùng Rạch Sõi, Kiên Giang không gớm tay. Do đó thời gian làm “chúa tể” tỉnh Kiên Giang, Ba Dũng nhờ sự tiếp tay của lực lượng phản gián công an và mật vụ của Mai Chí Thọ ở Sài Gòn; hỗ trợ của Võ Văn Kiệt mà bàn tay vấy máu của Nguyễn Tấn Dũng đã hoàn toàn triệt hạ hết lực lượng quốc gia chống cộng của Lê Quốc Túy; sát hại Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch, lên án khổ sai Mai Văn Hạnh và thủ tiêu nhiều kháng chiến quân khác.
Trong công tác truy lùng những người Việt quốc gia muốn thoát nạn cộng sản, tìm đường vượt biên, thì công an cộng sản dưới trướng của Mai Chí Thọ hành xửû độc ác như thế nào, dối trá, lường gạt và lật lọng đối với người đi tìm đường tự do ra sao, thì tại Kiên Giang Nguyễn Tấn Dũng cũng áp dụng đúng nguyên bản: vẫn thỏa thuận bán bãi bán bến với giá quý kim cắt cổ, nhưng nếu thấy số người tị nạn mang nhiều vàng bạc có lợi cho băng đảng thì lập tức lại trở mặt lật lọng, thủ tiêu người vượt biên để cướp của.
Sau khi khi được bầu làm Thủ tướng Chính phủ từ ngày 26-6-2006 trong nhiệm kỳ 2007-2011 mà thực chất là để hợp thức hóa quyết định của BCH TƯ Ðảng CSVN khóa X, Nguyễn Tấn Dũng đến nay thực sự chưa làm được một sự kiện nào nổi bật để gây thanh thế ngoài việc ban hành Nghị Quyết 37 để siết chặt truyền thông, hầu kiểm soát báo chí mà mục đích tối hậu là cấm tư nhân không được quyền có phương tiện truyền thông trong tay. Chỉ mới có việc đề nghị thay đổi chức vụ, đòi “loại” Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm kiêm Bộ trương Bộ Ngoại Giao (đứng thứ 7/14 Ủy viên BCT) bằng cách đưa giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bộ trưởng Giáo Dục và Ðào Tạo lên Phó Thủ tướng kiêm Ngoại Giao nhưng lại bị Quốc Hội từ chối. Việc này chứng tỏ Nguyễn Tấn Dũng bị lệ thuộc 100% vào sự quyết định của Ban Tổ Chức Trung ương Ðảng CSVN. Thử hỏi như vậy thì làm sao đáp ứng kỳ vọng của những ai đặt lòng tin vào quyết định cải cách của y.
Trước sau, Nguyễn Tấn Dũng chỉ là người lợi dụng phe cánh mà ngoi lên để có quyền hòng kiếm địa vị và làm giàu chứ không mong gì y sẽ giúp dân cứu nước.
C-/ Kết luận: Giải pháp nào thích hợp để cứu nước?
Qua phần trình bày ở các mục trên, quý độc giả chắc sẽõ đồng ý các điểm dưới đây:
* Thứ nhất - Giải pháp A theo phân tích và cụ thể chứng minh thì kể như bất khả thi, trong hiện tại theo khuynh hướng của các nhà đầu tư ngoại quốc tại Việt Nam, đặc biệt là người Mỹ họ không muốn xáo trộn; thế lực tư bản chủ trương phải “ổn định” để phát trưởng kinh tế thì mớiø làm ăn buôn bán được. Hơn nữa, theo đánh giá thì hiện thế lực lượng Tây phương chưa thực sự nắm vững và kiểm soát được tình hình Việt Nam, vì thế một cuộc binh biến xảy ra mà không kiểm soát được tình hình, thì kẻ hưởng lợi chính là người Tàu. Do đó cho đến nay, những ai còn nghĩ chuyện đảo chánh quân sự là sai. Khuyên họ hãy nhìn kỹ gương của tướng Lào Vang Pao, một cộng sự viên đắc lực của Mỹ trong chiến tranh Ðông Dương, cho đến nay Tướng Vang Pao vẫn trung thành với người Mỹ nhưng vì không đi đúng đường lối tư bản, nghĩa là còn muốn chiến đấu vũ trang cũng bị hy sinh một cách oan uổng.
* Thứ hai - Việc trông chờ một số nhà lãnh đạo cộng sản “yêu nước” như hy vọng trong mục B để tìm cách chuyển đổi Việt Nam thì cho đến nay cả là một điều vô vọng. Cứu tinh đâu thì không thấy, mà chỉ thấy toàn là “chằn tinh” xuất hiện. Chúng, nếu không là những tên độc tài sắt máu thì cũng chỉ là những tên biết dùng thủ đoạn ngóc đầu lên để tham nhũng làm giàu. Thử hỏi, với kỹ thuật “tân kỳ”ø Xi Măng Cốt Tre, sản phẩm của dự án PMU 18 bày ra để cùng nhau ăn cướp tài sản quốc gia thế mà Ðảng CSVN còn chấp nhận để làm giàu thì sá gì những việc động trời khác; nếu có việc đào mồ cuốc mã tổ tiên đem rao bán ắt CSVN sẽ tiến hành mà không do dự.
Một ai đó từng nghĩ quẩn nói rằng, CSVN đang phải khó khăn chọn lựa, theo Tàu thì mất nước, còn chạy theo Mỹ là mất Ðảng. Nói thế làø sai. CSVN đâu cần suy nghĩ cứ tiếp tục con đường đen tối hiện nay mà vẫn không hề hấn gì vì nếu có mất, thì nhân dân Việt Nam bị mất, quê hương Việt Nam chịu thiệt thòi còn cộng sản thì chúng đâu có rụng sợi lông chân nào đâu mà e ngại.
* Thứ ba - Nếu tất cả giải pháp nói trên mà bất khả thi, không lẽ đồng bào bó tay chờ chết. Chắc chắn nhân dân Việt Nam sẽ không lùi bước và tiếp tục chiến đấu cho đến thành công.
Xin nhớ, một ngàn nô lệ của Tàu, Một trăm năm bị Tây đô hộ, toàn dân Việt Nam đâu chịu ngồi yên để thực dân ung dung hưởng lợi; vẫn kiên cường và liên tục chiến đấu và đã chiến thắng. Do đó chỉ có giải pháp duy nhất, là kiên trì chờ đợi, liên tục đấu tranh, liên trong kết ngoài, tạo cơ hội để hình thành một cuộc “tổng nổi dậy” của quần chúng tư sản, gồm thanh niên học sinh, phối hợp với nhân dân lao động và lực lượng các tôn giáo và các nạn nhân của cộng sản khi có thời cơ thuận lợi hầu giành quyền Tự Quyết.
Tuy nhiên xin lưu ý, chúng ta đang phải đối đầu với một thế lực phản dân chủ, có Tổ Chức, giỏi Tình báo và khéo Tuyên truyền, vì thế cần phải cẩn trọng; chớ dễ tin, đặc biệt là triệt để bảo mật và phải cảnh giác cao độ may ra mới tránh khỏi bị thiệt hại nặng.
Trong cuộc thử lửa vừa qua, vì quá dễ tin và thiếu cảnh giác nên lực lượng đấu tranh đã bị phản gián cộng sản gài những đòn ác hiểm bằng cách lừa gạt; đưa ra những “nhà dân chủ cuội” làm cò mồi dụ dỗ, khiến một số vị lãnh đạo tôn giáo vốn được tiếng rất khôn ngôn những vẫn bị mắc bẩy, tạo cơ hội cho bọn cộng sản vô thần có cớ để tiến hành tiêu diệt giềng mối đạo. Ngoài ra, cũng trong thời gian qua, lực lượng đấu tranh đòi dân chủ trong nước đã vấp nhiều sai phạm trầm trọng tỉ như:
Thứ nhất: - Không lượng giá được tình hình, thiếu rõ biết thực hư, dễ tin, kết nạp bừa bải nên bị địch gài rất nhiều nhân viên phản gián vào phá hoại. Ðồng ý lực lượng tôn giáo là một nhân tố vô cùng quan trọng cho công cuộc đấu tranh, nhưng căn bản phải quan niệm rõ: tin Chúa, theo Phật nhưng chớ đặt nhiều tin tưởng vào hệ thống tăng lữ, vì phản gián đã gài rất nhiều cán bộ đội lốt tôn giáo xâm nhập để ung thối hàng ngũ đấu tranh; ngay cả với những tu sĩ từng được tiếng tốt, có lập trường vững, nhưng đã bị cộng sản “nắm tẩy” hoặc bị vướng vào cái nghiệp Danh, Tài, Sắc hay Tham, Sân, Si nên đã hàng phục cộng sản. Ngoài ra trong nghệ thuật tuyên truyền phải áp dụng thể thức “Tứ Khẩu Ðồng Từ”, có nghĩa tất cả phải cùng chung một tiếng nói. Trái lại lực lượng đấu tranh lại vướng vào cảnh trống thổi xuôi, kèn thổi ngược; phát biểu thì tiền hậu bất nhất, như thế thì làm sao người ta vững tin vào chính nghĩa.
Thứ hai: - Không thanh lọc hàng ngũ, thiếu quyết liệt đối với những phần tử yếu hèn không có tinh thần đấu tranh, sợ khó sợ khổ; lúc phải đối đầu với kẻ thù thì sợ sệt, viện cớ cha già mẹ yếu và gia cảnh để thoái thác nhiệm vụ rồi bỏ rơi chiến hữu; đợi đến những người bạn chiến đấu bị hốt hết vào tù thì lại chường mặt ra nắm giữ vai trò lãnh đạo. Thử hỏi lãnh đạo mà thiếu Dũng, không Ðức như thế thì làm sao tạo được niềm tin? Xin lưu ý trong đấu tranh, học vị chỉ là những yếu tố bổ sung chứ không phải nhân tố quyết định. Tại sao Ban lãnh đạo lại tỏ ra lơ là vụ việc nầy. Hơn nữa mọi người đều rõ, loại nầy đã bị một tổ chức tay sai cộng sản hải ngoại mua chuộc từ lâu.
Thứ ba: - Ðối diện với một kẻ thù có tổ chức giỏi tình báo mà lại thiếu cảnh giác, không bảo mật lại công khai nghe lời xúi dại của bọn tay sai cộng sản ở hải ngoại kêu gọi mặc đồng phục để tập họp đấu tranh, cụ thể là choàng “áo trắng” đi biểu tình. Phải chăng mặc như thế để công an dễ nhận diện mà khỏi bắt lầm? Thử hỏi, đấu tranh cách mạng thì phải cần đến yếu tố bất ngờ và bảo mật, thế mà cung cách ăn mặc độc đáo như thế thì chưa tới được điểm tập trung đã bị đánh lẻ và xé nát từ trong trứng nước. Và như vậy thì làm có được một cuộc tập họp đông đảo để biểu dương lực lượng hòng tạo khí thế.
Xin quý vị trong hàng ngũ đấu tranh ghi nhớ: CSVN bây giờ thực sự đã vào sân chơi, cụ thể đã gia nhập WTO, tức Cơ Quan Thương Mãi Thế Giới; đang vận động để trở thành một trong 15 Thành Viên của Hội Viên Không Thường Trực thuộc Hội Ðồng BẢo An LHQ, chúng không thể áp dụng luật rừng như trước, mà bị ràng buộc và phải tuân thủ những quy luật của tổ chức nói trên; nếu triệt để khai thác được các khía cạnh nầy biết đâu sẽ là một yếu tố giúp ta dễ thành công hơn.
Ðấu tranh cách mạng thì phần Phá cũng quan trọng như phần Xây. Xin hỏi liệu các nhà lãnh đạo lực lượng đấu tranh đã có dự trù các biện pháp phòng ngừa khi cuộc cách mạng thành công chưa? Hay là sẽ tạo ra một cuộc hỗn loạn rối răm, không chủ đích và cuối cùng cũng lại rơi vào đám tay sai cộng sản hay tư bản rồi lại gặp cảnh “tránh vỏ dưa đạp phải vỏ dừa”.
Chúng tôi cầu chúc cuộc đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ tại Việt Nam được sớm thành công và thắng lợi.
Phùng Ngọc Sa.

CHỐNG AI? AI CHỐNG? BÂY GIỜ CHỐNG AI?

Trong không khí sôi sục của những cuộc biểu tình đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa, tôi thật hoang mang. Chống ai? Để đạt được điều gì? Và trong khi chống đối thì ai sẽ chống người chống đối? Rồi sau đó chuyện gì sẽ xẩy đến cho mọi phía liên quan trong cuộc chiến này?
Cách đây hai tháng, trong một buổi hội thảo bỏ túi về các nền văn minh của các sắc dân tại Úc, vào giờ giải lao, một cô bạn người Assyrian đã cùng tôi ngắm nghía bản đồ thế giới. Cô buồn bã tâm sự như thể tiếp tục cuộc hội thảo với cá nhân tôi mà thôi: “Chị thấy không, trên bản đồ thế giới, không có nước của người Assyrians chúng tôi. Chúng tôi đã bị mất nước từ nhiều thế kỷ nay và hiện nay chúng tôi sống rải rác khắp nơi trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở vùng Trung Đông như Iraq, Iran, Syria v.v... Chúng tôi là người theo Thiên Chúa Giáo lạc loài trong khối người Hồi Giáo. Văn hóa chúng tôi đã lừng lẫy một thời với Babylon, Nineveh, và những chứng tích lịch sử trong Kinh Thánh, phần Cựu Ước, cho đến thời Chúa Giêsu giáng trần. Nước chúng tôi nằm tại một phần trong nước Iraq bây giờ. Nhưng, hiện nay chúng tôi không có một tấc đất nào thuộc về người Assyrian chúng tôi nữa.
Nghe qua bài nói chuyện của chị về nước Việt Nam, tôi khâm phục dân tộc Việt Nam, thật nhỏ bé bên cạnh nước Trung Quốc khổng lồ, mà sao các bạn duy trì được mảnh đất ấy cho đến ngày nay.
Nhưng mà, với cái đà bành trướng của Trung Quốc hiện nay, coi chừng họ chiếm nước chị đấy. Thương cho dân chị trong nước, họ không làm gì nổi đâu. Tôi đã sống ở Iraq dưới thể chế độc tài của Saddam Hussein, nó tàn ác và tham nhũng, hại dân hại nước y như CSVN, nên tôi rất hiểu dân tộc chị. Trong nước, người dân bị bó tay, đàn áp, như người Assyrian ở Iraq. Ngoài này các bạn phải giúp cứu họ khỏi tay độc tài để còn giữ gìn đất nước các bạn trước hiểm họa bành trướng của Trung Quốc. Đừng để con cháu các bạn không có đất sống như chúng tôi bây giờ. Đau đớn lắm. Và đó sẽ là do lỗi của người Việt hiện nay tại hải ngoại đã quá thờ ơ trước vận mạng đất nước. Hãy làm gì đi khi bạn còn có thể làm được. Since you can still do something, do it!”
Cuộc đối thoại cách hai tháng luôn âm ỉ trong tôi. Cho dù tôi cũng từng hiểu như vậy trước khi cô bạn tâm sự. Nhưng, một người bạn ngoại quốc, mà dân tộc cũng bi đát như dân tộc mình, lại tỏ lòng thương mến, lo lắng cho dân tộc mình, thì cái đau, cái thương cho dân tộc càng mạnh hơn.
Nỗi đau đớn này lại càng bộc phát mạnh mẽ từ vài tuần qua, khi theo dõi những diễn biến về Hoàng Sa và Trường Sa.
Đúng, Trung Quốc luôn hăm he xâm chiếm Việt Nam, một dải đất nhỏ xíu ở miền nam Trung Quốc. Đó là một sự thật hiển nhiên từ ngàn xưa. Mộng bá chủ hoàn cầu của Trung Quốc còn lan ra cả Âu Châu với những trận chiến trên dòng sông Rhein bến Đức nữa kìa. Và ngay cả hiện tại, Trung Quốc vẫn tiếp tục mộng bành trướng qua ngả kinh tế. Điều này quá hiển nhiên. Cả thế giới đều thấy.
Đúng, dân Việt Nam oai hùng đã giữ vững được dải đất của cha ông. Lịch sử Việt Nam từ ngàn xưa đã ghi biết bao chiến công hiển hách từ Hai Bà Trưng đến Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung v.v... Điều này cũng quá hiển nhiên.
Đặc biệt, riêng đối với Hoàng Sa và Trường Sa thì hải quân VNCH đã đổ máu đào để bảo vệ vào năm 1974. Con dân Việt Nam tại miền Nam Việt Nam trong thời chiến tranh chống cộng sản, đích thật là con cháu dòng dõi hiển hách trong sứ mạng giữ gìn tấc đất tấc vàng của dân tộc Việt Nam, của tổ tiên cha ông để lại.
NHƯNG, NHƯNG, NHƯNG.......
Tiếc thay, một nhóm người cũng mang dòng máu oai hùng đó đã đi ngược lại kỳ vọng của cha ông.
Ngày 14.9.1958, CSVN đã ký công hàm xác nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Một sự công nhận có nghĩa là một sự dâng hiến, trao tặng. Người ký là Phạm Văn Đồng, người chủ xướng là Hổ Chí Minh. Người nhận là Chu Ân Lai.
Hồ Chí Minh nghĩ sao mà lại xác nhận chủ quyền của Trung Quốc vậy? Chỉ có thể cắt nghĩa như sau:
Trong cuộc chiến chống miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa (1954-75), phần đất này thuộc Việt Nam Cộng Hòa vì ở dưới vĩ tuyến 17. Cứ tưởng tượng như hai miền Nam bắc là hai anh em trong nhà Việt Nam. Bắc cho hàng xóm Trung Quốc cái phần của Nam thì cũng chỉ là cho cái mà bắc không có, thì, Bắc có mất mát gì đâu? Nghĩa là: Hồ Chí Minh đã vô tâm, vô tình đối với tài sản của tổ tiên. Hồ Chí Minh chỉ một mực muốn tiếp tay với cộng sản quốc tế để bành trướng chủ nghĩa cộng sản tại vùng Đông Nam Á mà thôi. Tổ tiên Việt Nam, đất đai tổ quốc? Họ Hồ chẳng quan tâm. Vậy là kể từ ngày ấy, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
Kể từ ngày ấy, dânViệt Nam đã mất hai quần đảo đang có nhiều triển vọng phát triển về dầu hỏa, một tiềm năng không thể đo lường được.
Đọc đến đây, người viết mong rằng, ai còn mảy may chút ít cảm tình với Hồ Chí Minh, nhất là người dân trong nước (bị bịt mắt trước sự thật về họ Hồ), và những bạn trẻ hay những người “thờ ơ” ở nước ngoài (vì quá bận rộn với chuyện học hành hoặc công ăn việc làm), chắc phải nhận ra rằng: Ồ, vậy là Hồ Chí Minh đã bán nước, CSVN đã bán nước. Đích thật CSVN đã và đang làm hại dân tộc Việt Nam, phản bội cha ông, phản bội tổ quốc.
CSVN hiện nay biện minh hành động bán nước này là (nguyên văn): “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng hai quần đảo nói trên.”
Câu nguỵ biện này thật trơ trẽn, bởi vì vào thời điểm 1958, người Mỹ đâu đã tham gia cuộc chiến Việt Nam. Thời điểm đó chỉ có quân Bắc Việt xâm lấn miền Nam, dưới chiêu bài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đánh lừa thế giới rằng chính người miền Nam đứng lên đòi “giải phóng” miền Nam.
Việc bán nước lần này (tức dâng hiến Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc), một số thành phần CSVN vẫn còn chối là: công hàm của Phạm Văn Đồng không giá trị, và chỉ do Trung Quốc đưa ra là bằng chứng để chính thức thiết lập nến hành chánh trên Hoàng Sa và Trường Sa mà thôi. CSVN nói là để nói, chứ chạy tội làm sao được bây giờ? Dù là Trung Quốc đã “nhận của từ kẻ cắp” thì “của” này cũng đã thuộc về Trung Quốc và CSVN dư biết điều đó. Vả lại, trong vài tuần nay, có thấy một nhân vật của đảng CSVN lên tiếng hay có hành động nào để đòi lại đâu.
Thê giới có can thiệp để đòi “của” này từ Trung Quốc thì cũng không đủ cơ sở. Một cuộc đối thoại giản dị sẽ là:
Quốc tế: Trung Quốc ơi, anh đã xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam, xin anh vui lòng trả lại.
Trung Quốc: Tôi đâu có xâm chiếm. Việt Nam cho tôi mà. Bằng chứng rành rành đây này (TQ đưa công hàm của Hồ Chí Minh do Phạm Văn Đồng ký) !
Quốc tế: Cái này là do Bắc Việt ký, mà Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Nam Việt, nên bản ký này không có giá trị. Hồi năm 1958, anh bạn Trung Quốc đã nhận “món quà” từ kẻ cướp rối anh ơi. Trả cho Việt Nam đi!
Trung Quốc: Ủa mà trả cho VN thì tôi lại trả cho thằng cướp à? Vì bây giờ Bắc Việt làm chủ đất nước mà. Tôi trả cho thằng cướp thì vô lý quá. Nó đã cho tôi rồi thì tôi giữ, dù là của thằng cướp.
Quốc Tế: Vậy thì khi thằng cướp bị dẹp đi, khi Việt Nam có một chính phủ của dân Việt Nam, chính thức được toàn dân công nhận thì anh có trả không?
Trung Quốc: Lúc đó tính sau. Nhưng bây giờ thì dứt khoát không tính toán gì hết. Vì tôi không trả thằng cướp.
Quốc Tế: Trả thằng cướp thì chúng tôi cũng chẳng giúp được. Khi nào có một thể chế do dân bầu, theo ý dân, trong tự do dân chủ thì quốc tế chúng tôi sẽ đòi lại giải đất này của anh (Trung Quốc) để mà giao lại cho họ (Việt Nam). Thế mới là công lý, công pháp quốc tế là thế đấy, anh (Trung Quốc) không thể giữ Hoàng Sa và Trường Sa khi Việt Nam có một chính phủ do dân bầu ra đâu nhé. Wait and see!!!
Vậy thì, trong tình thế hiện này, khi Hoàng Sa và Trường Sa được CSVN tặng cho Trung Quốc, nguời dân Việt trong và ngoài nước, mang danh dòng máu oai hùng của cha ông, sẽ phải chống ai? Xin trả lời ngay:
Trước hết phải chống CSVN bán nước.
Ai sẽ chống chúng ta, những người đang chống CSVN bán nước?
Đầu tiên hết chính là đảng CSVN. Họ sẽ bảo là: dân Việt Nam phải đoàn kết trước hiểm họa xâm lấn của Trung Quốc. Bây giờ không phải là lúc chia rẽ. Cờ đỏ, cờ vàng, đừng đối chọi nhau nữa, cùng là dân Việt, máu đỏ da vàng cả mà!!! Cứ giành lại được đất đi rồi anh em trong nhà tính sau!!!
Xin thưa: Một người thờ ơ nhất trong toàn khối dân tộc Việt Nam, trong và ngoài nước, nếu không phải là một cán bộ cộng sản (còn u mê và còn bám víu vào chế độ để mưu cầu tư lợi cho cá nhân và gia đình mình) đều thấy: đoàn kết với kẻ cướp thì dù có lấy lại được của thì rồi của đó cũng sẽ mất sau này. Bằng chứng là sau khi Phạm Văn Đồng lén lút ký dâng hiến Hoàng Sa Trường Sa từ thập niên 50, CSVN vẫn tiếp tục bán nước, bán Ải Nam Quan, bán Thác Bản Giốc. Và còn bao nhiêu văn bản ký kết bán nước mà hiện nay người dân vẫn chưa được biết. Chẳng lẽ cứ mỗi lần một bản ký lén lút bị «xì» ra, chẳng lẽ cứ mỗi lần Trung Quốc tuyến bố lập cơ cấu hành chánh trên một giải đất mà CSVN đã bán lén lút (như trường hợp Hoàng Sa Trường Sa), thì người dân Việt Nam trong và ngoài nước lại phải rầm rộ oai oái đòi lại sao? Mà có đòi được không khí chính CSVN, đại diện cho dân, đã chính thức, nhưng lén lút người dân, đem tặng cho Trung Quốc rồi? CSVN coi thường người dân, điển hình là họ đã thờ ơ khi Trung Quốc bắn giết ngư phủ Việt Nam vì các ngư phủ này đã đánh cá trên phần biển «của Trung Quốc» mà họ không biết.
Kẻ chống những người chống CSVN (thay vì chống Trung Quốc) trong vụ Hoàng Sa Trường Sa, còn là những bàn tay nối dài của CSVN tại hải ngoại. Điển hình là những kẻ chủ trương cờ đỏ cờ vàng đề huề sánh vai nhau, hoặc là chủ trương bỏ hết cờ đi, có đi biểu tình thì chỉ đi tay không, cùng lắm là cầm các biểu ngữ chống Trung Quốc, chứ chẳng cần các biểu ngữ chống CSVN, vì sẽ lại …..gây chia rẽ!!!! Nhóm này khuyến khích đồng bào hải ngoại chỉ biểu tình trước các toà đại sứ, các tòa lãnh sự Trung Quốc, đừng đến các toà đại sứ lãnh sự CSVN, vì sẽ lại…. gây chia rẽ!!!!. Họ đang ra riết kêu gọi chống Trung Quốc, nhưng không muố n «mở mắt» cho người dân về việc toàn dân Việt Nam bị CSVN lừa dối, bởi vì, chính họ cũng chưa mở mắt để thấy cái tội tầy trời bán nước hại dân của CSVN, một cái tội trên muôn vàn tội ác của CSVN đối với người dânViệt cả hai miền Nam Bắc.
Lại nữa, khi người dân Việt chỉ chống Trung Quốc mà không chống CSVN thì kẻ hưởng lợi nhất là cũng chính là CSVN!!!
Chả gì, làm như vậy thì cái tội bán nước «được» che lấp đi. Người dân oán Trung Quốc chứ đâu có oán CSVN! Vậy thì CSVN vẫn ngang nhiên đứng vững trên ngôi cai trị đại diện cho người dân. Mọi sự thương thảo sẽ phải thực hiện với CSVN, đại diện cho người dân Việt Nam!!
Và kẻ được hưởng kế tiếp lại chính là Trung Quốc vì, khi «thương thảo» với đàn em nhu nhược, kẻ đã cho mình một cách lén lút thì sau này, chính kẻ ấy (CSVN) cũng sẽ lén lút cho tiếp những giải đất khác!!! Đó là chưa nói đến những công hàm mà CSVN đã từng ký lén lút (nhưng chính thức) mà dânViệt Nam chưa được biết.
Nhìn sắc tộc bạn, những người Assyrian, đang sống tại Úc, tại Hoa Kỳ, rải rác khắp nơi trên thế giới như những người tỵ nạn, chủ yếu từ Iraq, người Việt đang cảm thấy trùng lòng. Còn người Assyrian ở Iraq, mặc dù sống trên dải đất của cha ông, cũng không được sống như là người Assyrian. Họ hoàn toàn bị trị và cô lập. Thế hệ này qua thế hệ kia, họ phải nói tiếng Ả Rập và phải chấp nhận văn hóa Ả Rập. Họ vẫn còn duy trì nòi giống được là do tôn giáo (Assyrian Catholic - đạo Thiên Chúa giữa vùng Hồi Giáo) và bằng ngôn ngữ riêng của họ, tiếng Assyrian, mà con em họ ngày nay may ra chỉ còn nói chứ đa số không biết đọc hay viết. Người Assyrian đã không còn một đất nước, không còn một quốc gia của họ, một quốc gia đã từng mang tên Assyria, lừng danh trong Cựu Ước, một quốc gia đã bị mất vì những sự xâm chiếm của các nước chung quanh (2400BC-612BC). Ngoài ra họ còn có một lá cờ riêng, màu trắng với hai dòng sông, sông Tigris và sông Euphrate, ôm gọn dải đất của nước Assyria ngày xưa, mà nay không còn nữa. Họ đau buồn, nhưng không oán cha ông, vì nước họ bị các ngoại bang hùng mạnh xâm chiếm, tương tự như bao nhiêu nước khác trên thế giới không còn hiện hữu nữa, trong đó có nước Chàm, xưa ở vùng mà nay là miền Trung Việt Nam.
Những người Assyrian hiện nay, tỵ nạn khắp năm châu, đang mòn mỏi chờ đợi ngày mà một chính phủ tại Iraq «khoan hồng» dành cho họ một dải đất nhỏ tự trị. Từ trên 20 thế kỷ nay họ chỉ mong thế thôi, một niềm mong mỏi khá vô vọng. Trên nét mặt và tâm tư của người Assyrian hiện nay luôn phảng phất nỗi u buồn của kẻ mất nước.
Còn đối với người Việt Nam máu đỏ da vàng, than ôi, kẻ bán nước ngày nay lại chính là người cùng mang một giòng máu đỏ da vàng. Dù Trung Quốc có là kẻ luôn ôm mộng xâm chiếm xưa nay, nhưng lần này họ đã không tốn một giọt máu để có được Hoàng Sa và Trường Sa. Họ được CSVN dâng tặng mà.
Người Việt Nam còn đất nước, còn quê hương, còn tiếng nói, còn văn hóa. Tại sao lại phải nhìn từng mảnh đất bị dâng hiến cho quân Tàu? Tại sao lại phải để cho một tập đoàn bán nước tiếp tục cai trị để rồi chúng sẽ còn tiếp tục bán nước nữa?
Phải mau mắn dẹp ngay kẻ bán nước.
Cho dù chúng ta chưa thể giành ngay những dải đất đã mất, đang mất, và sẽ mất do CSVN lén lút ký tặng cho Trung Quốc, nhưng sau này, với một chính quyền hợp pháp, hợp lý, không bị áp đặt trên người dân như CSVN hiện nay, thì việc lấy lại những giải đất đã mất là một chuyện có thể thực hiện được. Quốc tế sẽ hỗ trợ, người Việt trong và ngoài nước sẽ cùng nhau lấy lại được.
Vậy thì, điều đầu tiên trong cuộc chiến Hoàng Sa Trưòng Sa là phải giành ngay chính quyền cho người dân để chính quyền này sẽ lo cho dân. Chỉ một chính quyền dân chủ pháp trị mới có thể bảo đảm rằng những tội ác bán nước, tội ác tham nhũng (lên tới bạc tỷ đô la Mỹ của các chức sắc đang cầm quyền tại VN) sẽ không còn, vì chính quyền này phải biết lo cho dân thì mới tồn tại được qua các cuộc đầu phiếu.
Lúc này hơn lúc nào hết, một cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ý để đưa đến một chính quyền cho dân, vì dân, là một điều CẤP BÁCH.
CSVN nếu muốn ra đi trong yên ổn, hãy sớm thực hiện điều này.
Ngoài 80 triệu dân Việt Nam trong nước, còn có 3 triệu dân Việt Nam hải ngoại luôn hướng về quê hương, mong ước xây dựng đất nước trong tự do dân chủ, ấm no, phú cường. Đây là một thực tế rất khả dĩ, dư sức thực hiện, một điều trong tầm tay của người dânViệt Nam trong và ngoài nước, vào thời điểm đầu thế kỷ 21 này NẾU, (MỘT CHỮ NẾU TO TƯỚNG CẦN ĐÁNH ĐỘNG LƯƠNG TÂM NGƯỜI CSVN – tin rằng vì, là con người, họ vẫn phải còn lương tâm!!!), nếu CSVN chấp nhận trao quyền điều hành đất nước cho những người khá hơn, giản dị nhất là qua một cuộc trưng cầu dân ý.
Toàn dân Việt Nam không muốn thấy con cháu lạc loài như người Assyrian hiện nay, đau đớn lắm.
Mai Ly
January 8, 2008

Niềm Kiêu Hảnh Người Việt Nam


Tôi là người thù dai.
Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt. Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình.
Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn?
Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật.
Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.
Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.
Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.
Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.
Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bỏ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.
Ðó là cách trả thù vậy.
Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.
George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam, một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.
Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết. Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.
Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.
Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công, chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.
Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.
George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.
Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.
George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa.
Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.
Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa?
Dương Nguyệt Ánh
January 15, 2008
-----------------------------------------
Anh Duong, Out Of Debt
Such are history's caroms—she was involved in the end of the Vietnam War and the beginning of the War on Terror.
By George F. Will
NEWSWEEK
Updated: 3:45 PM ET Dec 8, 2007.
History, said Emerson, is "the biography of a few stout and earnest persons." But history also is a story of unpredictable contingencies and improbable caroms, and of a 4-foot-7, 15-year-old girl's leap from a dangerously bobbing boat to a pitching South Vietnamese ship in the South China Sea. It was April 1975. The Communists were overrunning South Vietnam. At that time, Osama bin Laden was 18. The arc of his life, and Anh Duong's, would intersect.
Her leap propelled her to freedom. She grew up to be a 5-foot-1 chemist who, 26 years later, led the development of a bomb efficient at killing America's enemies in Afghanistan's caves. As a result, fewer American soldiers have had to enter those caves to engage Osama's fighters. This is Anh Duong's story.
The U.S. Navy took her and her family to Subic Bay in the Philippines. Next stop was a refugee camp in Pennsylvania. After five months this Buddhist family was adopted by the First Baptist Church in Washington, D.C. Soon Anh was in a suburban Maryland high school, headed for the University of Maryland and, eventually, degrees in chemical engineering, computer science and public administration.
"I wanted to work for the Defense Department," she says, "because I wanted to pay back the guys who protected us all those years." On September 11, 2001, she was working on Navy munitions and explosives—on, she says, "things that go swish and boom." Rockets go "swish." What they carry goes "boom." Soon after 9/11 it was apparent that U.S. forces would be fighting in Afghanistan, where the enemy often would be sheltered in the deep recesses of caves, reached after many twists and turns.
Sending U.S. forces into those caves would involve a terrible butcher's bill that might be avoided if a new munition could be developed—a new thermobaric (traveling blast and heat) bomb. At lunch at the Ritz-Carlton hotel near the Pentagon, as she delicately eats a hamburger with a knife and fork, she explains that normal bombs do their work by delivering fragments (to punch through things) and blast (to collapse things). But delivered by an F-15 to the mouth of a cave, a normal bomb's blast and fragmentation dissipate too quickly to reach deep into the cave and kill those hiding there. The task for her and her team was a challenge of detonation chemistry. They had to "deliver energy more slowly—we want the energy to last longer and travel."
The three-year plan for demonstrating a prototype thermo-baric bomb was scrapped, and Anh and her team set about confirming the axiom that America is like a boiler—there is no telling how much energy it will produce once you light a fire under it. "I did not need to motivate my team," she says. Osama had done that. In 67 days their three-year mission was accomplished. BLU-118/B, a thermobaric bomb whose heat and blast persist and penetrate deep into caves, went to war.
Her current mission derives from the peculiar nature of the war against terrorists, in which the first difficult question is, she says, "Who am I aiming the weapon at?" This has become, in Iraq, a matter of high-stakes forensics using a huge biometric database. Whose fingerprints are those on that fragment of an improvised explosive device? She is devising portable labs to answer such questions in Iraq.
Anh is hardly a thermobaric person, a weaponized woman. The Washington Post reports that while she was working on the new bomb, her children, then 5 to 11, were not allowed to play with toy guns or read Harry Potter books, which the parents deemed too violent. Their parents even excised the fight scenes from their Disney "Pocahontas" video.
The trajectory of Anh's life, which has taken her from one of America's wars to another, might eventually involve another generation of her family. The oldest of her four children, a 17-year-old daughter, is considering a career in—this apple did not fall far from the tree—homeland security or international affairs.
This autumn, Anh was among a select few federal workers honored with Service to America Medals by the Partnership for Public Service, which recognizes especially meritorious achievements. In front of a large audience at a black-tie dinner she strode to the microphone and, speaking without notes, began: "Thirty-two years ago I came to this land as a refugee of war with a pair of empty hands and a bag full of broken dreams." Describing America as "this paradise," she said:
"This land is a paradise not because of its beauty or richness but because of its people, the compassionate, generous Americans who took my family and me in, 32 years ago, and healed our souls, who restore my faith in humanity, and who inspire me to public service.
There's a special group of people that I'm especially indebted to and I would like to dedicate this medal to them. They are the 58,000 Americans whose names are on the wall of the Vietnam War Memorial and the 260,000 South Vietnamese soldiers who died in that war in order for people like me to earn a second chance to freedom.
May God bless all of those who are willing to die for freedom—especially those who are willing to die for the freedom of others. Thank you."
And thank you, Anh Duong.
Consider your debt paid in full, with interest.


Việt Nam cần làm gì để sống còn trước hiểm hoạ ngoại xâm?

Sự kiện Trung Quốc áp đặt chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang khiến người Việt cả trong lẫn ngoài nước căm phẫn. Ngoài phản ứng tương tự như đồng bào quốc nội là xuống đường chống đối hành vi của Bắc Kinh, nhiều người Việt hải ngoại còn đưa ra một số ý kiến về việc Việt Nam cần làm gì trong bối cảnh hiện tại. Nhã Trân trao đổi với một vài kiều bào để biết các quan điểm này.
Bên cạnh nỗi bất bình, nổi lên từ nhiều tuần nay trước sự kiện Bắc Kinh có ý giành chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhiều kiều bào lên tiếng rằng Việt Nam cần cấp bách thay đổi hầu thoát khỏi bối cảnh hiện nay, là phải đối đầu với thế lực đến từ Phương Bắc.
Với quan điểm là Việt Nam cần phải củng cố sức mạnh để có thể đương đầu với áp lực đó, nhiều người hải ngoại dù thuộc các giới khác nhau, đều nói chính quyền Hà Nội cần thực hiện một số chính sách hầu cải thiện tình hình đất nước.
Hiện đại hoá, Kỹ nghệ hoá để giữ nước
Tiến sĩ Anthony Sơn, định cư ở Hoa Kỳ đã hơn 30 năm, làm việc trong ngành hàng không ở Tieu Bang Seattle và luôn theo dõi tình hình phát triển của Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần thay đổi trong nhiều lãnh vực.
Ông cũng giải thích vì sao hiện đại hoá, kỹ nghệ hoá cần thiết cho xã hội Việt Nam thời điểm này và nêu ra những điều cần thực hiện để đạt mục tiêu đó:
"Việt Nam cần phải thay đổi về mọi mặt, như là ngành giáo dục, ngành xây dựng, hành chính và cảnh sát, công an, v.v... vì sự phát triển của một đất nước cần phải có sự liên kết và phát triển của mọi ngành. Tôi thấy Bộ Giáo Dục cần phải thay đổi nhiều để đưa ngành giáo dục Việt Nam lên kịp với các nước phát triển trên thế giới, thứ nhất là chương trình dạy học của Việt Nam cần phải chú trọng nhiều đến những môn khoa học, kỹ thuật, toán, vật lý và hoá học.
Tôi không muốn nói là những mnôn học khác không cần, nhưng mà bây giờ Việt Nam đang còn nghèo, chúng ta cần phải đầu tư vào những môn học thật cần thiết cho công cuộc xây dựng của Việt Nam. Những môn khoa học và kỹ thuật sẽ giúp sinh viên và học sinh có nhiều kiến thức để phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá, xây cầu cống, nhà cửa, máy móc, dụng cụ - thiết bị cần thiết cho đời sống của chúng ta, chế tạo vũ khí để bảo vệ tổ quốc và đất đai của Việt Nam.
Thứ nhất là Việt Nam nghèo, nếu mà mua thì sẽ tốn kém nhiều ngân quỹ hơn, thứ hai là chế tạo vũ khí thì sẽ giúp Việt Nam dẩy đựoc cái kỹ thuật lên cao hơn và do đó sẽ đưa Việt Nam đến hiện đại hoá và kỹ nghệ hoá mau hơn.
Tiếp theo tôi nghĩ là chính phủ Việt Nam cần phải có kế hoạch vĩ mô khi đưa du học sinh ra nước ngoài; điều nào cần thiết cho công cuộc xây dựng Việt Nam và bao nhiêu học sinh nên học ngành đó. Trước mắt dĩ nhiên là ngành điện, cơ khí, phần mềm, y học, v.v...
Nếu không có sự điều khiển này thì du học sinh dĩ nhiên sẽ chọn những ngành dễ để học rồi sau đó về nước thì không có đúng kiến thức để giúp đỡ đất nước. Tiếp theo chính phủ Việt Nam cần cho Việt kiều nhiều cơ hội để có thể giúp đỡ nhiều về khâu này như truyền đạt kỹ thuật và cách thức làm việc. Dĩ nhiên là muốn có tiền đầu tư thì chính phủ Việt Nam cần phải bài trừ tham nhũng và lãng phí ở mọi ngành.”
Tạo lập một xã hội vững vàng dựa vào quần chúng
Trong khi nhà chuyên gia kỹ thuật nhấn mạnh rằng hiện đại hoá và kỹ nghệ hoá là các điều quan trọng để đưa quốc gia đến chỗ hùng cường, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, một chuyên gia kinh tế đặt trọng tâm vào lãnh vực cải thiện xã hội
Tiến sĩ Nguyễn Hải Bình, cựu Khoa Trưởng - Phân Khoa Kinh Thương - Đại Học Minh Đức Sài Gòn và hiện là Giáo sư Trưởng Khoa Doanh Thương Đại Học Champlain ở Canada, từ Bang Sherbrook của Canada, nói một trong các yếu tố để đất nước tiến tới phú cường, hầu có đủ sức mạnh để tồn tại trong hoàn cảnh đương thời, là tạo lập một xã hội vững vàng trong đó an sinh, phúc lợi của quần chúng được bảo đảm:
"Trên phương diện để làm sao một quốc gia trở nên phú cường thì tôi nhìn thấy nó có những yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, mà là một chuyên viên kinh tế thì tôi sẽ chỉ nói trên khía cạnh kinh tế - xã hội. Cứu cánh của một quốc gia phú cường, theo tôi, nó là phương diện an sinh phúc lợi cho người dân.
Trong hoàn cảnh lúc này thì tôi nhận thấy có 3 yếu tố, tôi xin đặt vấn đề giáo dục trước. Trong hiện tình kinh tế ở bên nhà bây giờ có những sự phát triển về các cơ sở hạ tầng bằng các đầu tư của ngoại quốc; tất cả những cái đó nó đòi hỏi những kiến thức mới với việc đào tạo lớp trẻ, giáo dục lớp trẻ để có thể cung ứng đủ nhân lực chuyên môn, đáp ứng cho những nhu cầu phát triển hạ tầng cũng như là nhu cầu đầu tư, nhất là trên các phương diện quản trị kinh tế, quản trị tài chánh, quản trị doanh thương, tin học và kỹ thuật.
Để có thể đào tạo lớp trẻ mới như vậy cần phải đào tạo những bậc thầy để hướng dẫn, làm sao các giáo sư có thể có những cơ hội nhận thức được tất cả những kiến thức tân tiến trên thế giới để áp dụng trong vấn đề giảng dạy tại quốc nội.
Thứ nhì là trên phương diện xã hội, sự cách biệt giữa người giàu và người nghèo, làm sao những công nhân ở bên nhà bây giờ có thể có được đồng lương tối thiểu quy dịnh, có được bảo hiểm thất nghiệp, tôi nghĩ cần phải có những luật lệ để, ngoài cái lương bổng, người công nhân có những lợi ích khác, thí dụ như bảo hiểm sức khoẻ, hưu bổng.
Trên phương diện kinh tế thì bây giờ nếu chúng ta áp dụng đường lối kinh tế thị trường thì tất cả khía cạnh, từ luật pháp cho đến các điều lệ, cho đến thể thức hành chánh phải làm sao theo đúng mô thức của kinh tế thị trường. Luật pháp phải được thực thi, áp dụng mạnh mẽ để thay cho quan niệm phép vua thua lệ làng.
Tôi xin nhắc lại một lần nữa, tôi nhấn mạnh trên 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội, giáo dục.”
Vào lúc hai chuyên gia Việt kiều, một về kỹ thuật và một về kinh tế, quan tâm nhiều đến các cải cách về giáo dục, kinh tế và xã hội, một kiều bào khác đặc biệt chú trọng đến vấn đề dân chủ, tự do cho công dân và vấn đề quản trị guồng máy chính quyền.
Tiêu biểu cho suy nghĩ của rất nhiều người Việt nước ngoài hiện nay, rằng dân chủ và đa nguyên là điều không thể thiếu nếu muốn nước nhà sớm cường thịnh, ông Thái Hiến, phục vụ trong ngành truyền thông ở bang California, lý giải:
"Trước tiên là Việt Nam phải có tự do dân chủ và nhân quyền, đó là một điều căn bản để cho đất nước đi lên, và sau đó phải có đa nguyên đa đảng để cho người dân trong nước và hải ngoại có cơ hội đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước, thì lúc đó đât nước mới có thể thoát khỏi sự chèn ép của Trung Quốc. Điều này rất quan trọng, từ đó nó mới đưa đến việc đào tạo những thành phần trẻ trung và có cơ hội đóng góp phát triển đất nước."
Cùng nhau canh tân đất nước, đương đầu với ngoại xâm
Theo dư luận hải ngoại, như vừa trình bày, Việt Nam cần canh tân chính sách giáo dục để có thể đáp ứng các cải cách cần thiết như hiện đại hoá, kỹ nghệ hoá đất nước hoặc đáp ứng các yêu cầu về kinh tế và xã hội. Ngoài ra dân chủ, tự do và đa nguyên cũng là những điều thiết yếu.
Tiến sĩ Anthony Sơn, chuyên gia kỹ thuật ở Seattle còn nhắc rằng để cuộc cải cách thành công hầu đưa quốc gia đến cường thịnh, con dân nước Việt cần đoàn kết chặt chẽ và kiều bào cần được tạo điều kiện để có thể góp phần hữu hiệu trong việc xây dựng quê hương:
"Có nhiều cách để làm lắm, nhưng tôi nghĩ trước hết là chúng hãy tránh phê bình và chỉ trích lẫn nhau vì nếu làm như vậy sẽ không đi dến đâu cả. Chúng ta hãy ngồi lại với nhau, Việt kiều, dân Việt Nam trong nước, và nhất là các nhà lãnh đạo Việt Nam trong tinh thần xây dựng để bàn luận tìm ra những giải pháp tốt nhất để thay đổi nhằm đưa Việt Nam tiến đến hiện đại hoá và kỹ nghệ hoá.
Để khỏi tốn thì giờ của nhau, trước hết tôi nghĩ rằng chình phủ Việt Nam phải thực sự muốn thay đổi chứ không phải chỉ bày ra ban việt kiều này, ban việt kiều nọ để dụ dổ chất xám và chất xanh của Việt kiều.
Muốn chứng minh được tấm lòng thực sự muốn thay đổi, chính phủ Việt Nam cần phải để Việt kiều có tiếng nói trong công cuộc xây dựng đất nước, mời nhiều thành phần Việt kiều khác nhau, hơn nữa, phải mời Việt kiều thật sự có tài.
Chính phủ Việt Nam cần có một chính sách thật sự muốn giúp đỡ Việt kiều về xây dựng đất nước. Việt kiều không phải trực tiếp về sống ở Việt Nam để giúp Việt Nam trong công cuộc hiện đại hoá và kỹ nghệ hoá đâu. Bây giờ là thời buổi hiện đại rồi, chúng ta có thể làm việc với nhau bằng e-mail, điện thoại và video-cell phone.
Như chúng ta đã thấy trường hợp gần nhất là Trung Quốc đã xâm lăng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu bây giờ chúng ta không thay đổi để phát triển nhanh chóng để tự bảo vệ lấy mình thì tôi nghĩ là trong tương lai có thể Việt Nam sẽ phai nhạt dần trên bản đồ thế giới.”
Với cái nhìn rằng quốc gia đang đối mặt với hiểm hoạ ngoại xâm, nhiều người Việt hải ngoại hiện tha thiết cầu mong quê hương sớm có những cải cách hầu đủ sức vượt qua các thử thách trong thời gian này cũng như thời gian tới.
2008.01.16
Nhã Trân, phóng viên đài RFA

“Chúng ta hãy ngồi lại với nhau, Việt kiều, dân Việt Nam trong nước, và nhất là các nhà lãnh đạo Việt Nam trong tinh thần xây dựng để bàn luận tìm ra những giải pháp tốt nhất để thay đổi nhằm đưa Việt Nam tiến đến hiện đại hoá và kỹ nghệ hoá. Chình phủ Việt Nam phải thực sự muốn thay đổi chứ không phải chỉ bày ra ban việt kiều này, ban việt kiều nọ để dụ dổ chất xám và chất xanh của Việt kiều.”

“Những môn khoa học và kỹ thuật sẽ giúp sinh viên và học sinh có nhiều kiến thức để phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá, xây cầu cống, nhà cửa, máy móc, dụng cụ - thiết bị cần thiết cho đời sống của chúng ta, chế tạo vũ khí để bảo vệ tổ quốc và đất đai của Việt Nam.”

Tiến sĩ Anthony Sơn, Hoa Kỳ.

Phải Chăng Biển Ðông Lại Nổi Sóng?

Lời giới thiệu: Nhân dịp nhà cầm quyền Trung cộng cho thành lập Khu Hành Chánh để quản lý khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Biển Ðông, hiện là một vùng tranh chấp của nhiều nước tại Ðông Nam Á, đương quyền Hà Nội vì thế đã ngấm ngầm xúi giục sinh viên & học sinh tại các thành phố Hà Nội và Sài Gòn biểu tình chống lại thái độ ngang ngược của Bắc Kinh. Trong lúc chờ đợi để rõ biết thêm về nguyên nhân, động cơ và những bàn tay đứng sau các cuộc biểu tình chống Trung cộng ngày Chủ nhật 9-12-07 vừa qua, chúng tôi xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết về quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa của tác giả Phùng ngọc Sa được đăng tải dưới đây.
*****
Theo tin đài BBC phát thanh ngày 20-7-07 đưa tin cho biết, vào ngày 9 tháng 7 năm 2007, Lực Lượng Hải quân Trung cộng (TC) đã bắn xối xả vào thuyền đánh cá Việt Nam khiến một ngư phủ bị giết, nhiều người khác bị thương và một thuyền đánh cá bị đánh chìm. Ðài BBC còn ghi nhận, sự kiện nầy xảy ra chỉ 300 km cách bờ biển Việt Nam và lúc đó có sự hiện diện của Hải quân CSVN, nhưng phía Việt Nam vì thấy hỏa lực của TC quá mạnh nên không dám can thiệp giúp dân đánh cá người Việt thoát nạn. Ngoài ra, BBC còn cho biết, đây là lần thứ 2 tiếp liền trong 3 tháng của năm 2007, Hải quân Trung cộng đã bắn phá và càn quét, đuổi các tàu thuyền Việt Nam trong khu vực mà Bắc Kinh nói thuộc chủ quyền của họ, nhưng nhà cầm quyền Hà Nội đã giấu dẹm sự kiện không dám lên tiếng, hoặc công khai tố cáo thái độ côn đồ của TC trước dư luận quốc tế.
Bất bình trước thái độ hung hãn của TC, giáo sư Carl Thayler, chuyên viên thuộc Quốc phòng Úc nói: CSVN không chịu công khai lên tiếng nói rõ việc TC giết ngư dân Việt Nam là một cách hành xử không hợp lý. Riêng về phía TC ông nói, thực ra nhà cầm quyền Bắc Kinh chỉ cần bắt giữ những người đánh cá Việt Nam xâm phạm hải phận của họ trái phép (?) là đủ. Sau đó sẽ đem xét xử cần gì phải gây cảnh đổ máu.
Phải chăng hành động thô bạo của Bắc Kinh vừa qua là một dấu hiệu dùng để cảnh cáo và cấm chỉ Việt Nam, là “tuyệt đối” không được bén mảng đến quần đảo Nam Sa, tức là quần đào Trường Sa của Việt Nam mà TC nhận bừa là của họ. Và cũng vì ảnh hưởng do những hành động hung bạo đó của Trung-Nam-Hải khiến:
- Hãng BP (British Petrolium) của Anh quốc đã ngưng tiến hành việc thăm dò dầu khí tại vùng phía Nam đảo Côn Sơn và chuyển qua một phương án khác vì lý doTC hăm dọa.
- Trong ngày 14-06-07, ông David Nicolas đại diện hàng British Petrolium đã thông báo, BP sẽ huỷ bỏ dự án khai thác “Lô 52”, tức là lô dầu khí thuộc phía Nam quần đảo Trường Sa, phía ngoài khơi Bạc Liêu vì áp lực của Bắc Kinh.
Hành động ngang ngược của Trung Hoa xung quanh việc tranh dành chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa TC-VN không phải lần đầu xảy ra mà đã từng âm ỷ từ lâu; cụ thể là trước đây vào cuối tháng 3 năm 2004, công ty du lịch Hà Nội, Việt Nam đã rầm rộ quảng cáo về một chuyến du lịch đến quần đào Trường Sa vào trung tuần tháng 4-2004, dành cho 100 du khách thăm viếng các hải đảo trong quần đảo Trường Sa nơi có “Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam” trấn đóng thì TC đã tỏ thái độ giận dữ, tố cáo Việt Nam đã vi phạm các điều khoản mà 10 nước trong khu vực đã đồng thuận với nhau.
Cùng thời gian đó, hãng Reuter từ Bắc Kinh đánh điện đi cho biết, cộng sản Trung Hoa chính thức tuyên bố chủ quyền của họ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam ở Biển Ðông mà người Tàu gọi là Tây Sa và Nam Sa và hách dịch xác định: “đó là một điều chắc chắn không cần phải bàn cãi nữa”. Ngoài ra, TC còn ngang ngược đơn phương ra lệnh cấm các tàu thuyền đánh cá của các nước Ðông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam không được bén mảng quanh khu vực các quần đảo nói trên để đánh cá.
Trước thái độ trịch thượng và ngang ngược nầy của các “chú con trời” ở Trung-Nam-Hải, nhà cầm quyền Hà Nội đành phải bóp bụng cay đắng là hoảng: “Việt Nam có đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để chứng minh chủ quyền về lãnh thổ của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa mà Trung Quốc đã nhận bừa là của họ.” Hà Nội còn cho biết: “Bất cứ mọi hành động liên quan đến hai quần đảo nói trên mà chưa có sự đồng ý của Việt Nam là một vi phạm đến chủ quyền của Việt Nam trong khu vực.”
Không phải đây là lần đầu tiên TC mới áp dụng chủ nghĩa Chauvin nước lớn để chèn ép Việt Nam. Trước đó vào tháng 6 năm 1994, họ đã chuẩn bị dư luận bằng cách phái một số cán bộ được gọi là học giả đến Ðài Loan họp với một số học giả nơi đây để cùng nhau đưa ra lời tuyên bố xác nhận: Trung Quốc có chủ quyền lịch sử trên các vùng tranh chấp ở Tây Sa & Nam Sa (tức là Hoàng Sa & Trường Sa).
Lời công bố trên, quả thật là một âm mưu bất chánh của cái được gọi là giới trí thức của cả hai phía cộng sản cũng như quốc gia Trung Hoa. Ðây là một hành động chứa đầy âm mưu quỷ kế nặng trĩu đầu óc bá quyền và tư tưởng Ðại Hán của kẻ thù phương Bắc. Việc làm của họ mỗi ngày một thể hiện rõ mục đích là gây ngộ nhận ở hiện tại và tương lai đối với chủ quyền thực sự của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa mà TC gọi là Tây Sa và Nam Sa.
Phản ứng của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội lúc bấy giờ mới nghe xem có vẻ quyết liệt, song thực chất bên trong tràn đầy âu lo và sợ hãi trước thái độ lấn lướt càng ngày càng thô bạo của TC. Ngoài ra, CSVN lại còn bị thế mở miệng mắc quai. Trước đây do sự phản bội quốc gia dân tộc và để lấy lòng quan thầy TC, Hà Nội đã tán tận lương tâm công khai xác nhận chủ quyền và lãnh thổ hai quần đảo nói trên là của TC. Bằng chứng, trong một công hàm ngoại giao đề ngày 14 tháng 9 năm 1958 gởi cho Tổng Lý Quốc Vụ Viện TC Chu An Lai được đăng trong báo Nhân Dân số 1653 ra ngày 22 tháng 9 năm 1958, Phạm Văn Ðồng Thủ Tướng của cái được gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã công khai nhìn nhận bản công bố của TC ngày 4 tháng 9 năm 1958 xác định: “Lãnh thổ và lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa rộng 12 hải lý bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa mà trên bản đồ thế giới của Trung Hoa được ghi là Tây Sa và Nam Sa.”
(Ghi chú: từ thế kỷ 15 đến thời Pháp thuộc, tiền nhân Việt Nam vẫn gọi các hải đảo ngoài khơi là Bãi Cát Vàng Hoàng Sa và Bãi Cát Dài hay Trường Sa).
Ðể chứng minh và cụ thể lòng trung thành của mình đối với quan thầy TC, CSVN đã có một hành động vô liêm sĩ: trong thời gian TC gây hấn cưởng chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng 2 trận hải chiến với Hải Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 19 và 20 tháng giêng năm 1974, cộng sản Hà Nội đã không có một thái độ hay một lời phản đối nào về hành động xâm lăng nầy của TC. Trái lại, họ còn thản nhiên và hoan hỷ đón tiếp phái đoàn bóng bàn TC đến viếng thăm Hà Nội một cách long trọng. Trước sự mất mát quá lớn lao nầy, giáo sư Hoàng Xuân Hản trong bài viết “Ðúng ba trăm năm về trước” ông nói: “Hoàng Sa bị cưởng chiếm là triệu chứng cụ thể của những sự thiệt hại gây nên bởi những sự bất hòa giữa nhân dân ta. Hoàng Sa là đất của Việt Nam, là đất của một Việt Nam thống nhất. Khi đất nước còn tạm chia đôi thì khó lòng điều đình để Hoàng Sa trở lại với đất nước. Tuy rằng nhiều chứng cớ xưa nay, trong cũng như ngoài đều xác định các quần đảo đó thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Vậy những chứng tích lịch sử mà giáo sư Hoàng Xuân Hản muốn nói, và các bằng chứng pháp lý mà Hà Nội dự định đưa ra là những điều gì?
Những điều nêu trên, nếu không muốn nói đó chính là điều mà những người CSVN trước đây vì không muốn làm mất lòng quan thầy nên đã cam tâm từ chối chủ quyền của mình. Song, sau khi đã thống nhất được hai miền Bắc Nam, họ thấy quá đắc tội với tiền nhân và thấy hổ thẹn với đồng bào; hơn nữa họ đã một phần nào mở mắt thấy rõ được vị trí chiến lược vô cùng quan trọng cùng với tài nguyên vô cùng phong phú tại các vùng lãnh hải nói trên, nên buộc chúng phải sử dụng luận cứ vững chắc, các tài liệu và bằng chứng mà chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước kia để đòi lại chủ quyền của hai quần đảo. Dưới đây là những tài liệu và các chứng tích lịch sử mà trước đây Việt Nam Cộng Hòa đã sử dụng:
Quần đảo Hoàng Sa - Dựa theo Hồng Ðức Bản Ðồ dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1460-1479), ông Ðỗ Bá tự Ðào Phủ đã biên soạn trong sách Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ được phổ biến vào năm 1630, mô tả về “một bãi cát vàng” dài ước chừng 400 dặm, ngang 20 dặm, chạy dài từ cửa Ðại Chiêm đến cửa Sa Vinh (Sa Huỳnh?) thuộc tỉnh Quảng Ngãi và cách bờ biển khoảng 135 hải lý. Bãi cát vàng đây được xác định là quần đảo Hoàng Sa. Ngoài những ghi nhận trên, trong quyển Hoàng Việt Ðịa Dư Chí của ông Phan Huy Chú, quyển 6 của bộ Ðại Nam Nhất Thống Chí, quyển Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu, Ðại Nam Thực Lục Chính Biên, Ðại Nam Hội Ðiều Sự Lệ của Quốc Sử Quán nhà Nguyễn, Phủ Biên Tạp Lục của ông Lê Quý Ðôn, tất cả tài liệu nầy có ghi đấy đủ tất cả dữ kiện liên quan đến Hoàng Sa.
Dưới triều đại các vua nhà Gia Long, Minh Mạng triều đình ta đều cử các quan trông coi, đo đạt cũng như đã dựng miếu trên đảo. Dưới thời Pháp thuộc đã có nhiều cơ quan hành chánh cũng như khí tượng được thành lập. Nha Thương Chánh đã được thành lập từ năm 1920 (Service des Douanes) thường tổ chức những cuộc tuần thám xung quanh đảo để đề phòng nạn buôn lậu. Năm 1925, Hải Học Viện Nha Trang cũng đã cử một nhóm bác học và chuyên viên ra đảo để nghiên cứu. Người Pháp đã có nhiều công trình khí tượng trên đảo, đến năm 1932 thì Pháp đã thiết lập cơ sở Ðại Lý Hành Chánh (Délégátion Administratives des Paracels). Do Dụ số l0 ngày 20 tháng 3 năm 1933, Bảo Ðại năm thứ 13, quần đảo được đặt trực thuộc tỉnh Thừa Thiên. Một đơn vị QLVNCH cũng được chỉ định thường trú cho đến khi bị TC cưởng chiếm năm 1973.
Không những chỉ có chứng tích lịch sử trong nước, mà ngay cả các tài liệu và chứng minh của ngoại quốc cũng đã xác nhận là Hoàng Sa thuộc Việt Nam. Tài liệu hàng hải của Hòa lan đã ghi rõ, dưới thời chú Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) một đoàn tàu của Hòa Lan gồm có 3 chiếc là Veehulzen, Schagen, và Grootebroek (Journal de Batavia ấn hành năm 1631-1634-1636) của công ty Ðông Aán thuộc Hòa Lan đã hải hành từ Batavia đến Tourane (Ðà Nẳng hiện nay) rồi nhổ neo tiến về hướng đảo Formosa (Ðài Loan). Trên hải trình vào ngày 21-7-1634 thì gặp bảo. Hai chiếc kia chạy thoát được đến Formosa. Riêng chiếc Brootebroek lại bị bão đánh chìm gần đảo Paracels (Hoàng Sa) ngay tại Vỉ tuyến thứ 17 Việt Nam. Thuyền trưởng Huijch Jansen và một số thủy thủ phải dùng thuyền nhỏ đến duyên hải thuộc xừ Ðàng Trong của Chúa Nguyễn với hy vọng mua được thuyền lớn để cứu vớt những thủy thủ còn bị kẹt trên đảo Hoàng Sa. Họ có mang theo 5 thùng bạc và 3570 réaux chứa đựng trong l7 hòm. Nhưng chẳng may khi đến đất liền, họ không những không được giúp đở như mong muốn, trái lại còn bị viên chức đặc trách hải môn tịch thu tất cả tiền bạc mà bọn họ mang theo. Sau khi bình an trở về Batavia, thuyền trưởng Huijch của chiếc Brootehoek đã báo cáo tự sự tất cả tự sự với chính quyền của ông. Hai năm sau, vào ngày 16 tháng 3 nam 1936, thương gia Hòa Lan tên Abraham Dutjeker tìm đến Faifoo tức là Hội An ngày nay, rồi từ đó ra Thuận An Huế xin yết kiến Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (lên nối ngôi cha là Nguyễn Phúc Nguyên) để xin giao thương, đặt thương đếm, đồng thời xin Chúa Nguyễn trả lại số tiền mà trước đây đã bị trịch thu. Chúa Thượng đã tiếp kiến Dutjeker rất trọng hậu, nhưng cho rằng sự việc đã xảy ra từ đời vua cha, hơn nữa viên chức hành chánh xử vụ tịch thu về sau bị mang tội tham nhũng 34.000 lượng bạc nên đã bị xử trảm nên chẳng còn chứng tích. Ðể đền bù thiệt hại của người Hòa Lan, Chúa đã chấp thuận cho giao thương buôn báo và chính Abraham Dutjeker về sau làm trưởng điếm.
Về tài liệu của người Pháp lại còn đầy đủ chi tiết hơn. Trong quyền Mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptist Chaigneau (1769-1852) và trong quyển Univers, Histoire et Description de tous les peuples, xuất bảo vào năm 1833 ở đoạn nói về đảo Paracels mà người Việt gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm nhiều đảo san hô chằng chịt thuộc xứ Ðàng Trong cai quản. Hoàng Ðế Gia Long đã thân chinh vượt biển tiếp thu quần đảo vào năm 1816, chính ngài đã long trọng thượng cờ tại đó.
Quần đảo Trường Sa - Trường Sa mà TC gọi là Nam Sa (Namsha). Họ chỉ mập mờ nói đến một số đảo (33 hòn đảo nhỏ?) nằm cách xa Hoàng Sa khoảng 631km về phía Nam và cách bờ biển Phước Tuy-BàRịa 500 kilomét. Những đảo này do san hô tạo thành và có vị thế chiến lược vô cùng quan trọng trên đường hải hành từ Trung Hoa đến Nam Dương và bán Ðảo Mã Lai. Trong quyển Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ cũng đã ghi rõ dưới thời Chúa Nguyễn, có đội chuyên đi thám sát và thu nhặt hải sản như ba ba, đồi mồi; hải sâm, dồn ngư (cá heo) trong quần đảo Trường Sa cho chính quyền chúa Nguyễn. Những công nhân nầy được miễn đóng thuế thân và các thứ thuế khác.
Năm 1927, tàu DeLanessan của Pháp đã tới khảo sát Hoàng Sa và Trường Sa. Ðến năm 1930, chính quyền Pháp tại Ðông Dương đã chính thức cắm cờ trên đảo và đến năm 1933 Pháp lại phái 3 chiếc tàu mang tên Alert, Astrobal, và De Lanessan đến từng đảo một trong quần đảo Spratley tức là Trường Sa để cắm cờ. Việc thu nhận các đảo Amboya Cay tức An Bang, Spratly (Trường Sa ), Itu Aba(BaBình), Thị Tứ, Loại Ta thì đã có thông cáo chính thức được đăng trên công báo Ðông Dương tức là Journal Officiel de L’Indochine ngày 25 tháng 9 năm 1933 ở trang 7784.
Do Nghị Ðịnh của Phủ toàn Quyền Ðông Dương ký vào ngày 21-7-1933 quần đảo Trường Sa được sát nhập vào tỉnh Bà Rịa (Thời Ðệ I và Ðệ II Cộng Hòa được đổi tên là tỉnh Phước Tuy)
Trước thế chiến thứ II bùng nổ, vào ngày 30-3-1939, chính phủ Nhật Bản đơn phương tuyên bố quần đảo Trường Sa được đặt dưới quyền kiểm soát của Ðế quốc Nhật Bản và được đổi tên la Shinnan Guto. Chính quyền thuộc địa Pháp qua đại sứ Pháp ở Tokyo đã chính thức phản đối hành động của Nhật. Tuy nhiên sau khi Nhật đầu hàng đồng minh thì chủ quyền mà họ xác nhận phải mất. Các chính quyền Việt Nam liên tiếp đã có nhiều quyết định liên quan đến quần đảo Trường Sa.Vào năm 1973, một đơn vị thuộc QLVNCH đã đến trú đóng và kiểm soát trên các đảo Nam Yết (Namyít), Sinh Tồn (Sincow), Loại Ta và Trường Sa (Spratley), Song Tử Tây (Soutwest Cay) và An Bang (Amboya Cay). Chính người viết bài nầy đã có dịp tháp tùng phái đoàn Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đến viếng thăm các đơn vị đồn trú ngoài hải đảo nói trên, và được tận mắt trông thấy những công sự của quân đội Nhật bỏ lại; những hàng dừa và hàng đàn chim biển đông đúc với các bãi trứng ngút ngàn trên các đảo.
Về vấn đề chủ quyền, tục dao La Mã đã có câu: Res nullius, res vilis (của vô chủ, ai thủ đắc trước nhất sẽ được làm chủ. Việt Nam đã nhìn nhận các đảo nầy vào thế kỷ thứ XV). Công Pháp Quốc Tế về lãnh hải ấn định: đảo nào gần quốc gia nào nhất, thì thuộc quyền sở hữu của quốc gia đó (hai quần đảo nầy quá gần Việt Nam. Trường Sa ở phía Ðông Phan Thiết chỉ có 280 hải lý, trong khi đó lại cách Hải Nam của TC đến 580 hải lý và Ðài Loan tới 900 hải lý). Riêng về thềm lục địa, hội nghị quốc tế Stocklom đã định nghĩa một cách rõ rệt như sau: “Thềm lục địa là phần nằm dưới mặt nước biển, nối từ bờ biển của một quốc gia và trải dài cho lúc có độ sâu 200 fathom (mỗi đơn vị fathom = lmét820) Về địa chất học, hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa có thềm lục địa nối liền bờ biển Việt Nam mà không một điểm nào có độ sâu quá mức theo quốc tế công pháp quy định.
Ngoài những chứng tích nói trên, trong hội nghị quốc tế nhóm tại San Francisco năm 1951, toàn thể các nước tham dự đều xác nhận Hoàng Sa&Trường Sa hoàn toàn thuộc về chủ quyền Việt Nam. Trưởng phái đoàn Việt Nam lúc bấy giờ là Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã phát biểu. Ông nói: “Và cũng vì thành thật muốn lợi dụng mọi cơ hội ngõ hầu dập tắt những mầm mống tranh chấp về sau, chúng tôi tuyên bố xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Hoàng Sa &Trường Sa, tự lâu đời những nơi đó vốn thuộc lảnh thổ Việt Nam chúng tôi.” Nguyên văn tiếng Pháp: “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde. Nous affirmons nos droits sur les iles Spratley et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Việt Nam.”
Hội nghị quốc tế Genève để chấm dứt chiến tranh Ðông Dương ngày 21 tháng 7 năm 1954 cũng đã có một tuyên cáo, trong đó nhấn mạnh: Trong việc liên hệ giữa các nước Việt Nam, Lào và Cao Mên, những quốc gia hội viên tham dự hội nghị nầy cam kết tôn trọng chủ quyền, nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước kể trên, và không can thiệp vào nội bộ của các nước đó). (In their relations with Cambodia, Laos, and Việt Nam, each member of the Geneva Conference undertakes to respect the sovereignty, independence, unity and territorial intergraty of the above mentioned States and to refrain from interference in their internal affairs.) Tuyên cáo chung là vậy, thế mà TC không những chính là một thành viên, mà họ còn đóng một vai trò quan trọng lại có tính cách quyết định trong hội nghị quốc tế nầy. Ấy thế mà ngày nay họ lại trắng trợn vi phạm vào một hiệp ước quốc tế mà họ đã ký và cam kết thi hành.
Qua tin tức tổng hợp, mọi người đều rõ việc tranh chấp để dành chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa &Trường Sa từ mấy thập niên qua mỗi ngày một trở nên trầm trọng và quyết liệt, không những bằng lời lẽ ngoại giao, tại bàn hội nghị, mà ngay cả đến việc áp dụng biện pháp quân sự như Phi Luật Tân đã cho Không Lực đánh trả việc chiếm đóng của TC tại phần đảo của Phi vào tháng 3 năm 1995. Trường hợp Việt Nam, một nước ở vị trí tuyến đầu, mức độ tranh chấp lại càng át liệt hơn. Dầu đã có bằng chứng pháp lý rõ ràng là các đảo đó thuộc chủ quyền Việt Nam. Song TC cứ nhận bừa là của họ. Ðã biết bao lần đôi bên trực tiếp đụng độ, và bấy nhiêu lần cả hai đều bị thương vong rất nặng. Tình hình tuy có căng thẳng, song còn giữ thái độ hòa hoãn, vừa đánh lại vừa đàm. Nay, bổng nhiên họ lại giở giọng trịch thượng, nóng giận và nói: “Hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa là thuộc lãnh thổ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và đây là một xác quyết không cần phải bàn cãi”.
Câu hỏi được đặt ra. Tại sao trong thời điểm nầy TC mỗi ngày một trở nên hung hãn như thế, trong khi đó thì đương quyền CSVN đôi lúc cũng tỏ ra cứng cựa tỉ như khi tướng Phạm Văn Trà, Bộ Trưởng Quốc Phòng đã phát biểu tại Singapore vào 2/4/04 là Việt Nam sẵn sàng áp dụng biện pháp quân sự để bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ.
Trước các diễn biến phức tạp đó, giới phân tích quốc tế am hiểu nội tình Việt Nam nhận định rằng:
* Bắc Kinh cảm thấy Việt Nam mỗi ngày một ngả về phía Hoa Kỳ và Tây Phương trong chiều hướng muốn tìm cách tách dần khỏi ảnh hưởng của mình tỉ như:
a-) Việc trao đổi sinh viên học sinh Việt Nam với Hoa Kỳ và Tây phương mỗi ngày một tăng, đặc biệt ở các trường huấn luyện quân sự; thậm chí còn có tin đồn quân đội CSVN sẵn sàng tình nguyện làm “lính đánh thuê”cho Mỹ tại Iraq, trước là để “kiếm chút cháo” sau có thêm credit để chóng trở thành hội viên Không Thường Trực của Hội Ðồng Bảo An LHQ.
b-) Các chức quyền Việt Nam tỏ ra lơ là với “Thiên Triều”; trước đây, mội lần công du xuất ngoại đều phục mệnh và báo cáo khứ hồi cho Thiên triều, giờ đây đôi khi còn dám xấc xược quên báo cáo. Trường hợp Nguyễn Minh Triết từ Hoa Kỳ về mà chỉ cho đàn em thông báo là một trọng tội.
c-) Tình hình thăm do dầu khí trong khu vực phía Nam Trường Sa coi có vẻ “lạc quan” khiến Bắc Kinh phải chuẩn bị ra tay là vừa. Tuy nhiên Trung-Nam-Hải đang tính toán lại sự “Lợi & Hại” giữa hành động gây chiến hiện nay và Thế Vận Mùa Hè Năm 2008 sắp tới để quyết định. Vì thế, nên TC phải có hành động ngăn đe trấn áp ra oai, trước là để trắc nghiệm xem phản ứng của Hoa Kỳ, đồng thời kiểm soát lại thái độ của các nước trong khu vực Ðông Nam Á, xem ai là kẻ còn khuất phục mình.
* Về phía Ðảng CSVN muốn nhân cơ hội TC công khai hăm dọa để tung quả bóng thăm dò mà truyền thông quốc tế thường gọi là “Calibrate”, còn giới giang hồ lại sử dụng chữ “bấm tẩy” để thử xem mức độ áp lực của Bắc Kinh sẽ mạnh tới mực độ nào khi VC chủ động xáp lại gần Hoa Kỳ, đặc biệt khi Hà Nội cho Hoa Kỳ thuê các tiện nghi dùng để làm cơ sở “bảo quản” các tàu chiến Mỹ cần sữa chữa tại Johnson city.(tên một thành phố sẽ được VC xây cất trên cảng Cam Ranh), mặc khác thử trắc nghiệm xem mức độ cam kết của Hoa Kỳ và Tây Phương đối Việt Nam sẽ như thế nào trong trường hợp Bắc Kinh tỏ ra lấn lướt?
Theo giới quan sát thì Bắc Kinh tăng gia hù dọa cũng chỉ để “rung cây nhát khỉ” chứ chẳng chưa dám làm gì, cụ thể cứ xem họ đã nhiều phen hăm dọa Ðài Loan, từng hung hãn tuyên bố: “Nếu vụ tuyển cử tổng thống tại Ðài Loan còn lộn xộn thì họ sẽ đánh”, nhưng đến nay bầu cử dẵ xong lâu, thử hỏi đã có viên đạn nào rớt xuống quốc gia hải đảo nầy chưa?
Chúng ta thử chờ xem.
Phùng Ngọc Sa.